copyright (c) 1999 by respective authors
Internet Address: vnnp@tntt.org
Home Page: http://www.saigonline.com/vnnp/


Bộ 3, Số 80, Ngày 29 Tháng 03, 2000
Xuất bản định kỳ vào thứ tư hàng tuần



M Ụ C L Ụ C

THƯ NGOÛ .............................................................................1

THƠ TUYỂN ........................................................................2

1 - Thoát Mộng -- Nguyệt Trinh, 2
2 - Hương Thơ -- Sương Mai, 3
3 - Sinh Nhật -- Trần Yên Hòa, 4
4 - Nhớ Về Quê Meï -- Hong Phuong, 5
6 - Vốn Tình - Vương Huyền, 6
7 - Thành Phố Không Còn Em -- Phạm Ngọc, 7
8 - Hồn Trăm Tuổi -- Hoàng Xuân Sơn,8
9 - Tìm Veà -- Xuân Thi, 9
10 - Nói Chuyện Với Những Bạn Hiền -- Phan Xuân Sinh, 10
11 - Qua Cầu ... Ðánh Rơi -- Nguyễn Khánh Hòa, 11

VĂN / SÁNG TÁC.................................................................12

1 - Cái Bát -- Lê Minh Hà, 12
2 - Nhân Năm Rồng, kể thêm về Cố Thượng Tọa Thanh Long 
                   -- Hoàng Ngọc Liên, 13

NHẮN TIN LIÊN MẠNG ......................................................14

LIÊN LẠC VÀ THỦ TỤC......................................................15

VNNP 1


T H Ư   N G Ỏ


Bạn thân mến,

Tình yêu đã trao chúng ta những nỗi buồn rất nhẹ. Tình
yêu đã đem chúng ta tới phiền muộn mong manh. Cho dẫu
tình yêu đến bằng những bước chân rón rén hay tình yêu
đến bằng bước chân dồn dập, tất cả cũng đều in
lại trong ta những ấn tượng sâu đậm với những kỷ
niệm khó phai. Mình xa nhau, đã thực sự xa nhau nhưng
từng kỷ niệm vẫn đọng lại đây, từng kỷ niệm vẫn
đầy ắp trong hồn. Cho dẫu khung trời cũ là xa, thơì
gian là ký ức nhạt nhoà nhưng sao tim ta vẫn nguyên vẹn
niềm đau. Một chút mưa, một chút nắng, một chút gió,
một lời nói, một góc đường là đủ để kỷ niệm
của một thời tìm về làm tan loãng đi thăng bằng của
cuộc sống. Tình yêu đã lấy đi của chúng ta thật nhiều
nhưng cuối cùng tình yêu cũng để lại cho chúng ta thật
nhiềụ Chúng ta có thể chối bỏ tình yêu, chạy trốn
tình yêu nhưng không thể phủ nhận là tình yêu đang
sống ở trong ta.

Từ một chỗ ngồi quen tôi dõi mắt nhìn ra con đường
trước mặt, ngoài trời dường như có cơn mưa đầu Xuân
với những giọt mưa lất phất nhẹ ướt hàng cây. Năm
tháng trôi qua, bao nhiêu mùa luân chuyển. Tuổi đời
chồng chất cho nhiều đêm một mình đối điện với
nỗi ngậm ngùi. Người yêu của tôi ơi ! em và tôi tóc
đã thay mầu nhưng bầu trời xanh đâu còn cũ. Phải vậy
không em !

Song Vinh/VNNP
song_vinh@hotmail.com

VNNP 2


T H Ơ   T U Y Ể N


Thoát Mộng

"từ lúc đưa nhau về, là biết xa nghìn trùng"
- TCS -

người len lỏi giấc đời ta say ngủ
hồn ngây thơ cứ ngỡ mộng êm đềm
vui hoa bướm nơi vườn thơm phủ dụ
ta nào hay sầu chớm nụ yếu mềm

người khua động mặt hồ xanh yên ả
làn gương soi gờn gợn ... sóng trong lòng
in đáy nước bóng chim vừa sa ná
xám trời mây nghèn nghẹn ướt tuôn giòng

lệ bi ai bôi xóa dấu chân người
vở sang trang bừng tỉnh giấc u mê
hồn mực tím mông lung buồn rười rượi
tiếng kinh cầu áo não lúc đêm về

hương khói tỏa phủ mờ trăng tiềm thức
từ vực sâu hốt hoảng đất xa trời
tim bỡ ngỡ sau mùa đau ray rứt
có còn không, tức tưởi hạt mưa rơi ?

con nước rẽ giòng đời chia đôi ngã
cách biệt người một bước, ôi nghìn trùng
xin trả hết nhân gian lời từ tạ
ta vươn mình thoát mộng bước sang sông

Nguyệt Trinh
(Feb. 27, 2000)
vtruong@nova.umuc.edu

VNNP 3


Hương Thơ

Chào em
buổi sáng hôm nay
Ðoá hoa mới nở đầu ngày rất tươi
Chào em
đôi mắt sáng ngời
Ðôi môi tươi thắm, em cười nụ tiên

Chào em
Ngày tháng thật hiền
Như con suối chảy qua miền viễn du
Chào em
lời nhẹ như ru
Lắng trong sương khói mịt mù lãng quên

Chào em
đôi tiếng dịu êm
Mênh mông mấy cõi, chân mềm dấu xưa
Chào em
tay vẫy cơn mưa
Tay ôm giọt nắng cho vừa nhớ nhung

Chào em
một sớm mai hồng
Lòng như mới trổ lạ lùng bông hoa
Chào em
về giữa cõi xa
Mây vương, khói toả sương hoà... hương thơ

Sương Mai
3/24/00
suong_mai@hotmail.com

VNNP 4


Sinh Nhật

Về đây ngó đất ngó trời
Ngó mông hiu quạnh bên đời phù hư
Năm mươi năm một chân như
Vