copyright (c) 1999 by respective authors
Internet Address: vnnp@tntt.org
Home Page: http://www.saigonline.com/vnnp/


Bộ 3, Số 84, Ngày 27 Tháng 04, 2000
Xuất bản định kỳ vào thứ tư hàng tuần



M Ụ C L Ụ C

THƯ NGOÛ .....................................................................1

THƠ TUYỂN ................................................................2

1 - Nhật Kyù -- Hoàng Xuân Sơn, 2
2 - Phượng Ðầu Mùa -- Võ Nguyễn Như Quỳnh, 3
3 - Hoàng Hôn Hoa, Hoàng Hôn Người -- Hoàng Lộc, 4
4 - Trói -- Phạm Ngọc, 5
5 - Dã Tràng -- Ðức Phổ, 6
6 - Bài Hành Cho Kịp Chuyến Bay -- Hoàng Ngọc Liên, 7
7 - Lận Ðận -- Thanh Sơn, 8
8 - Chân Cầu Nước Chẩy -- Phan Xuân Sinh, 9
9 - Bão Ðêm -- Cổ Ngư, 10
10- Một Ðọan Trong Chúc Thư -- Hoàng Chính, 11
11- Vụn Vỡ -- P.V. Ðà Nẵng, 12

VĂN / SÁNG TÁC..........................................................13

1 - Trích dẫn truyện kể năm 2000 của 
         Ðỗ Ngọc Tấn -- Hoàng Ngọc Liên ghi, 13
2 - Trích Tiên -- Tâm Thanh, 14

NHẮN TIN LIÊN MẠNG................................................15

LIÊN LẠC VÀ THỦ TỤC...............................................16


VNNP 1


T H Ư   N G Ỏ


Bạn thân mến,

Thấm thoát dã gần một phần tư thế kỷ kể từ
ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc chạy trốn vĩ đại
của lịch sử đã bắt đầu từ thời điểm đó.
Hầu hết đã phải chọn con đường vượt biển
bằng nghe, thuyền. Con số thuyền nhân đến
được các bờ biển tự do an toàn ước lượng
vào khỏang gần 2 triệu ngườị Hơn một nửa
triệu khác đã không bao giờ đạt được ước
mộng của họ. Họ đã bỏ mình trên biển cả.
Trong nước hàng trăm ngàn viên chức hành chánh,
hàng giáo phẩm của các tôn giáo, và các sĩ quan
của Việt Nam Cộng Hòa đã bị đưa đi "cải tạo".
Nhiều người trong số này đã ở tù cả hơn
15 năm. Gia đình và thân nhân của họ đã bị kỳ
thị, bị đẩy ra khỏi thành phố, đi lập nghiệp
tại các nơi hoang dã được gọi là "Vùng Kinh Tế
Mới". Việc này không những đã làm thiệt hại
nhiều ngàn sinh mạng mà còn để lại một thế
hệ với vết sẹo khó quên mà đưa đến tình
trạng bất ổn tinh thần.

Thấm thoát dã gần một phần tư thế kỷ kể từ
ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dân số Việt đã lên
đến gần 80 triệu ngưòị Với đân số ây,
Việt Nam là xứ lớn thứ nhìtại Ðông Nam Á và
đứng hàng thứ 13 trên thế giớị Nhưng tình
trạng kinh tế thì lại là một trong năm nước
nghèo nhất trên thế giới với lợi tức đầu
người chưa qúa 200 mỹ kim một năm.

Thấm thoát dã gần một phần tư thế kỷ kể
từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Xin bạn và BBT hãy
dâng lên vài giây tưởng niệm đến những người
đã nằm xuống, và cầu nguyện cho một Việt nam
sớm thoát ra khỏi sự tù đàỵ

Song Vinh/VNNP
song_vinh@hotmail.com

VNNP 2


T H Ơ   T U Y Ể N


Nhật Ký

Tôi chạy hoài chạy hủy
trên vùng trí tưởng tôi lạ kỳ
mang tôi chân đà điểu - trái tim ngựa hồng
đi tìm bóng dáng một mùa xuân
trôi mơ hồ dĩ vãng
khi đời sống rào khung định mệnh
Tự Do bị kết án tử hình
chỉ có một thứ hạnh ph'uc đổi đời chạy rông ngoài phố
có con người sớm mai hớp hớp vài ngụm tín điều tưởng
mình no vừa bụng đ'oi
kéo lê chân càng
có con người tối chiều ngáp ngáp thu không
giấc- ngủ- không - ngoài- cơn- ác- mộng
ngày hát lại điệp khúc tự trào
cười ra nước mắt
một vầng dương dập tắt hôm nào
khi chủ nghĩa nhuốm kinh thành đỏ ối !

Tôi thức dậy hụt hơi
cái gì vừa đâm một nhát trí mạng vào sự thật
phải rồi tôi đang nghe tiếng gào la dậy đường
âm thanh man rợ thời khuyết sử
phải rồi tôi đang bơi ngược dòng tim óc
những khuôn mặt dị hình nói cười nham nhở
một nỗi đau chưa kịp thành hình
đã cuốn đời đi hung bạo
tôi đứng, đi nhiều năm như thế
bằng hình hài một xác lá khô
cây nhựa xanh đòi đoạn
con đường thanh xuân ngỡ ngàng tai biến

dưới đám mây đen trùm phủ nặng nề
bầu trời quê hương thảm đạm

Không ai nói với tôi một lời thân mến
vẻ hoài nghi lạnh nhạt ngày mỗi lấn sâu
giữa con người không còn biên giới
khổ đau và hủy diệt
tôi thắc mắc cả tấm lòng trẻ thơ
khi quanh đây chỉ còn bóng đêm rình rập
bước chân ai về đường khuya trắc trở
có lẽ tôi đã trở thành một con người khác
con người với vẻ thuần thục bên ngoài
rao giảng chính mình niềm tin lẩn khuất
đâu đây trên vòm cây bóng lá
trên khuôn mặt tượng đồng
NIỀM TIN ẨN PHỤC .

Hoàng Xuân Sơn
hoangxuanson@hotmail.com


VNNP 3


Phượng Ðầu Muà

tháng năm về chớm hạ rồi đó anh
trong ký ức tiếng ve còn rộn rã
sân trường nở một vài bông phượng đỏ
hoa đầu muà anh hái tặng em chưa ?

tháng năm về bất chợt những cơn mưa
em ướt áo buổi chiều trên cư xá
hẹn hò đâu, hàng cây nghiêng gió lả
anh quên về, em khóc, dỗi hờn... mưa

bao lâu rồị anh hở đã quên chưa
xa biền biệt ai tính ngày đếm tháng
giờ tháng năm em cũng vàng như nắng
kỷ niệm về len lỏi đáy tâm tư

em vẫn còn lẩn thẩn như ngày xưa
trang nhật ký ép cành hoa, xác bướm
mười năm ơi hoa giờ phai má phượng
em vẫn còn màu thắm nhớ thương anh

tháng 4 '00
Võ Nguyễn Như Quỳnh
nhu_vo@rsideup.com


VNNP 4


Hoàng Hôn Hoa, Hoàng Hôn Người

em đi trong hoàng hôn thơm mùi dủ dẻ
hoa chỉ cho người hương lạ lúc hoàng hôn
anh cũng đã hoàng hôn nên tình yêu nồng nẫu thế
em được một lần cả hai thứ hương thơm

Gặp

ghềnh thác nào xưa đã khuất rồi
rộng dòng, sâu nước, lở bờ đôi
muối thêm lời mặn nồng cho sóng
em đứng chờ kia, biển của tôi

Hoàng Lộc
lhoang6951@aol.com


VNNP 5


Trói

Trói đời nhau bằng sợi dây oan nghiệt
Gỡ mãi rồi lại thấy rối răm thêm
Trừng mắt xích nhìn nhau tình khánh kiệt
Thôi ta về năm tháng sẽ lãng quên...

Phạm Ngọc
PhạmNgoc@hotmail.com


VNNP 6


Dã Tràng

hư thân
thì
đã hư rồi
sợ
hư, cái nết
người
cười, hở răng.

đêm
buồn, lẻ
chiếu
đơn chăn
vắt tim
tội, một chỗ nằm
rộng rinh.

bận lòng
chi
cõi phù sinh
cát
se, cuối bãi
đầu ghềnh. Phủi taỵ

duc pho
4, hai ngàn
ducpho@juno.com

 

VNNP 7


Bài Hành Cho Kịp Chuyến Bay

Thác nước đổ như ngàn xưa hồng thủy,
Ập xuống tàn hoang cả núi sông nàỵ
Muôn ngả rẽ, đường lên trời, xuống biển,
Dấu hành trang vương vãi khắp đâu đây!

Ðường lên trời trên mái nhà xô đẩy
Bao nhiêu người tìm kiếm một cơ maỵ
Thê thảm cả những nghĩa tình dứt đoạn
Ðã an lòng níu chặt chiếc thang giây!

Ðường xuống biển xếp khoang tàu chật ních,
Cả cơ đồ xếp lại một vòng xoay!
Tiếng sóng vỗ bờ xa, lui dần dĩ vãng,
Tiễn người ra đi, tâm sự vơi đầy!

Ðể lại một Sài Gòn hoàn toàn xa lạ,
Xa lạ phố phường, xa lạ trời mây!
Những khuôn mặt già đi, se lại,
Chấp nhận đổi đời, chờ đón chua cay!

Mắt ai vàng, rực lên màu cờ đỏ,
Sắt nghiến lòng đường, tê buốt bàn tay!
Khuôn mặt ai xanh lướt qua từng dãy phố,
Còn vương mùi ẩm mốc của rừng câỵ

Kẻ chiến bại sắp hàng đi tự thú,
"Cách Mạng khoan hồng" và "nghĩa nhân" thay!
Chỉ "học tập" cho thấm nhuần "chính sách",
"Cải tạo" ngắn ngày rồi được "về" ngay!

Người thua trận hẹn nhau "đăng ký"
Vào Long Giao, Suối Máu, Hà Tâỵ..!
Ðói, lạnh, ốm, đau, cực hình thống khổ,
Cho "kẻ thù giai cấp" trót... thơ ngây!

Xe "cải tiến" chở xác tù ra nghĩa địa,
Những bạn tù ngả nón xót xa thaỵ
Những món nợ, cả kẻ còn, người khuất,
Chẳng hiểu bao giờ mình đã từng vaỷ

Chỉ nợ áo cơm của Miền Nam phồn thịnh
Nên con dân vì Tổ Quốc dựng ngày .
Nay ngã xuống, cũng đền xong nợ nước,
Sớm nghỉ yên thoát cảnh đọa đày!

Trong tù ngục: "gài hạt nhân vào chúng nó"!
Ngoài nhân dân: Bông Hồng Ðỏ ra tay
Ðể bọn tù chết dần trong 'cải tạó
Vợ con chúng rồi lòng dạ cũng đổi thay"!
Giai cấp mới làm chủ nhân đất nước
Những sứ quân chiếm lĩnh đất đai nàỵ
Những thủ đoạn tinh vi, phá hoại
Phá phách tan hoang, thân thể Mẹ hao gầy!

Bọn giặc cướp hơn năm mươi năm tội ác
"Nước biển đông không rửa sạch máu dây,
Lá trên rừng không sao ghi lại đủ" (*)
Còn nắm độc quyền yêu nước trong tay!

Hai cuộc trường chinh núi xương, sông máu,
Ðấu tố dã man ruộng đất phơi bàỵ
Dân hóa bần cùng, nước nghèo mạt nhất!
Mà vẫn khoe "trí tuệ đỉnh cao" đây!

Nói "đổi mới" mà chủ trương "trói lại",
Vẫn một mình chuyên chính mãi xưa nay!
Mở cửa mời ngoại nhân, mời "Việt Kiều yêu nước",
Tâng bốc bên kia, bóp chẹt bên này!

Những thủ đoạn rõ ràng vô đạo,
Những con người phản bội vẫn mặt dầỵ
Những lý thuyết lỗi thời nhất tề phá sản
Mà cháu con cụ Mác vẫn cù nhây!

"Ba dòng thác" đã đi vào quên lãng,
Bốn đứa em (**) không chóng thì chầy
Cũng sẽ theo đàn anh sập tiệm
Sao còn chưa bám víu một cơ maỷ

Hãy trả lại Việt Nam cho Nước Tổ,
Trả người dân những món nợ đã từng vay,
Trả con người những quyền được sống
Dân chủ, Tự do, Hạnh phúc tràn đầỵ

Trả lẽ phải, công bằng, danh dự
Cho mấy triệu người chết chẳng toàn thây;
Trả lịch sử toàn chân cho lịch sử.
Hãy cúi đầu nhận tội ngút trời mây!

Hãy đền trả oan khiên những cuộc tình tan vỡ,
Những cơ đồ từng cướp giựt chẳng nương tay,
Những cái chết vô cùng tức tưởi
Ðã vùi thân nơi biển nước, chốn rừng cây!

Phải trả lại, bởi sẽ không còn kịp nữa,
Trời đất không tha, bão táp đến ngay,
Sẽ quét sạch những tanh hôi, rác rưởi
Ðể dọn đường cho cuộc sống mới mai nàỵ

Chúng ta sẽ cùng đồng bào trong nước
Bằng yêu thương, nỗ lực, tay trong tay
Chúng ta quyết sẵn sàng chuẩn bị
Cho Việt Nam huy hoàng, cho kịp chuyến bay!

Hoàng Ngọc Liên
hngocl@juno.com

* Theo Bình Ngô Ðại Cáọ
** Cuba, Bắc Hàn, Trung Cộng, VNCS.

VNNP 8


Lận Ðận

Lận đận vì nhau mấy năm rồi
Em còn nuối tiếc nữa hay thôi
Giờ đây hoa trắng rơi đầy ngõ
Em ở phương nào
Anh đơn côi
Mùa xuân chim én bầy thành nhóm
Che kín mặt trời kêu ríu ran
Là lúc anh buồn đi khắp xóm
Tìm em
Chỉ thấy nắng xuân tàn
Tình yêu cũng ví như canh bạc
Càng đánh càng thua khát nước hoài
Vắng em
Anh ngẩn ngơ đi lạc
Ôm hận sầu đau tính bước sai

THANH SON
dothanhvan@yahoo.com

VNNP 9


Chân Cầu Nước Chảy

con sông nầy xứ người
mà ta thấy hơi giống
bên kia bờ xa thẳm
ta cũng có bến sông
ngày em đi theo chồng
qua đò, ta đứng tiển
rồi bao ngày biền biệt
sông nước vẫn chảy hoài
mình ta bóng hình soi
giữa đời chao phận tủi

* *

ngó quanh đời túi bụi
lại gặp nhau bên nầy
em bây giờ khói mây
ta bây giờ cằn cỗi
sông chia thành hai lối
nhìn nhau chỉ ngậm ngùi
đời đã tàn cuộc vui
xứ người sông vẫn lạnh
vẫn muôn trùng xa cách
ta đầu, em cuối sông

cũng là những dòng sông
dưới chân cầu nước chảy

Phan Xuân Sinh
PXSinh@aol.com


VNNP 10


Bão Ðêm.

Những ngón tay mưa gõ xuống liên hồi,
Lá bối rối
Gọi gió thất thanh về rú dài ngoài cưả,
Cháy lưả, cháy lưả,
Chớp thắp sáng trời,
Sấm động ba hồi,
Mây toạc rách !
Em thắp ngọn nến hồng, mở ra trang sách,
Ôm vào lòng dòng lãng mạn,
Nhạc buồn trôi,
Lũ ốc sên nằm gối đầu lên bia mộ ướt
Nhớ chùm nho xuân thì sướt mướt khóc giữa đêm giông...

Cổ Ngư
CHATEAUROUX-NOHANT
28.07.1999


VNNP 11


Một Ðoạn Trong Chúc Thư

Mẹ nó! Sao mà ta lại khóc
làm sao ta cứ giả say hoài
ta oán, ta thù ta rất thật
trăm lần thập giá nặng đôi vai .

Mẹ nó! những ngày ta còn sống
rong chơi, tán gái, viết thư tình
đời có tình nhân, lầm vó+i mộng
ta thành mây trắng, hát lênh đênh .

Mẹ nó! "người ta" còn nhỏ quá
lỡ lời thôi, cũng giận nhau rồi
mẹ nó! yêu mà không dám ngỏ
để dành đêm mộng, nhắc riêng thôi .

Mẹ nó! Nụ hôn lần hẹn mãi
môi hồng, ăm ắp cái ngàn sau
Ôi đôi ấm khi hờn dỗi ...
Nhờ trời, năm tháng ... chắc quên mau!

Mẹ nó! Ta còn tin Thượng Ddế
Ta còn yêu những buổi tan trường
áo ai bay giữa trời sao rụng
Cắt rồi! mẹ nó, có đau không!

03 tháng 05, 1975
Hoàng Chính
chinh2@hotmail.com


VNNP 12


Vụn Vỡ

Ta muốn bóp tim ta thành giọt nước
tưới trên thảm cỏ lối người qua
chờ nắng rớt cháy tan thành mây mỏng
ướt vai người thành nỗi nhớ ngày mưa

ta muốn xiết tim ta từng nhịp thở
gởi cho người thổn thức của tình yêu
trong rung rẩy có niềm đau rươm rướm
kỷ niệm quên thành những phút mặn nồng

ta muốn trái tim ta thành giòng suối
chảy ra nguồn những giọt máu hồng tươi
tình yêu mãi là thênh thanh, lãng mạn
dù hồn thơ ta vụn vỡ bao lần

4/2000
P.V danang
van@trcesi.com

VNNP 13


SÁNG TÁC - GIỚI THIỆU


Trích dẫn "Chuyện Kể Năm 2000" của Ðỗ Ngọc Tấn
Hoàng Ngọc Liên ghi

CS luôn cho rằng các cựu chiến sĩ quốc gia, cựu tù nhân
chính trị đã viết về các trại "cải tạo" không trung thực,
cố tình xuyên tạc mọi sự kiện và nói xấu chế độ xã
hội "XHCN". Nhưng "Chuyện Kể Năm 2000 (CKN2000) là do một
cây bút trong hàng ngũ XHVN viết: Bùi Ngọc Tấn.
Xin trích dẫn sau đây một phần nhỏ trong cuốn sách xuât
bản tại VN và đã bị tịch thâu:

*
.... "Cũng như phần đông các trại "cải tạo" mà anh em
Chiến sĩ Quốc Gia (CSQG) QuânÐân-Chánh/VNCH từng trải qua, các
trại giam giữ tù nhân "tập trung cải tạo" của xã hội XHCN
cũng nặng mùi mà khi mở cửa buồng, không khí nồng nặc
tanh tưởi xông ra:
...Thấy tiếng chân ông Quân, tất cả xuống đất. Ca, ống
bương, biđdông, khăn mặt chở sẵn. Ông Quân mở toang hai
cánh cửa và rất nhanh nép sang một bên tránh cái mùi
người, cái mùi hôi hôi của hơi người, quần áo giày dép
chăn màn, nhà mét bị nhốt một đêm ào rạ Cái mùi đó,
những người ở trong nhà quen mũi không thấỵ Còn người
ngoài không ai chịu được. Nó nặng. Có trọng lượng. Nó
ùa ra như nước ùa khi cánh cửa đập mở. Nó nồng nặc cứ
thẳng cửa tràn ra sân. Có lẽ vì thế mà đất sân ở đó
đen sạm lại và tất cả những cây trẩu trồng đối diện
với các cửa buồng đều còi cọc lá bị cháy táp không
lớn được. Ðó là một loại không khí có áp suất lớn,
được cấu tạo khác hẳn với khí quyển của trái đất. Chả thế
có những hôm ông cán bộ khác mở cửa buồng thay ông
Quân, vừa mở tung cánh cửa, ông như bị đánh mạnh vào ngực,
giật mình lùi lại, nép vội vào một bên làm cho cả bọn
cười rộ lên....
Hắn -người tù mà Ðỗ Ngọc tấn kể, theo tôi cũng là tác
giả- bị bắt nhốt không bản án, thường được gọi là đi
"Tập Trung", không biết đến bao giờ, có người tù đến 25
năm. Vì vậy mà sau 5 năm tù, khi biết mình được tha:
... "Hắn bị bất ngờ. Ðúng. Hắn không ngờ hắn được
tự do, trong khi những người mười tám năm, hai mươi mốt
năm vẫn còn ở lạị Con số năm tháng ấy không gợi mấy
trong lòng hắn, nhưng đến khi nghe Phố nói:
- Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổị Năm nay vợ tôi 5l tuổi rồi...
Không thể lường được hậu quả của người tù 18 năm,
ảnh hưởng đến người vợ sâu đậm như thế nàọ Ngoài bà
vợ, các con, cả những người liên quan cũng hệ luỵ.
Người tù trải qua đoạn đường dài dặc:
... Ðoạn đường ấy thăm thẳm, ghê rợn, khủng khiếp vô
tận, mà nhĩng người ngoài cuộc không thể nào hiểu
được...."
... "Hiện thân của đau khổ ở Ngưyên Văn Phố nhỡn tiền
cũng làm hắn hoảng. Nhưng đến khi đau khổ mười tám năm
tù hoá thân thành một người phụ nữ thì hắn rợn ngườị
Ôi! Ðời một con ngườị Tuổi ba mươi đang là tuổi chín
nhất của người phụ nữ. Tuổi của chăm sóc và đòi hỏi
chăm sóc. Tuổi của yêu đương và đòi hỏi yêu đương.
Hắn rỏ những giọt nước mắt trong lòng khóc thương người phụ
nữ Hà Nội 5l tuổi mà hắn chưa biết mặt. Hắn rỏ những
giọt nước mắt trong lòng khóc thương vợ hắn đang đang
ở tuổi chín ấy, phải goá sống, phải vật lộn, đè bẹp,
giết chết lòng mình, giết chết tuổi trẻ, giết chết
những đòi hỏi yêu đương, sống trong cô đơn và nhục nhã.
Hắn bị bất ngờ vì nó đã đến, tuy vẫn chờ đợi nó,
đồng thời hắn lại nghĩ rằng nó đã đến quá muộn.
Phải, nó đã đến quá muộn. Hắn có tội gì mà phải ở
đến năm năm.?..."
Hắn nhớ lại ngày mình bị bắt:
... "Hắn giật mình thấy tất cả những người khách không
mời mà đến đi cả dép bẩn xồng xộc vào nhà, những
chiếc déo lốp in vết đất rõ như đóng dấu ngang dọc
trên sàn gỗ bóng thẫm. Hình như đến lúc ấy hắn mới thực
sự hiểu rằng hắn không còn là hắn nữạ Họ nghiêm giọng
bảo hắn:
- Anh đứng nghe chúng tôi đọc lệnh:
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
ÐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
--***--
LỆNH TẠM GIAM
Hắn chỉ nhớ lệnh nói hắn bị bắt bốn tháng vì tội
"tuyên truyền phản cách mạng".
Rất thông thạo, mấy người kéo mạnh cái hòm gỗ thông, cúi
xuống vứt ra từng cuốn sách. Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân,
Gót sắt, Hugọ Chiến tranh và hòa bình. Những quyền sách
hắn nâng niu như sau này những thủy thủ tàu buôn nâng niu
tấm hộ chiếu xuống tàu đi Nhật. Ðó là gia tài của hắn.
Là hành trang để hắn đi đến tương laị
Hắn chắt chiu dành dụm. Bóp mồm bóp miệng để muạ Hắn
thó ở tủ sách cơ quan hắn, tủ sách các cơ quan khác. Hắn
nửa đùa nửa thật: "Ăn cắp sách mà cũng gọi là ăn cắp
à? Ăn cáp sách thì cũng phải biết đọc chứ? ". .
Biết làm saọ Ma lực của những quyển sách mình yêu, thế
nào cũng phải có, mà không thể trích ra một khoản tiền
để mua.ï Tháng nào cũng căng. Tháng nào cũng hụt. Chuông
nguyện hồn aị Phía Tây không có gì lạ. Sông Ðông êm
đềm. Chuyện núi đồi và thảo nguyên. Pauxtôpxkị Quăng ra
với một thái độ khinh bỉ và ghê tởm vì đó là nguyên
nhân tội ác. Hơn thế. Còn dính líu tới tội ác, khuyến
khích, bao che - hiểu theo cả nghĩa đen - cho tội ác.
Bừa bãị Bụi bặm. Tung tóẹ Ðổ vỡ. Tan nát. Ðó là những
gì lúc đó hắn nhìn thấy, nhưng phải đến mãi sau này hắn
mới hiểu rằng đó chỉ là bước khởi đầu.
Họ không chú ý tới sách in mà bới móc, tìm kiếm, nhặt
nhạnh tất cả những giấy tờ có chữ viết của hắn.
Những tập bản thảo của hắn. Bản đã đánh máy, bản viết
taỵ Toàn giấy pơ-luyạ Hắn có thói quen viết bằng giấy
pơ-luyạ Chữ hắn nhỏ lí tị Bao nhiêu chữ mới được một
trang pơ-luya mỏng dính. Nhưng nhiều trang pơ-luya xếp lại sẽ
thành một chiều dàỵ Chiều dày ấy động viên lại hắn..
Hắn bị hỏi cung, bị thẩm vấn, bị buộc tội, bị "tập trung
cải tạo", bị đẩy vào vòng đấu không cân sức mỗi khi
người ta lôi hắn ra hạch hỏi:
... Hắn hiểu rằng hắn đã bị đẩy vào vòng đấụ Trong
đấu trường chỉ có một mình hắn. Vợ con, bố mẹ, anh em,
bạn bè, không ai bên cạnh. Một mình hắn đã bị tước vũ
khí. Hắn không chỉ đấu với ông Lan, ông Quảng, ông Trần.
Hắn còn đấu với cả những dãy xà lim nặng nề hoang vắng
76, một mình hắn ở. Hắn đấu với sự cố tình bẻ queo
luật pháp, bẻ queo sự thật của những người đạo đức
chẳng hơn hắn, yêu nước chắc chắn không hơn hắn..."
Tội danh của hắn là "Tuyên Truyền Phản Cách Mạng":
..."Tuyên truyền phản cách mạng" tội danh của Phương cũng
là tội danh của hắn. Ðiều đó có nghĩa là gì? Ðiều đó
chỉ có thể là Phương đã nhìn thấy và báo động về những
cái xấu xa đang mọc lên trên lưng chế độ như nạn móc
ngoặc đang hình thành và bắt rễ trong các ngành mậu dịch.
Nạn cửa quyền trong các cơ quan tiếp xúc với dân. Bệnh
thành tích, hình thức, điêu dối trong báo cáo và cuộc
sống. Chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần đã làm
thiệt hại bao nhiêu đến sự nghiệp chung v. v... Phương đã
nhìn thấy những gì trái với bản chất xã hội chủ nghĩa,
muốn lên tiếng bảo vệ những lý tưởng của cách mạng. Vì
cách mạng. Vì cách mạng là xương máu của bao thế hệ. Vì
mình là người tâm huyết, một lòng theo cách mạng. Là sự
nhìn nhận cuộc sống đúng với hiện thực, không phải chỉ
một màu hồng. Là lòng mình yêu thiết tha nhân dân này,
đất nước này, Là chống lại sự bất công mới đã có và
đang có như một thứ nấm mốc lây lan. Ðể cuộc sống
tốt đẹp hơn. Sự nghiệp tốt đẹp hơn đúng với mục tiêu
của nó.
Và như vậy là nhìn đời đen tốị Là bất mãn. Là chống
đốị Là vào rừng chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng.
Chẳng lẽ mình không có quyền suy nghĩ, không có quyền nói
lên, không có quyền tỏ thái độ? Chẳng lẽ mình không còn
có quyền yêu nước. Chẳng lẽ lòng yêu nước cũng bị độc
quyền? Không. Có thể độc quyền xuất khẩu, độc quyền
nhập khẩu, độc quyền sản xuất muối, nhưng không thể
độc quyền yêu nước!..."
Hắn bị buộc những gì trong tội danh "tuyên triền phản cách
mạng"? Người ta không cần phải giải thích dài dòng, không
cần thuyết phục hắn nhận là mình có tộị Thời gian! Kéo
dài thời gian hắn ở trong tù là cách trừng phạt hắn vì
không thành khẩn khai báo và nhận tộị Những kẻ được
"tổ chức" chỉ định thẩm vấn hắn. Những ông Lan, ông
Thanh Vân... đều là những kẻ không trung thực, luôn "gắp
lửa bỏ tay người"! Có thể nói các ông này không hiểu
biết gì về điều mà các ông dẫn chứng. Các ông tự tố
cáo không phải trên chân hắn, hắn khinh các ông:
..."Biết nói gì với ông Thanh Vân. Ông có biết Nhân văn
Giai phẩm" là gì không. Hay ông chỉ nghe nói đến như một
tên tội chung cho tất cả những người làm vàn nghệ. Hẳn
ông xuất thân từ một gia đình cốt cán ở nông thôn,
được số phận nuông chiều, khi bé chăn trâu cắt cỏ.
Lớn lên đi học, rồi đi công tác thoát ly, vào đây làm quản
giáọ Ðến bây giờ hắn mới thấy ỏng còn trẻ quá. ông
chỉ mười tám, mười chín tuổi ..."
và:
... "Vốn là người sách vở, hắn nghĩ: Hắn đúng, hắn
không sợ. Hắn thấy ngón đòn của ông. Lan ngây thơ quá.
Ông trở thành thế yếu (dù ông đang nhốt hắn trong xà
lim, dù ông thông minh, có cả tập thể hỗ trợ). Vì ông không
khách quan trung thực.
Hắn khinh ông, hắn khinh tất cả những người không trung
thực. Những kẻ gắp lửa bỏ tay ngườị ...."
.... "Trong một buổi hỏi cung sau này, hắn đã buộc lòng
phải giảng giải cho ông chấp pháp để đáp lại lời buộc
tội của ông là hắn bất mãn, chán không muốn viết, muốn
bẻ bút.
- Thưa ông. Hơn một nghìn trang pơ-luya nếu in ra sẽ thành
một nghìn năm trăm trang, nghĩa là dày bằng bộ Tam Quốc.
Hãy cứ cho là tôi chỉ nháp có một lần và chép sạch một
lần thì tôi đã viết ba nghìn trang. Mà phần lớn tôi viết
về đêm, ngày lễ, ngày chủ nhật. Nếu chỉ viết Việt Nam
Dân Chủ Cộng hòa, Ðộc lập Tự do Hạnh phúc ngoài giờ
chính quyền được ba nghìn trang cũng là một sức lao
động không nhỏ. Ðó là chưa kể còn phải lấy tài liệu, sống
với nhân vật, suy nghĩ, sắp xếp... Nhưng giờ đây những
tập bản thảo ấy chỉ là những tờ giấy vô hồn. Làm gì
có văn chương, cuộc sống, tiếng cười, tình yêu, mặt
trời, biển cả. Những tờ giấy ấy chỉ đơn giản là tang
vật của vụ án. Như một bộ quần áo ăn cắp, như một
cái chìa khóa vạn năng có thể phá mọi ổ khóa, như một đống
tài liệu phong phú để lật tẩy bộ mặt thật tội lỗi
của hắn. Hẳn ông Lan tin chắc rằng sẽ tìm thấy những
câu, những chữ, những ý nào đấy chứng tỏ hắn là kẻ
xỏ xiên, bất mãn, căm ghét chế độ. ..."
Rất nhiều điều tố cáo "xã hội ưu việt" đã đối xử
tàn tệ với công dân trong lòng ""cách mạng", từng tham gia
kháng chiến, thành phần trong gia đình có công với cách
mạng, từng đóng góp tích cực cho "cách mạng". "Hắn" bị
giam 5 năm. Suốt thời gian dài dặc ấy, hắn là nhân chứng xác
thực tố cáo chế độ XHCN hủy diệt con người, diệt
chủng, hạ con người xuống hàng súc vật. Ra tù, hắn phải
nói dối, phải giảm bớt những chuyện dã man, và không nói
đến những chuyện khủng khiếp nhất trong những nơi mà CS
vẫn gọi là để "cải tạo" người lầm lỗi trở thành công
dân tốt:
... "Hắn nói chuyện tù. Bố mẹ Phương và ba người bạn
nhìn hắn như nhìn một người được cấu tạo bằng một
chất liệu khác, như nhìn một người từ vùng đất bí
mật nào đến, như hán là của mặt trăng rơi xuống. Hắn
đã phải nói dối nhiều chuyện. Hay nói đúng hơn, hắn
không kể những điều khủng khiếp nhất trong tù. "Họ không
đánh chúng con đâu" "Ăn thì đói lắm. Nhưng giam cứu thì
không đói mấy đâu". Nói thế là nói sự thật, nhưng nói
sự thật kiểu ấy lại chính là nói dốị...
Về các chuyện trong tù của các thành phần bị "tập trung":
lao động khổ sai, ngược đãi, nuôi ăn, ăng ten, nhất là
cái đói kinh khủng... cũng hao hao như các chuyện xảy ra
trong các "trại cải tạo" giam giữ các chiến sĩ quốc gia
quânđân-chánh VNCH. Có điều nó tinh vi hơn vì tù nhân của
chế độ đã thừa hiểu những đòn phép, sự lọc lừa ngay
từ bên ngoài xã hội, trước khi họ bị đào thải, như
những vỏ chanh đã vắt hết nước. Khi bị chuyển ra tù tại
Miền Bắc, tù nhân chính trị Miền Nam còn nhiều bỡ ngỡ,
có người còn ngây thơ ốnhư kẻ viết bài này- tin vào
lời nói của công an coi tù. Nhưng tù nhân của xã hội Miền Bắc
không còn lạ gì thủ đoạn lọc lừa, xảo trá của những kẻ
có quyền. Xin kể một trong những chuyện ngây thơ của kẻ
viết bài này:
"Có lần tôi cầm xâu chuỗi củ "bách bộ" thư củ giống như
cà rốt nhưng màu trắng, đi qua nhà một bà Mường. Bà hỏi:
- Ông lấy củ này về làm gì?
- Thưa, về nấu nước uống cho đỡ nhức đầu, dễ ngủ!
- Ai bảo với ông thế?
- Thưa, cán bộ!
- Ðừng tin cán bộ! Uống cái này không được đâu! Vất
ngay đi! Ông phải nhớ là vào rừng thấy quả gì chín đỏ
cũng đừng ăn. Quả ăn được thì chim nó đã ăn hết. Quả
chim không ăn thì người đừng ăn!"
Trong chuyện kể năm 2000, cũng có những thương cảm của dân
chúng dành cho tù nhận mới được thả, y hệt trong Nam.
"Nhân Dân" dù ở miền nào cũng đứng về phía những
người bị "cách mạng" hãm hại!
Người tù được tha về như hắn, còn bị "tổ chức" chặn
hết đường sống, bịt kín các lối đi. 
Hắn cũng ngây thơ tin tưởng vào lời hứa của lãnh đạo,
khi xin được có việc làm để giúp đỡ vợ con trong cảnh
túng quẫn thê thảm. Nhưng lãnh đạo long trọng hứa mà cấp
thừa hành lại được chỉ thị làm trái lai. Chuyện như
đùa, chỉ trong xã hội "ưu việt" mới có:
... "Ông Trần ngả lưng vào xa-lông, nhìn hắn cười thoả mãn
như một người lâu quá không được gặp hắn và vẫn mong
gặp hắn như cái kiểu "bấy lâu vắng mặt khát khao". Ông
hỏi hắn thân mật như hỏi một cán bộ dưới quyền mà ông
hiểu từ chân tơ, kẽ tóc:
- Thế nàỏ Thắc mắc lắm phải không?
Rõ ràng ông biết hết ruột gan hắn. Ðã bao năm rồi hắn
chưa được một ông công an nào hỏi một câu như vậỵ
Với giọng điệu cởi mở thông cảm như vậỵ
Hắn cố nặn ra một nụ cười tươi tỉnh và khiêm tốn:
- Thưa anh, tôi như một đứa con bị bố mẹ đánh. Cảm thấy
bị đánh oan, rất mong có dịp thưa lại cùng bố mẹ.
Câu trả lời ấy làm vừa lòng ông Trần. Hắn chờ câu nói
tiếp theo của ông để đoán biết ông định giải quyết cho
hắn vấn đề gì.
- Chúng tôi đã nhận được đơn của anh. Tôi nghĩ bây giờ
trước hết phải lo việc làm cho anh đã. Có đúng thế không?
"Thế là ông khoanh lại vấn đề ấy: Việc làm! "
Hắn hiểu và tin chắc như vậỵ Việc làm. Nhưng là việc
gì chứ? Bảo hắn đi quai búa hay đi phụ nề?
Hắn nghĩ tới những công việc khổ sai hắn đã trảị Phải
nói rõ. Không thể chung chung được.
- Thưa anh. Tôi bị thiệt thòi nhiềụ Chẳng riêng tôị Vợ
tôi được cơ quan cử đi học đại học, đang học thì bị Sở
Công an gọi về làm phụ kho trong khi bạn bè vợ tôi đều
đỗ đại học và...
Ông Trần bật ngồi thẳng lên, ông ngắt lời hắn:
- Ai ?  Ai ? Sao lại gọi chị ấy về?
Giọng ông ngạc nhiên, sửng sốt. Thật bất ngờ với hắn.
Hắn vẫn tưởng chính ông Trần quyết định việc ấy Và
lần đầu tiên hắn thấy đồng tử của ông co lại thành
hình bầu dục dựng đứng giữa con mắt nhỏ. Ông nghiêm
khắc nhìn ông Quảng như muốn hỏi: "Sao lại có chuyện ấỷ
Sao tôi không biết gì cả? Ai cho phép các anh làm như vậỷ"
Ông Quảng với vẻ nhẫn nhục cao cả của một người làm
điều thiện, nhưng buộc phải mang cái vỏ độc ác mà
người ta dễ hiểu lầm, nhìn ông Trần với vẻ biết lỗi:
- "Báo cáo anh, dạo ấy anh Tuấn đang ở trong trạị Phải
đưa chị ấy về vì các cháu không ai chăm sóc. Cả bốn cháu còn
quá nhỏ."
là sự dối trá trắng trợn nhất với hắn. Sự đê tiện
đến vậy là giớí hạn, là tận cùng. Hắn uất ức nhìn
ông Quảng, cái nhìn ngây ngô như một con vật bị giết
trước lúc chết. Nghĩa là hắn nhìn ông mà chẳng nhìn
thấy gì. Hắn nhìn ông ma còn cố nén, cố giữ cho mạch
máu khỏi vỡ toác rạ Ông Trần khinh khỉnh nhìn ông Quảng, cái
nhìn chứa đựng dông bão, làm vơi Sự tiêu diệt cuộc
đời vợ hắn đã được người ta giải thích như vậỵ
Hắn căm thù và ghê tởm nhất sự dối trá mà đây lại đi
rất nhiều bóng tối trong lòng hắn. Hắn tin rằng khi hắn
về, ông Trần sẽ trút lôi đình và ông Quảng sẽ lãnh đủ,
sẽ hiểu thế nào là những hành động vô nguyên tắc, tư
thù cá nhân, phá hoại chính sách của Ðảng. Hắn nói mà
chính hắn cũng ngạc nhiên ở giọng điệu bình tĩnh của
mình:
- Báo cáo anh đấy là sự đau khổ lớn thứ hai của chúng
tôị Về chuyện các cháu, chúng tôi đã thu xếp cho chúng
về ở với bố mẹ tôị Vợ tôi rất quyết tám khắc phục
mọi khó khăn để học đại học.
Ông Trần trầm ngâm, tư lự. Rõ ràng ông đang gánh nỗi
đau khổ của hắn. Như được ông khuyến khích, hắn nói tiếp:
- Bạn học của vợ tôi học xong đều là kỹ sư, trưởng phó
phòng. Có người còn là chủ nhiệm. Vợ tôi về Công ty làm
phụ kho.  Tôi nói vậy để báo cáo với anh là chẳng cứ tôi
bị thiệt thòi mà cả vợ tôị Mong anh thông cảm với hoàn
cảnh của tôi, cho tôi làm một việc gì đó hợp với khả
năng và sức khoẻ của tôi, để tôi có thể có thu nhập.
Lời xin thật khiêm tốn, thiết thạ Ông Trần như chỉ mong
hắn đề nghị điều gì đó để ông giúp hắn vợi bớt
được khổ đaụ Ông sốt sắng có pha chút long trọng để
hắn hiểu ràng đây là những lời nói chính thống hắn có
thể hoàn toàn tin tưởng:
- Tôi hôm nay nhân danh lãnh đạo thành phố, giám đôc Công
an nói với anh rằng: Anh sẽ được làm một việc phù hợp
với khả năng để từ đó có thu nhập.
ôi! Thật tuyệt vời! Ông Trần thương hắn. Dù sao ông
cũng biết hắn đau khổ nhiều, mà hắn lại là em một người
cùng cấp uỷ với ông, là con một gia đình cách mạng. Chưa
một người công an nào nói với hắn như vậỵ Người ta
toàn răn đe hoặc nói như đánh đố.
Trong không khí cởi mở ấy, hắn dấn thêm một bước, cụ
thể hơn:
- Thưa anh, tôi có thể làm thi đua được không ạ?
Hắn nói vậy vì hắn nhớ đến ông Hoàng. Ông Trần nhướn 
cặp mắt nhỏ lúc đó trông rất nhân từ bao dung và lấp lánh:
- Ðược chứ. Sao lại không. Thay mặt lãnh đạo thành phố
tôi nói với anh là anh được làm thi đuạ Thay mặt lãnh
đạo thành phố tôi nói: các con anh được vào đại học. Anh
hoàn toàn yên tâm.
Ðó chính là điều hắn định sẽ hỏi ông. Là một nội dung
cốt yếu hắn muốn được nói cùng ông. Hắn biết hắn
đã gây đau khổ cho con cáị Cái lý lịch đi tù, phản cách
mạng của hắn là một gia tài ghê gớm mà chúng nó sẽ thừa
kế. Con địa chủ, con tư sản không được vào đại học. Ðã
hẳn. Ngay nông dân lao động không vào hợp tác xã, con cái
dù học giỏi đến mấy cũng không được vào đại học. Nói
gì đến con một thằng. phản động hiện hành. Hắn còn
đang lựa lời tìm cách nói với ông chuyện con cái thì ông
đã chủ động nói trước. Ông Trần quả đã nhìn thấu tim
gan hắn. Hắn nhìn ông, cái nhìn kính trọng, biết ơn. Hẳn
ông Trần đã hiểu lời nói của đôi mắt hắn, ông hỏi hắn:
- Thế, được chưả..."

Lãnh Ðạo Thành Phố, Giám Ðốc Công An mà hứa, chắc hơn
định đóng cột. Phen này hẳn nhiên hắn có việc làm, có
thu nhập để giúp đỡ vợ con. Nhưng nói vậy mà không phải
vậy! Thượng cấp phán rằng hắn được đi làm, nhưng hạ
cấp thừa hành lại phán ngược lại:
... Ông Khuổng chuyển giọng:
- Hôm nay chúng tôi mời anh ra đây để thông báo với anh
một việc.
Ðó là giọng nói của nhà đơng cục. Ông lạnh lùng nhìn hắn:
- Chúng tôi đã quyết định: Anh không được đi làm.
Hắn choáng váng. Lúc đó hắn choáng váng.
Nhng sau này nghĩ lại hắn lại thấy đó là những lời thành
thật, dễ nghẹ Hắn vẫn thường ao ước đợc nghe một câu
nói thẳng thắn của các ông công an:
"Tao giết mày đâỵ Tao đang giết mày". Thế là gọi sự
việc bằng tên của nó. Là sự thẳng thắn, thành thật.
Không giả dối, không đạo đức giả. Dù sao cũng dễ chịu
hơn nhịều so với giọng điệu bi thuơng: "Chúng tôi giúp dỡ
anh, cảnh tỉnh anh, để anh khỏi trợt sâu vào con đường
tội lỗi". "Chúng tôi để chị Tuấn về không học nữa vì
các cháu còn bé, không ai bảo đảm".
Hắn ngồi lặng đi.
Ðã nghĩ rằng việc gì cũng có thể xảy đến với mình mà
vẫn cứ lặng đị Những việc tốt đẹp thế làm sao lại có
đợc. Bây giờ mới thật không ngạc nhiên về bất cứ vấn
đề gì nữạ
- Thưa thiếu tá, anh Trần thay mặt lãnh đạo thành phố,
thay
mặt Sở Công an đã nói với tôi là tôi được đi làm ở
cơ quan nhà nước, được làm những việc phù hợp với
khả năng...
Hắn nói và đau khổ nghĩ rằng: Lẽ ra trong buổi gặp ông
Trần hắn phải viết ngay vào một tờ giấy nội dung quan
trọng ấy và xin ông Trần ký ngay vào đó. Dù như vậy có
lố bịch đi chăng nữa, có biểu hiện thiếu lòng tin đi
chăng nữa, bất lịch sự chăng nữạ Ông Khuổng không che
giấu sự giễu cợt:
- Ðiều ấy anh đi mà hỏi anh Trần nhé. Còn tôi nói: Anh!
Không! Ðược! Ði! Làm!
Ông nói dằn từng tiếng, để nhấn mạnh tính xác thực,
trọng lượng của quyết định, giống cách nói của A Thềnh:
Tôi! Không! Lậm!Cậm! Ðâu! ông còn bồi thêm một đòn
nữạ Hình như ông đoán đợc hắn đang nghĩ gì.
- Tôi đã chỉ thị cho tiểu khu rồị Tiểu khu không được
ký giấy cho anh đi làm.
Ðúng là lúc ấy hắn đang nghĩ đến ông Hoàng. Ông Khuổng
không cho hắn đi làm, ông Thưởng chịu bó tay, nhng ông Hoàng
thì chẳng đời nàọ Ông Khuổng là ai, hẳn ông Hoàng không
biết tới sự tồn tại của ông. Hắn nghĩ là hắn vẫn
đợc đi làm, bất chấp ông Khuổng không cho hắn đị Nhng
điều ông Khuổng vừa nói làm hắn hoảng sợ. Ðúng là hắn
phải chịu ông. Ông Hoàng cũng phải thua ông. Tiểu khu không
xác nhận, không ký vào đơn, phòng lao động không thể nào
cấp giấy cho hắn được. Một đòn chết tươi, không thể
chống đỡ. Cái gót chân Asin mà các ông ấy đã nghiền
ngắm rất kỹ. Hắn chỉ còn một con đờng: Chết trong khi
sống...."
*
* *
Ðến khi gặp người thân chỉ ra cho, hắn mới sáng mắt,
biết rõ là, lãnh đạo nói vậy mà không phải vậy! Ông
Trần hứa cho hắn đi làm, nhưng chính ông lại dặn thuộc
cấp không cho:
... "Hắn không thể chấp nhận điều ấỵ Hắn tìm gặp ông
Trần, nhng sao gặp được ông. Hắn vẫn tin rằng nếu gặp
được ông Trần, mọi sự sẽ được giải quyết. Hắn bảo
với những ngời thân:.
- Chính ông Trần đã đồng ý cho tôi đi làm mà ông Khuổng
lại bảo thế.
Nhng anh Thân lắc đầu:
- Ông Trần nói vậy thôị Việc này là do chính ông Trần.
Hắn ngớ ra:
- Saỏ Anh bảo gì?
Anh Thân căm phẫn:
- Bố thằng Khuổng sống lại cũng không dám làm trái ý ông
Trần.
- Nghĩa là...
- Nghĩa là ông Trần nói với chú thế thôi, sau đó ông
Trần chỉ thị cho thằng Khuổng những việc ngược lại để
nó làm với chú.
Hắn cố bám vào một dẫn chứng khác:
- Cũng có thể chỉ là bọn trung gian. Như nhà em đang đi học
bị bọn Quảng, Lan gọi về dấy, ông Trần có biết đâu.   Em
nói, ông ấy cứ ngớ rạ
Anh Thân càng căm phẫn hơn:
- Cũng là ông Trần hết. Không có lệnh ông Trần, thằng
Quảng sao dám tự tiện gọi thím ấy về. Bố bảo!
Lúc bấy giờ hắn chưa tin ngay lời anh Thân. Hắn chỉ ngờ
ngợ thôị Nhưng khi bình tĩnh lại, hắn suy xét và thấy anh
Thân đúng. Nhất là sau này khi ông Bượng đã về hưu, ông
nói với hắn hết. Ðúng là mọi điều đều ở ông Trần.
Sao ông ác thế? Hắn không hiểu nổị Ác và xảo quyệt.
Hắn chưa từng gặp một người như ông.
Nhng vậy sao ông lại gặp hắn, hứa hẹn với hắn?
Hắn suy nghĩ và thử đi tìm nguyên nhân. Tại ông Hoàng, nên
ông Trần phải làm động tác giả ấỵ Cũng có thể đơn
giản là ông muốn gặp hắn, nhìn con người đã bị ông hại,
nhìn cái xác chết còn muốn gượng gạo ngồi dậỵ Cũng có
thể ông muốn tạo một dư luận tốt về mình trong thành
phố, chuẩn bị cho kỳ đại hội Ðảng tớị Ông thâm hiểm
thế, nào ai biết được vì sao ông gặp hắn. Chỉ có điều
chắc chắn là ông Khuổng không thù oán gì hắn chẳng bao
giờ lại làm một việc ngu ngốc là chống lại ông Trần,
chống lại lãnh đạo thành phố. Ðiều ấy rõ ràng như ông
Khuổng không là một người điên vậỵ
Ðúng như hắn dự đoán. Ông Trần lên như diềụ Từ giám
đốc Sở Công an ông lên làm bí thư thành uỷ. Rồi ông lên
trung ương, làm thứ trởng. Ông đi thăm các báọ Ảnh ông in
trên trang nhất, ngay dưới măng-sét. Hắn hiểu đời hắn
không còn chút hy vọng gì nữạ Và hắn buồn rầu nghĩ:
Những người nh ông Trần mà được tín nhiệm như vậy thì
chẳng riêng gì đời hắn, đời bao người khác cũng không
hy vọng nhiều nhặn gì đâụ..
... Thế là hắn đã bị bịt kín mọi lốị.."

Tôi nghĩ trích dẫn như trên đã tạm đủ. Mong sẽ giúp bạn
đọc, những vị không có thì giờ đọc từng trang "CKN2000",
hiểu được phần nào chuyện người tù trong xã hội "XHCN".
Chính những dòng chữ viết của tù nhân XHCN tố cáo sự vi
phạm quyền sống của con người, còn chi tiết hơn những
điều mà các cựu tù nhân chính trị VNCH viết về các trại
"cải tạo".

Hoàng Ngọc Liên
(Tháng 3 năm 2000)

VNNP 14


Trích tiên
------------
Tâm Thanh

Căn cứ không quân Banak trong một ngày hè uể
oải. Dưới nắng chói chang, đường bay trải dài
loang loáng như có ai khéo tạt một vũng nước
vuông vức ra tận vịnh Porsangen. Ba dãy trại sơn
trắng, ghép thành hì nh chữ U nằm buồn như chợ
chiều. Cái hăng-ga khổng lồ đóng cửa im ỉm.
Tôi ngồi 'gác kiểng' trên đài quan sát, mường
tượng cảnh những chiếc máy bay F-16, F-5 tấp
nập lên xuống hồi Nato còn đóng ở đây. Bây
giờ chỉ còn đàn hải âu lười biếng lượn
trên bầu trời trong. Giá tôi có thể thả cho
đời trôi như thế. Tiếng chuông điện thoại
reo. Tôi hấp tấp bắt máy:

- Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

- Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt
Nam, đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một
chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn
giúp họ không?

Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

- Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

- 'Muốn chứ' -ông thiếu tá có tật nhái lời,
lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị,
rồi tiếp- Nửa giờ nữa có người lên gác
thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực
thăng tới đón.

Bỏ điện thoại xuống, tôi mới bắt đầu tự
hỏi: tại sao lại có người Việt nào lạc loài
lên miền địa đầu giới tuyến này? Tưởng
chỉ có mình tôi điên. Chắc là một du khách
người Việt đi coi mặt trời đêm, quên đường
về? Hay là một người từ Nga nhảy rào xin tịn
nạn chính trị? Ôi! Nếu là một vụ tị nạn thì
thật hấp dẫn. Tôi nhìn cây kim đồng hồ treo
dưới chân dung quốc vương Harald và hoàng hậu
Sonja nhích đi chậm chạp.

Tôi thay đồ dân sự xong lên trình diện. Ông
thiếu tá thấy vẻ hăng hái khác thường của
tôi, tò mò hỏi:

- Tại sao anh -tay tổ làm biếng- lại sáng mắt
lên nhận việc này?

- Lâu quá tôi không được gặp người đồng
hương.

Vâng, tôi đang phục vụ ở một nơi hẻo lánh cỡ
như Lạng Sơn của Việt Nam, nhưng trong vòng 1000
cây số hình như chỉ có một người Việt. Và
lý do tôi vận động đi quân dịch, mặc dầu đã
quá tuổi ba ('t buộc, là vì sau khi ra trường,
tôi xin việc mấy chục chỗ không được, đâm
buồn chán, trống rỗng, muốn đi thật xa một
phen. Hơi quá xa.

Từ bãi trực thăng đi vào phố chỉ chừng 2 km.
Tana là một xã nhỏ cực bắc của Na-uy, giáp
giới Phần-lan, và là một trong những con đường
chính từ Nga sang. Từ vài năm nay, mùa hè ở
đây tràn ngập du khác h, nhiều nhất là người
Nga và Phần-lan. Người địa phương, phần đông
là thổ dân Same, nghe nói cũng giòng giống
Mông-cổ, nhưng so với dân Viking, không gần gũi
với tôi gì hơn. Xe chở tôi chạy qua một khu
chợ trời náo nhiệt. Sau ngày Liên bang Xô-viết
sụp đổ, người Nga tuồn cả núi quân nhu, quân
cụ ra bán. Nào là 'mũ nơm gà' Hồng quân Liên
xô, huân chương, áo giáp, ống dòm, la bàn, nào
là quần áo nhà bin h, tượng Lê-nin, Xít-ta-lin,
bao cao-su ... được bày la liệt trên lề
đường, như một cuộc chiến vừa tàn. Ở vài
góc đường, những cô gái Nga -rất dễ phân
biệt với gái Na-uy nhờ nét mặt thanh tú, thân
người thon nhỏ- ăn mặc phong phanh, mời mọc. Có
lẽ đây là mấy cô mà bọn con trai trong trại
thường to nhỏ, xuýt xoa mỗi lần đi phép về, và
ông thiếu tá cũng đã cảnh cáo, nhưng vẫn không
yên tâm, bắt cả trại thử máu thường xuyên.

Ty cảnh sát nằm sau nhà thờ. Người đón tôi là
một ông trung sĩ cảnh sát, nhưng người điều tra
lại là một cô sĩ quan xinh đẹp, tóc ngắn, da dẻ
đỏ như đồng, chắc suốt mùa hè này chỉ tắm
nắng. Cô tự giới thiệu là Marianne. Vào
phòng thẩm vấn, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng,
không hiểu tại sao, khi thấy 'đối tượng' thông
dịch là một cô gái. Cô đang ngồi quay lưng về
phía cửa ra vào, khi cô đu +'ng lên, quay lại, tôi
hoa cả mắt vì vẻ đẹp khác thường. Bị hớp
hồn, tôi mở lời bằng một câu u mê:

- Cô người Việt?

Nàng cũng thẫn thờ:

- Anh người Việt?

Trong lúc chờ Marianne tìm thêm ghế, tôi nhìn
trộm đôi môi hồng vừa thốt ra những âm
hưởng Hà Nội ấm và sang, và nghĩ cái câu 'Anh
người Việt?' có thể dùng để chào nhau, thay
cho câu 'Bác xơi cơ m chưa?' của miền bắc Việt
Nam. Khi người nữ sĩ quan cảnh sát bắt đầu
gài mẫu biên bản lấy cung vào máy đánh chữ,
tôi hiểu đây không phải chỉ là vụ cớ mất
bóp hay du khách lạc đường, và trong tâm t rạng
của một người chín tháng nay chưa thấy mặt
người Việt Nam, tôi nghĩ bụng cô gái xinh đẹp
này ... oan, dẫu chưa biết sự cố liên quan
tới việc gì. Người sĩ quan bắt đầu:

- Cô tên gì?

- Natasja Jakusjok.

Tôi không nghe kịp tên họ, phải chìa tờ giấy, xin
cô gái viết. Trong lúc Marianne so mảnh giấy cô
gái viết với tờ thông hành, tôi so nét mặt
thuần túy Việt Nam với cái tên Nga Natasja, lòng
đầy nghi ho ặc. Marianne tiếp:

- Cô sang Na-uy làm gì?

- Du lịch.

- Từ bao giờ?

- Chiều thứ sáu.

- Bằng phương tiện gì?

- Xe buýt.

- Khởi hành từ đâu?

- Murmansk.

- Ai mời cô sang Na-uy?

- Tôi tự sang.

- Không có ai từ Nga tự sang Na-uy được. Phải
có người từ Na-uy mời, lãnh sự quán của chúng
tôi ở Murmansk mới cấp phép nhập cảnh.

- Tôi mà được mời?

Marianne tỏ vẻ nửa ngạc nhiên, nửa thất vọng.
Tôi tự nhiên đâm thông minh hơn thường lệ
một chút, dịch chữ 'mờí thành 'bảo lãnh', và
nhắc lại câu hỏi. Quả nhiên người đồng
hương hiểu ý, trả lời:

- Tôi không biết tên người bảo lãnh.

- Cái tên đó cô phải biết để viết đơn xin
chiếu khán.

- Tôi không viết đơn.

Marianne như sắp chụp được con mồi:

- Ðó. Tôi muốn hỏi người nào viết đơn giùm
và tổ chức chuyến đi cho cô?

- Tôi không biết. Tới phiên thì tôi mua vé xe.
Người bán vé chỉ cho tôi đi xe nào, tôi lên xe
đó.

Người nữ cảnh sát thất vọng, xoay mặt lại cái
máy chữ từ nãy đến giờ nằm thất nghiệp,
lùa tay vào mái tóc nâu. Tôi quay sang Natasja.
Tia mắt tôi chạm phải bàn tay cô trắng nuột nà
đặt trên đ ùi, tôi quay đi chỗ khác. Nhưng
rồi trong lúc dịch tôi không thể tránh nhìn vào
một trong hai người. Tôi nảy ra một so sánh:
lúc mới gặp cô cảnh sát, tôi thấy cô đẹp như
một nữ tài tử đóng trong các ph im James Bond;
lúc này ngồi cạnh cô gái Việt, cô trông như
một nữ tì. Nhưng người 'nữ tì' đã quay phắt
lại, nghiêm nghị, dằn từng tiếng:

- Chúng tôi bắt được quả tang cô bám dâm.

Tôi hụt hẫng, bàn tay co giật, loại co giật mà
tôi thường gặp khi rơi từ cơn chập chờn vào
giấc ngủ sâu, hoặc như khi đi đường băng trơn
với em gái, mà nó bị trượt. Tôi sượng sùng,
dịch 'bán dâm' thành 'tiếp khách'. Nhưng hai
tiếng này cũng đủ như một tảng đá tròng vào
cổ, cô gái Việt cúi đầu xuống. Ðầu tôi cúi
theo. Một tiếng nhỏ, khàn đục bật ra từ khóe
môi lợt lạt:

- Phải ...

Cô thú nhận với người cảnh sát Na-uy, nhưng theo
thói quen, cô quay sang người thông dịch tội
nghiệp. Mắt cô mở lớn, trong vắt, van lơn.
Lồng ngực tôi đòi lấy hơi để trút một
tiếng thở dài, nhu +ng tôi cố nín, và càng khó
chịu hơn. Và khoảng cách giữa tôi và người con
gái đồng hương trở nên bồng bềnh như một
mạn thuyền với một cánh bèo trên biển sóng,
lúc xa, khi gần. Tôi không làm nghề tho ^ng dịch,
nhưng hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi có đi
dịch để kiếm tiền tiêu vặt. Trước khi
được nhận làm, tôi phải học mấy giờ về luân
lý chức nghiệp. Hình như tôi nhớ được đôi
điều, và bây giờ tôi nhủ lòng mình 'Ðây không
phải việc của tôí. Cuối cùng cô gái 'Natasjá
tiếp:

- Nhưng ... luật pháp Na-uy không cấm việc này
... có phải không?

Phản ứng bớt buông xuôi của Natasja khiến tôi
ngạc nhiên. Marianne nghe vậy, lại trở nên hăm
hở:

- Ðúng. Luật pháp Na-uy không cấm việc mãi dâm,
nhưng cấm hoạt động ma cô. Chúng tôi cần
biết ai làm ma cô cho cô?

- Không ai làm ma cô cho tôi cả.

- Thôi. Xin hỏi câu khác: Cô vừa nói luật pháp
Na-uy không cấm mãi dâm, mà cấm ma cô. Ai nói
cho cô biết điều này vậy?

- Bạn bè.

Quanh đi quẩn lại, rõ ràng là cô cảnh sát chỉ
muốn tóm cổ mấy thằng ma cô. Nhưng có gái
giang hồ nào giám chỉ điểm ma cô của mình?
Hồi nãy khi đi qua khu chị em ta, tôi cũng thấy
những bộ dạng khả nghi, chẳng phải người địa
phương, cũng chẳng phải du khách hay người thập
phương tới buôn bán. Cảnh sát cũng dư biết như
thế, có lúc gặp tên ma cô nhâng nháo quá, họ
ngứa mắt, đã bắt thử, nhưng cha (?ng có chứng
cớ, phải thả ra cho nó nhâng nháo thêm. Cơ hội
duy nhất cho biện lý cuộc là lời khai của các
cô gái giang hồ. Nhưng các cô ấy, nhất là cô
gái lạc loài ngồi trước mặt tôi đây, làm sao
dám nói? Tôi ngước lên nhìn Natasja, gặp đúng
lúc cô cũng ngước lên nhìn tôi - trong đôi mắt
sâu ấy, cô đang chới với. Marianne dòm lăm lăm
vào tờ biên bản gài trên máy chữ như để moi
ra câu hỏi mới. Cu ối cùng cô ta chuyển đề
tài:

- Cô có quốc tịch Nga, nhưng sanh tại Việt Nam?

- Vâng

- Cô lấy chồng Nga?

- Vâng.

Marianne ráng tỏ ra kiên nhẫn:

- Cô Natasja ạ, chúng tôi không bao giờ làm gì hại
cô. Chúng tôi chỉ muốn biết tên và có bằng
chứng truy tố bọn ma cô. Vậy cô cứ nói cho
tôi biết ai đã đưa cô tới đây?

Natasja ngơ ngác:

- Ðưa tới đâu cơ?


Marianne nói muốn nghỉ giải lao mươi phút, trong
khi đó tôi phải ra văn phòng làm thủ tục tính
thù lao. Marianne gặp tôi ở phòng khách lúc tôi
định lấy tách cà phê cho tôi và có lẽ một tách
cho cô gái. Cô hỏ i chuyện lính tráng của tôi,
về người tị nạn Việt Nam ở Na-uy. Câu
chuyện lan man sang việc, vào năm 93, cô tham gia
chiến dịch vĩ đại chuẩn bị cho trường hợp
một triệu người Nga tràn vào Na-uy tị nạn chính
trị hoặc nạn đói. Một nhà báo nổi tiếng dí
dỏm gọi chiến dịch đó là 'cuộc chuẩn bị đón
tiếp các công dân của Thiên Ðường đở vỡ'.
Việc đó may không xảy ra, nhưng lại xảy ra một
cuộc xâm thự c dưới hình thức khác. Cô hỏi
tôi có biết về các tệ nạn biên giới? Tôi
nói có đọc loạt phóng sự của nhật báo
Aftenposten và Verdens gang về việc người Nga sang
đây buôn bán ma túy, rượu mạnh, quân nhu quân
dụng, và mãi dâm. Tôi hỏi:

- Nghe nói có thể mua bất cứ thứ gì?

- Ðúng. Từ sau khi Liên-xô sụp đổ, người ta
có thể mua mọi thứ, thứ dữ như bom nguyên tử,
súng máy, xe tăng, tầu ngầm... Thứ hiền như
đồ chơi. Ðồ chơi rẻ tiền có huân chương
Anh hùng Liên-xo ^, huân chương Lê-nin, Anh hùng dân
tộc, Anh hùng lao động. Và đồ chơi đắt tiền
là các cô này.

- Bao nhiêu mà đắt?

- Từ 200 tới 500 kroner một đêm.

Tôi nghĩ tới Natasja. Theo cái giá mà văn chương
Trung Hoa và Việt Nam đề ra, cô ta phải đáng
'ngàn vàng' là ít. Tại sao xuống tới mức này?

- Giá đó tương đương với 2 tới 5 giờ làm
việc của một người thợ Na-uy. Có gì mà gọi
là đắt?

- Chỉ một cuối tuần các cô gái buôn hương
kiếm được số tiền bằng lương một năm của
một người thợ trung bình ở Nga.

- Vậy sao quí vị không để cho người ta kiếm
ăn?

- Chúng tôi không muốn làm khó dễ các cô gái.
Chỉ muốn trừ khử bọn ma cô.

- Nghĩa là nếu các cô ấy làm ăn độc lập thì
được phép?

- Ðược.

- Cô thử hỏi cô gái tại sao không làm ăn độc
lập?

- Cần gì hỏi. Tôi biết họ không thể nào làm
ăn độc lập được. Người dân Nga tránh vỏ
dưa gặp vỏ dừa. Họ vừa thoát ách độc tài
cộng sản, đã rơi vào nanh vuốt Mafia. Báo cáo
của hội đồng an ninh kinh tế (NSR) cho biết 4/5
xí nghiệp Nga phải trả tiền bảo vệ cho Mafia.
Ta không cần hỏi đồng hương của anh câu đó.

Marianne nhìn đồng hồ, ý muốn chấm dứt giờ
giải lao, nhưng lại đứng thêm một lát hỏi về
người Việt ở Nga. Tôi không biết gì ngoài
những bài phóng sự về tình cảnh những người
được chính quyền Việt Nam gởi đi nước ngoài
lao động trả nợ chiến tranh, và công thức trả
lương: một phần phát cho công nhân, một phần
Nhà Nước Việt Nam 'lấy thảó. Sau đó khi bức
màn sắt sụp đổ, nhiều ngưo +`i ở lại phải
xoay xở chật vật để sinh sống, kể cả
việc phi pháp và mãi dâm.Và tới phiên người
khác lấy thảo.


Tôi mang cà-phê vào cho Natasja, nhưng cô để
nguội tanh không uống. Marianne tiếp tục lại
cuộc thẩm vấn. Nhưng câu chuyện về sau biến
thành một cuộc mạn đàm nhiều hơn. Sau cuộc
thẩm vấn, Marianne tự độ ng nói với tôi:

- Chắc anh muốn nói chuyện riêng với người
đồng hương? Cứ ngồi đây mà nói. Anh không
phải thông dịch viên chính thức, chúng tôi nhờ
vả anh trong trường hợp đặc biệt, nên đền
công đặc biệt. Nhân tiện, tôi nhờ anh nói cho
cô ấy biết theo luật pháp Na-uy cô ấy không làm
điều gì bậy cả. Cô ấy đẹp và hiền quá.

Tôi ngồi lại, không hiểu vì động lực nào - vì
tò mò hay tội nghiệp, vì đây là một người con
gái đẹp hay một đồng hương? Marianne đã khép
cửa văn phòng lại. Bỗng nhiên tôi hoang mang,
không biê 't tại sao ngày hôm nay, giờ này mình
ngồi đây với một cô gái lạ. Tôi nghĩ có thể
Natasja cũng có cảm giác đó, khi cô loay hoay sửa
lại thế ngồi, rồi lại trở về thế cũ. Gò
má cô từ từ ửng hồng. Cô mở lời rụt rè:

- Anh là người tị nạn ra đi từ miền Nam?

- Dạ.

- Nghe cách ăn nói đủ biết.

- Còn cô? Chắc từ Hà Nội?

- Vâng.

- Nghe giọng nói đủ biết.

Lần đầu tiên chúng tôi cùng cười nhẹ. Cô
tiếp:

- Ở đây đông người Việt không?

- Chỉ có mình tôi đi quân dịch lên đây. Cách
đây 500 cây số có một ông bác sĩ lên phục vụ
để lấy thâm niên. Ngoài ra nhóm người Việt
gần nhất ở cách đây chừng 1000 cây số.

Khi nêu những khoảng cách xa xăm, bỗng tôi cảm
thấy cô gần lại một chút. Cô nói, do dự:

- Tôi ... e ..m tên Quỳnh Hương.

- Tên đẹp quá. Tôi tên Thân.

- Anh có trách em không?

- Tại sao lại trách?

- Em làm xấu hổ chung.

Tôi cảm thấy mình vụng về, không tìm được
lời, chỉ biết nói:

- Cô cảnh sát nhắn tôi nói lại: Cô không làm
điều gì bậy cả, theo luật pháp Na-uy. Cô ấy
còn khen chưa thấy ai đẹp và hiền như cô.

'Chưa thấy aí là ba chữ quá giang, nhưng thực
tình không quá tải. Quỳnh Hương cảm động, nét
mặt bớt căng thẳng. Nhưng giữa chúng tôi có
cái gì thiếu tự nhiên, câu chuyện không hào
hứng như tôi t ưởng tượng lúc ngồi trên trực
thăng đáp xuống Tana, và nhất là giây phút đầu
tiên thấy mặt cô gái.

Vì lịch sự tôi vẫn cho cô địa chỉ và số
điện thoại, dặn cần gì có thể liên lạc. Tôi
ra ngoài móc hết tiền bạc trong túi -hình như dăm
trăm- bỏ vào một phong bì, viết mấy chữ an ủi
nhờ Marianne đưa cho cô gái.

Quỳnh Hương thất thểu theo một người nữ cảnh
sát khác ra khỏi bót. Tôi đứng nhìn cô đi về
phía nhà thờ, lủi thủi. Tôi tưởng tượng ra
cô gái làng chơi Magdalena trong Thánh kinh trên
đường đi tì m Chúa Giêsu để thú tội.


Nhưng cô có tội tình gì? Câu hỏi thành hình từ
khi tôi ngồi lên trực thăng, và nó cứ lớn dần
từng ngày khi tôi trở về trại. Tôi càng mong
đợi càng bặt tin Quỳnh Hương. Tôi đinh ninh
thể nào cô về cu ~ng viết thư ngay cho tôi để
cám ơn nghĩa cử, để tôi có thể nói những
lời tốt đẹp, kể cả lời hứa giúp đỡ. Tôi
còn tưởng tượng ra câu chuyện về một chàng
thanh niên hào hoa, đóng ở 'tiền đồn heo hút',
tình cờ gặp một cô gái giang hồ và cảm hóa
được nàng đi tu thành ma sơ thánh thiện. Không
ngờ một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi
qua, không có tin cô. Rõ ràng cô đã nhét địa
chỉ tôi ch o vào bóp. Ngoài ra, trên phong bì
tiền tôi cũng quen tay ghi tên và địa chỉ một
lần nữa.

Chờ đợi, băn khoăn, cuối cùng là hối hận.
Tôi đã quá lạnh lùng, đã thay đổi thái độ
quá nhanh sau khi biết cô là gái giang hồ. Tất
cả chỉ xảy ra trong lòng tôi, nhưng tránh sao cô
chẳng linh cảm d dược. Nét mặt thông minh ấy.
Vì trịch thượng ngầm, tôi không nghĩ tới việc
xin địa chỉ cô.

Năm tuần sau, tôi nhận được lá thư đóng dấu
bưu chính Murmansk. Tôi mừng như được thư
người tình, leo lên tháp canh đọc cho ... thấm.
Nhưng đọc thư xong tôi vô cùng thất vọng. Nét
chữ xấu xí qu ê mùa, lời lẽ tình nghĩa kệch
cỡm, nghe rợn tóc gáy. 'Chủ đề' của thư
đương nhiên là xin gởi tiền ('bằng tiền
Norwaý) về địa chỉ v.v. Tôi nổi giận, xé lá
thư vất vào sọt rác. Không thể ngờ đượ c
bộ mặt xinh đẹp như thế lại mang tâm hồn bần
tiện như vậy. Dù cố thử biện hộ cho cô
gái bằng lý luận 'cái khó bó cái khôn', tôi
vẫn chán ghét cô gái, ê chề tình đời, tôi
chán ghét cái vùng đa ^'t mất hết tình người.
Ðau nhất là con người lãng mạn của tôi bị
'quế nặng quá. Hết phiên gác, việc đầu tiên
là tôi về phòng để hủy cái dấu vết cuối
cùng về cô gái bất xứng - miếng giấy vie ^'t
hai chữ Natasja Jakusjok. Ðó là miếng giấy mà cô
gái viết tên trong bót cảnh sát, đi Tana về tôi
gắn trước bàn viết để kỷ niệm một buổi
gặp gỡ... hay hay. Nhưng khi gỡ miếng giấy,
cầm trên tay, to ^i bỗng giật mình - nét chữ này
thanh tao, nhuyễn mềm, khác xa một trời một vực
với nét chữ thô lậu, tục tằn trong thư tôi
vừa xé. Tôi tức tốc chạy lên đài quan sát,
lục lại lá thư. Chẳng cần so lạ i tuồng chữ,
tôi cũng biết thư này không phải do Quỳnh Hương
viết. Tôi 'sang' hết mấy lời xỉ vả hồi nãy
cho bọn bất lương, và nôn nả bắt tay vào việc
tìm tung tích Quỳnh Hương.

Sau buổi thông dịch, tôi thỉnh thoảng có điện
thoại cho cô cảnh sát Marianne, vừa để tán gẫu
chơi, vừa thăm dò xem 'ngựa có về đường cũ
không'. Bây giờ muốn biết địa chỉ thật của
Quỳnh Hương t ôi chỉ việc hỏi Marianne. Nhưng
tôi không được phép làm như vậy. Tôi thử
làm điệp viên si tình một phen. Một mặt tôi ra
ngân hàng gởi 300 kroner cho bọn làm tiền, tất
nhiên dưới tên Natasja Jakusjok. Na-uy đang mở
rộng việc làm ăn với Nga, để biến đổi bán
đảo láng giềng Kola thành một vùng bớt nghèo
đói và ô nhiễm, nên có rất nhiều hãng xưởng
và ngân hàng Na-uy mọc lên hai bên đại lộ
Lê-nin. Tôi c họn gởi tiền qua ngân hàng Kirkenes,
vì nó nằm đối diện với một khách sạn. Gởi
tiền đi hôm trước, hôm sau tôi đáp xe đò đi
Murmansk và thuê khách sạn đó, phòng có cửa sổ
quay ra mặt đường. May mắn quá mong đợi, ngày
rình chực thứ ba tôi đã thấy bóng Quỳnh Hương
ra ngân hàng. Tôi không cần ngụy trang nhiều, chỉ
cần cái quần soọc, cái mũ lưỡi trai, và cái
máy Nikon là ra dáng một anh triệu phú Nhật Bổn
rồi. Phải thêm cái kính mát to để che mặt.
Vào ngân hàng tôi đứng xa xa, thấy Quỳnh Hương
đang xếp hàng quay lưng lại, tôi cẩn thận không
lộ diện, nhỡ có tên cô hồn nào đi kềm nàng
không. Khi nà ng lãnh tiền xong quay ra, tôi đau
nhói tim thấy mặt nàng tiều tụy, và có vết
bầm xanh. Một tên đàn ông mặt mũi bất lương
ở đâu sán lại kè nàng, chưa ra khỏi cửa, nó
đã giằng lấy tiền, chửi thề 'Ð .M. có mấy
đồng ranh mà nàm nhọc xác ông'. Quỳnh Hương cúi
đầu, không trả lời. Tôi lén theo dõi hai
người, nhưng tới ngã tư thì họ lên một chiếc
xe hơi do người thứ ba lái chạy mất tăm, tôi
đón taxi k hông kịp.

Tôi thất vọng trở về Na-uy, viết thư làm bộ
nói nhớ thương Natasja và mong gặp nàng, bóng gió
cho biết sang sẽ dễ dàng mang tiền về hơn.


Nàng sang thật. Vết bầm trên mặt đã biến
mất, nhưng vẫn còn tiều tụy. Tôi đưa nàng
thẳng vào một khách sạn đàng hoàng cho nàng nghỉ
ngơi. Chúng tôi ăn ngay trong khách sạn. Nàng
ngạc nhiên vô cùng khi to ^i nói tôi biết hết trò
giả mạo thư và làm tiền của bọn vô lại. Nhưng
tôi thắc mắc:

- Tại sao chúng biết cô có liên hệ với tôi?

- Em vừa từ biên giới về, chúng nó lục lọi
khám xét ngay, và tất nhiên thấy phong bì tiền
của Anh cho, địa chỉ nằm đó. Chúng bắt em
viết thư vòi tiền, em không làm, chúng đánh
đập, bắt trở lại đứng đường. Em xin làm
mọi việc trâu ngựa để hầu hạ cả bọn miễn
đừng bắt em làm việc đó. Chúng chấp thuận
nhưng vẫn giả mạo thư tống tiền Anh. Em xấu
hổ quá.

Tôi hỏi một câu mà định hỏi mấy lần nhưng
chưa có dịp:

- Cô sang Nga theo diện nào?

- Nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh sử học.

Tôi kinh ngạc:

- Nhà Nước Việt Nam gởi đi?

- Vâng.

Tôi nhớ lại việc thông dịch, hỏi:

- Sao cô không nói tiếng Nga, dễ kiếm người
thông dịch ngay tại đây?

- Em muốn giấu tông tích. Chẳng may...

Tôi hơi phật ý về hai chữ 'chẳng maý, nhưng
không tỏ ra, hỏi tiếp:

- Cô... xong tiến sĩ chưa?

- Thưa, rồi ạ.

- Vậy cô chỉ việc trở về phục vụ đất
nước.

- Trễ rồi.

- Sao vậy?

Quỳnh Hương hít hơi thật sâpu, như để
đè nén cái gì, cuối cùng nói nhẫn nại:

- Truyện dài lắm. Em chỉ vắn tắt thế này:
Khi em đang chuẩn bị về nước, thì bố em bay
sang nói bất cứ giá nào đừng về.

- Tại sao vậy? Ở Việt Nam bây giờ thay đổi
khá lắm, và bắt đầu đãi ngộ những người
có trình độ.

- Lợi dụng thì có, đãi ngộ không.

Chúng tôi ra ban-công. Nắng đêm quyện vào gió
bắc cực lùa vào mặt mát rượi. Tóc Quỳnh
Hương thơm. Tôi hỏi:

- Ngoài ra bố cô nêu lý do gì để khuyên cô
đừng về nước?

Nàng nhìn con hải âu đậu một mình trên cột
đèn, đáp:

- Là lý luận gia lâu năm của Ðảng, khi thấy bức
tường Bá-linh rạn nứt và thiên đàng Liên-xô
sắp bốc lửa, Bố em dự kiến Ðảng cộng sản
Việt Nam sẽ biến từ một tổ chức cách mạng
thành một g uồng máy tư bản.

- Vậy càng tốt chứ sao?

- Anh không hiểu đâu, cũng như em hồi đó không
hiểu. Vì thế Bố phải đích thân bay sang. Gặp
Bố em vừa mừng vừa ngạc nhiên hết sức, nhưng
run sợ khi ông nói nước Việt Nam sẽ không còn
là nơi du ng thân của con người nữa.

- Sao vậy

- Bố hỏi em 'Chị xem - cái thiên đàng kiểu mẫu
mà sắp sụp đổ nay mai, thì cái thiên đàng mô
phỏng sẽ ra sao?' Em không trả lời, ông nói 'Các
ông ấy là những kiến trúc sư chuyên vẽ thiên
đàng. Kiể u này đổ vẽ kiểu khác. Mà mỗi
lần đổ, mỗi lần đổi kiểu là hàng vạn
người chết vì cột kèo đè.' ... Bố em về,
tự vẫn chết, để họ không còn gây sức ép
với em được, trước khi bị cột kèo d dè.

Nghe đến đây, tôi lạnh toát xương sống, khô
cổ họng. Cột đèn đằng trước, con hải âu
đã bay đi, còn cái tay đèn đua ra, như chờ một
sợi dây thòng lọng. Mãi lâu sau tôi mới thốt
lên được câu gần như vô nghĩa:

- Khủng khiếp quá!

Quỳnh Hương mím môi để khỏi bật ra tiếng
khóc, nhưng giọng ướt lệ:

- Người ở ngoài không hiểu nổi sự khủng
khiếp tới mức nào đâu. Người trong cuộc, đa
số khi hiểu thì trễ quá rồi.

Vai tôi chờ một mái đầu tựa vào. Nhưng tôi
phải làm như tỉnh táo, hỏi:

- Với cô, có quá trễ chưa?

- Em không biết. Nhưng để em kể em đã sa
xuống chỗ nào. Lúc đầu em may mắn trên con
đường tị nạn. Ông giáo sư đỡ đầu cho em li
dị vợ để cưới em. Anh đừng trách em. Vì
ông ta li dị xong mới c ho em biết đã có vợ và
mới li dị. Ở Nga, li dị là chuyện cơm bữa,
cũng như chuyện trai gái chung chạ. 30% các cặp
vợ chồng li dị. Việc làm tình hổ lốn trở
thành phổ thông là vì tình trạng ăn chung ở c
hạ, nhà cửa chật chội. Chồng em là một tên
ghiền rượu, đánh đập em mãi, em vẫn chịu
đựng được. Nhưng hai ba lần em bị anh họ
chồng, em chồng, rồi cả bố chồng cưỡng
hiếp, thì anh bảo sao em chịu d dược? Em phải ra
đi, và sa vào tay Mafia.

Tôi lại ớn lạnh. Không phải vì gió đêm. Mà vì
nhớ chúng tôi đang ở gần biên giới. Tôi dìu
Quỳnh Hương vào trong. Ðóng cửa sổ lại.
Chúng tôi im lặng uống một thứ rượu kem gì
đó khá ngon. Tôi quyết định ngày mai ra lãnh sự
quán bí mật làm giấy bảo lãnh hẳn cho Quỳnh
Hương sang Na-uy. Ðiều làm tôi do dự là cái
giấy hôn thú. Trước khi về phòng riêng, tôi
đắp mền cho Quỳnh Hương như một đứa em gái
và nói:

- Ngủ ngon. Ðừng mộng mị gì cả, dù thiên
đường.


Quỳnh Hương sang chơi Na-uy lần kế tiếp vào ngày
lễ Sankthans, ngày dài nhất, đúng hơn, không có
đêm. Nàng từ xe buýt Murmansk bước xuống, ăn
mặc đơn giản, càng xinh đẹp hơn. Nàng tha
thướt đi giữa nhữn g huân chương và mũ áo
Hồng quân bên vệ đường, tàn tích của một
thiên đường vừa đổ vỡ, diễm lệ như một
nàng tiên, tôi đặt tên cho nàng là 'Trích Tiên'.
Khi tôi nói ra, nàng cười tươi, chấp nhậ n.

Từ đó cuối tuần nào nàng cũng qua. Thường
tôi đưa nàng về căn chòi thuê của xã ở sườn
núi trông ra biển, rất thơ mộng. Từ mùa thu
không còn mặt trời giữa đêm nữa, nhưng rừng
thu biến thà nh những tảng màu đỏ, vàng tuyệt
diệu. Vài cánh buồm trắng nhẹ trôi trên mặt
nước xanh lộng bóng núi. Ban đêm trời trong,
trăng sao vằng vặc chiếu xuống vịnh bao la.
Chúng tôi ngồi bên nhau ngoài hiên n ói chuyện
tới khi sương ngập thềm. Tôi gọi căn chòi này
là 'Ðộng Tiên', muốn vĩnh viễn ở lại không
về trần gian. Nàng 'trích tiên' thỉnh thoảng lại
khóc làm tôi lo lắng. Nhưng nàng nói:

- Xin lỗi Anh, em khóc chỉ vì quá hạnh phúc.

Tôi uống những giọt hạnh phúc này từ mắt nàng,
và nói:

- Ðây là nước mắt hạnh phúc. Nhưng nước mắt
đau khổ của Em, anh cũng xin uống.

Chúng tôi chỉ ước có phép mầu cho thời gian và
không gian ngừng ở đây. Lạ lùng là những
lúc tôi gần gũi Quỳnh Hương trên chòi nghỉ mát,
tôi chỉ say sưa nhìn ngắm, lắng nghe, ngửi
hương nàng, không xàm xỡ. Tôi sống sự hiện
diện nàng. Sự sống nồng nàn, ngây ngất mà
thanh khiết. Tạo hóa đã khắc cho nàng một chân
dung kỳ diệu - từng nét thì đối chỏi mà toàn
thể thì hài hòa. Các nhà giải phẫu thẩm mỹ
không bao giờ làm được như vậy. Chỉ có Nhà
Ðiêu khắc tối ca o, thừa thương yêu và tinh
quái mới nắn nên khuôn mặt và thân thể Quỳnh
Hương - để tặng riêng tôi, cho riêng mỹ cảm mà
Ngài tạo cho tôi. Và Ngài gởi tặng phẩm tới
cho tôi qua con đường sầu thảm quá. Con đường
các phép lạ thường đi.

Khốn nạn thân tôi (tiếng Bắc của Quỳnh Hương),
nỗi đam mê lành thánh kia, tôi chỉ giữ được
khi có sự hiện diện của nàng. Khi nàng qua lãnh
thổ Nga, tôi trở về trại Banak, thì xác thịt
tôi giằn va (.t, réo gọi. Tôi quằn quại trong
giường lính độc thân, thèm khát thân hình nuột
nà cô gái giang hồ Natasja. Xác thịt tôi trách
móc tôi đã dại dột bỏ qua cơ hội nọ, cơ hội
kia trên Ðộng Tiên. Cho tới kh i tôi ngủ thiếp
đi. Có vài lần trong mơ . . . Nhưng thường trong
mơ tôi thấy nàng Trích Tiên mặc áo dài trắng
tinh khiết trổi lên từ giòng nước trong xanh
vẫy gọi tôi. Phải chờ tới buổi sáng, khi mặt
t rời mọc, rọi sáng vào những góc tăm tối trong
tâm hồn, tôi mới thực tỉnh táo, và hãnh diện
cuối tuần trước đã giữ mình đứng ngoài cái
giòng đục lềnh bềnh những xác bố chồng, xác
anh, xác em chồn g nàng, và những thiên đường
mà nàng đang vùng vẫy thoát ra. Ðúng hơn, chúng
đẩy nàng ra như một vật lạ trong cơ thể.

Chỉ có một lần tôi táo bạo, lần đi thăm
Nordkapp. Nordkapp hay 'Mũi Bắc' nằm trên vĩ độ
cao nhất nước, có lẽ là kỳ quan Na-uy thu hút
nhiều du khách nhất. Mỗi năm, hàng vạn người
từ khắp thế giơ 'i, nhất là Nhật, Ðức, Mỹ
mua vé máy bay lên đây, chỉ để coi mặt trời
đêm. Lúc tôi đưa Quỳnh Hương đi thăm Mũi Bắc,
trời đã sang đông, không còn du khách nào nữa,
cũng không còn mặt trời đêm. Tôi n ắm tay
Quỳnh Hương đứng trên ghềnh đá vách dựng
đứng. Nước biển vẫn thăm thẳm. Gió lạnh
buốt. Nhưng chúng tôi càng thích thú. Bỗng
nhiên, mây trên trời biến thành màu xanh như lân
tinh, và quay tít nhu + đèn kéo quân, hào quang lấp
lánh rực rỡ, những luồng điện nổ tí tách
trong mây như hàng ngàn tràng pháo chuột ngày
Tết. Quỳnh Hương kinh sợ nhưng lại reo vui vì
có tôi bên cạnh. Tôi giải thích:

- Ðó là nordlys (bắc quang). Hiện tượng huy
hoàng này không phải lúc nào cũng xảy ra. Hôm nay
nó xảy ra đúng lúc Em tới đây. Ðó là dấu
hiệu Trời cũng muốn chào đón Em đó.

Quỳnh Hương tựa lưng vào ngực tôi. Giọng nàng
mật ngọt:

- Còn Anh, Anh cho em dấu hiệu gì?

Cầm lòng chẳng đậu, tôi xoay người nàng lại,
và hôn vào đôi môi nồng nàn. Ðó là lần đầu
tôi hôn một người con gái. Trên mỏm đá lịch
sử Nordkapp, dưới ánh bắc quang.


Chỉ còn một tháng nữa là Tết ta. Thu An gọi
điện thoại nhắc thế nào tôi cũng phải xin về
phép cho kịp ngày cúng Giao Thừa. Thay vì nói
trong điện thoại, sợ không đủ mạch lạc và
không đối đáp được co n em lí lắt, tôi viết
cho nó một thư dài 6 trang trình bày ý định mời
Quỳnh Hương về Oslo ăn Tết. Tất nhiên trong thư
tôi dấu một số chi tiết về thảm cảnh của
Quỳnh Hương, nhưng tên 'Trích Tiên' thì khô ng
thể không khoe. May quá con bé chấp thuận
liền, còn hào hứng chuẩn bị đón 'chị dâú.
Tôi nói tuyệt đối nó không được ... lạc quan.
Gia đình chúng tôi đã nhận bao nhiêu tai họa bất
ngờ, đúng trong nhu +~ng lúc tưởng là hạnh
phước nhất. Tết Mậu Thân Ông Nội đang công
tác ngoài Huế bị cộng sản Bắc Việt bắt đi
chôn sống, đúng lúc ông được điện tín về
mà coi mặt và đặt tên cho cháu đích tôn l à
tôi; Bà Nội đi bốc xác Ông, về phát điên rồi
mất. Năm 75 con Thu An vừa sanh ra, để trong cái
biệt thự thơ mộng Ba Má mới mua ở Chí Hòa
mấy năm sau 'có một tiểu thư ra vàó, thì cộng
sản tràn vào ' giải phóng'; Ba đi tù, Má bị sa
thải. Ba trốn học tập về, đúng lúc Má đặt
được chỗ vượt biên chính thức, tưởng vĩnh
viễn thoát khỏi cái thế giới điêu ngoa, hận
thù, gian manh, thì tầu do tỉnh ủy Ð ồng Nai đóng
bị vỡ, Ba Má chết đuối. Từ đó, cứ thấy
bóng dáng hạnh phúc là tôi giật mình. Lần này,
với Quỳnh Hương, tôi lại lăn xả vào, không phải
như con thiêu thân nhào vào lửa nhan sắc, mà như
m uối gặp biển mặn. Nàng là hiện thân của
tôi -phần nước mắt, và cả gia đình, dân tộc
tôi, phần ước mơ và bất hạnh. Tôi đón nhận
hết. Một lần, trong Trích Tiên.

Tôi thu xếp cho Quỳnh Hương sang đúng dịp tôi và
Thu An nghỉ phép mùa đông. Và để tránh mọi dị
nghị, tôi trình bày nội vụ với ông thiếu tá,
và nhờ ông trình ông đại tá luôn. Ông dễ
thương tặng Q uỳnh Hương cái vé máy bay. Thu An
bày đặt mang hoa ra phi trường Fornebu đón khách.
Vừa giáp mặt Quỳnh Hương, nó đã reo ầm lên:

- Eo ơi! Chị Quỳnh Hương đẹp dễ sợ.

Quỳnh Hương bật cười vì những từ ngữ kỳ cục
của con bé, cảm động nhận hoa. Tôi giới thiệu
với khách:

ÐDây là đứa em gái thua tôi tới sáu tuổi,
nhưng từ ngày chúng tôi mồ côi, nó nhảy tót lên
ngôi chị hai, 'kềm kẹp' tôi từ miếng cơm tới
manh áo.

Thu An cong cớn:

- Từ nay em không thèm kềm kẹp nữa, em sắp bàn
giao 'chủ quyền Trường Sá cho người khác.

Quỳnh Hương chỉ biết đỏ mặt. Tôi huých Thu An
một cái làm nó chạy giạt sang bên kia, núp bóng
Quỳnh Hương.

- Ê ê! Từ nay có chị Quỳnh Hương che chở, anh
Hai không được ăn hiếp em nữa.

Thu An vừa lái xe vừa giới thiệu thành phố cho
khách. Chị em nói chuyện líu lo. Tôi ngồi băng
sau, nhắm mắt nghe giọng Hà Nội và giọng Sài Gòn
quấn quít. Quỳnh Hương như thơ trẻ lại. Tôi
ngả người tận hưởng hạnh phúc của một gia
đình, lần đầu tiên sau 15 năm cô độc, lạc
lõng nơi xứ người.

Ðêm giao thừa, cúng vái, ăn cơm xong, Quỳnh Hương
dọn trà mứt, Thu An bưng ra một cái bánh bông bơ,
thắp 30 ngọn nến. Quỳnh Hương trầm trồ:

- Người Việt tại Na-uy có tục lệ riêng để
đón xuân? Ðẹp quá!

Thu An trả lời:

- Không phải đâu, chị. Năm nào chúng em cũng ăn
Tết, đồng thời mừng ngày sanh anh Hai. Nhưng
năm nay đặc biệt hơn, vì năm nay anh Hai 'tam
thập nhi lập'.

Quỳnh Hương hiểu ngay:

- Thế tức là Anh sinh năm 1968?

Tôi nói:

- Ðúng, năm Mậu Thân.

Thu An hớt:

- Vì thế Ba Má mới đặt tên ảnh là Thân. Ba Má
nói 'Thân' đây có hai nghĩa là 'yêu mến', 'thân
thiện' chứ không phải 'con khỉ'. Nhưng em thấy
ảnh 'mậu thân' với em lắm. Từ nay ảnh 'mậu
thân' là ảnh chết.

Quỳnh Hương cười ngặt nghẹo. Chưa bao giờ
nàng cười nhiều như vậy. Tôi nói:

- Năm đó con khỉ con này chưa sinh ra, sao bây giờ
khoọc khẹc dữ vậy?

- Chính anh Hai nghe lóm Ba Má kể rồi khoe với em
hết chứ bộ. Cũng như Anh, năm Mậu Thân đâu
có biết gì về chuyện Ông Bà Nội, bây giờ
cũng kể vanh vách.

- Chuyện gì vậy?

Quỳnh Hương hỏi. Tôi chần chờ. Thu An lần
lượt kể về những thảm cảnh gia đình. Thảm
cảnh nào nó không trực tiếp trải qua, nó kể
lể rành mạch như chuyện cổ tích; đến thảm
cảnh Ba bị công an và o nhà còng tay Ba lần thứ
hai, cảnh đắm tầu thì nó kể lộn xộn như cơn
ác mộng. Cuối cùng tôi kết luận một câu mà
trong những dịp thiêng liêng thường nói với em
gái, như bổn phận nhắc lại một gia q ui đơn
giản, Quỳnh Hương là người dưng đầu tiên nghe:

- Ba Má chỉ dạy chúng tôi một điều: lòng trắc
ẩn.

Một làn khói hương từ trên bàn thờ bay là đà
xuống đầu Quỳnh Hương. Nàng lên tiếng:

- Hai Bác thật là nhân hậu, từ những khủng
khiếp của năm Mậu Thân và bao năm sau đó, chỉ
rút ra chữ 'Thân' đặt tên cho con trai và hai chữ
'Trắc ẩn' khắc trong lòng hai con.

Không muốn hai người con gái thấy ngấn nước
trong mắt tôi, tôi bèn đứng lên thắp thêm nhang
trên bàn thờ ông bà. Nghĩ tới 'Trích Tiên' và
mấy chục triệu người đáng thương xót ở ngàn
dậm xa, t ôi khấn thầm:

'Lạy Trời Phật! Hai chữ trắc ẩn Ba Má khắc
trong lòng chúng con, cũng là lẽ sống bàng bạc
trong lòng Trời Ðất. Xin Trời Ðất nhỏ xuống
lòng mọi người ở bên kia một giọt trắc ẩn.
Riêng tình yêu của con dành cho Quỳnh Hương, đã
khởi đầu do lòng trắc ẩn, nhưng bây giờ kết
thúc là tình yêu. Xin Trời Phật, Ba Má chứng
kiến và chúc phúc cho chúng con'.

Im lặng một lúc, Thu An hỏi:

- Anh Hai vừa ăn mảnh, lén xin Ba Má thêm cái gì,
phải không?

Tôi nửa đùa nửa thật:

- Anh không xin xỏ gì cả, chỉ hỏi ý kiến thôi.
Ba tháng nữa anh Hai hết thời hạn quân dịch, và
có quyền bảo lãnh một người ngoại quốc sang
Na-uy. Anh hỏi Ba Má muốn con dâu là một người
trần hay tie ^n.

Quỳnh Hương mắc cỡ gục mặt xuống, trong khi Thu
An nhảy lại ôm vai nàng, reo:

- Em thay mặt Ba Má trả lời: Tiên. Trích Tiên!

Nhưng còn Quỳnh Hương, nàng có ưng thuận vào
trong cái mà tôi cho là 'thiên đường' của chúng
tôi không? Một con người suốt đời bị số
phận đẩy đưa và người khác định đoạt, lần
này quyết đị nh phải thuộc quyền nàng. Vì
thế lúc bạn đọc tới giòng này, tôi vẫn đang
ở trong giây phút thiên thu chờ đợi nàng trả
lời.

Tâm Thanh

VNNP 15


N H Ắ N T I N L I Ê N M Ạ N G


1. Trên VNNP số 82, ngày 11 tháng 4, 2000 trong bài thơ: Nửa
Bức Ảnh Vô Hồn, câu "Lời hẹn ước còn in tờ âm bảng" xin dọc là:

Lời hẹn ước còn in tờ âm bản

Thành thật cáo lỗi cùng tác giả, Nguyệt Trinh, và bạn đọc.

2. Các bạn thân mến, ngoài tờ VNNP ra, Tường Vi còn sinh hoạt
trong hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Gia Long Bắc Californiạ Nhân kỳ
đại hội Gia Long Toàn Thế Giới năm 2000 sắp đến, Vi xin mượn
trang VNNP mời các bạn tại vùng San Jose và các nơi phụ cận
cũng như các bạn xa gần phổ biến cho gia đình và bạn bè cùng đến
San Jose tham dự đại hội cùng với Tường Vị Dưới đây là thư
mời của hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Gia Long:

Ðại hội Gia Long Toàn Thế Giới 2000 tại Bắc California, USA

----------------------------------------------------------------------------

Chào đón thiên niên kỷ mới 2000, Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh Gia
Long Bắc California sẽ tổ chức một buổi Ðại Hội Gia Long Toàn
Thế Giới ngày mùng 6 tháng 5 năm 2000 từ 5:30PM đến nửa đêm tại
hội trường
Scottish Temple, 2455 Masonic Drive, San Jose, California. Mục đích
của Ðại hội lần này là để gặp gỡ và tri ân thầy cô, gặp gỡ các
bạn cũ Gia Long hiện đang có mặt tại khắp nơi trên thế giới, đồng
thời để gây quỹ
cho Hội thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội trong năm sắp đến.

Chương Trình văn nghệ sẽdo các cựu nữ sinh Gia Long trên toàn
thế giới thực hiện cùng sự góp mặt của các ca sĩcủa Gia Long tại Cali
như Hoàng Oanh, Thu Hà, Bích Ngọc ...

Chương Trình Ðại Hội Ngày 6 tháng 5, 2000 gồm các tiết mục:
6:30PM: Tiếp Tân, Tiệc trà
7:30PM: Văn Nghệ
10:00PM - 12:00PM: Dạ Vũ với ban nhạc Phượng Hoàng

Ðịa Ðiểm:
Scottish Rite Temple
2455 Masonic Drive - San Jose, CA
408 - 978 - 7483

Giá vé ủng hộ là $50.00, giá vé đồng hạng: $35.00

Xin liên lạc để biết thêm chi tiết:
1. Nguyễn Ðào Tơ: (650)-874-5492 /408)823-6795 - E-mail:
daoto_lin@gap.com
2. Trần Thu Ngọc: 650-610-0769


VNNP 16



VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG
Internet Address: vnnp@tntt.org
Phát hành định kỳ vào thứ tư hàng tuần

Chủ Nhiệm:  Tường Vi - tuongvi@poetic.com
Biên Tập: Quan Dương
Phạm Ngọc
Song Vinh
Lưu Trần Nguyễn
- qduongc@juno.com
- phamngoc@prontomail.com
- song_vinh@hotmail.com
- khanhgia@hotmail.com

NHẬN BÁO:  Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email về địa chỉ tntt-master@tntt.org.  Trong message body, bạn chỉ cần viết: "subscribe vnnp" để nhận báo, hoặc "unsubscribe vnnp" để lấy tên ra khỏi danh sách.

GỬI BÀI DỰ ÐĂNG:  Xin gửi vềvnnp@tntt.org.  Nếu các bạn không muốn đăng điạ chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin nói rõ trong thư.

Văn Nghệ Ngàn Phương luôn luôn mong mỏi nhận được các sáng tác văn, thơ, biên khảo của các bạn.  Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để BBT tùy nghi xử dụng.  Bài của các tác giả khác nếu gửi về VNNP xin kèm theo thư ưng thuận của tác giả để tránh những ngộ nhận đáng tiếc. Nếu các bạn có ý kiến đóng góp hoặc thắc mắc cũng xin liên lạc về địa chỉ trên.

TRÍCH ÐĂNG TỪ VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG:  Mọi trích đăng thơ văn từ VNNP, xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay BBT VNNP trước khi trích đăng.  Xin hãy tôn trọng bản quyền của tác giả.

CẢM TẠ:  Nhóm chủ trương Văn Nghệ Ngàn Phương, xin chân thành cảm tạ các bạn trong Liên Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể đã có nhã ý cho Văn Nghệ Ngàn Phương mailing list xử dụng server miễn phí và không điều kiện.  Cũng xin cảm ơn Saigonline.com, một phục vụ bất vụ lợi cho cộng đồng Vietnam, dưới sự bảo trợ của ViNet Communications, Inc., là nơi lưu trữ archive của VNNP.. Không có các bạn,VNNP đã không thể hoạt động như ngày hôm nay.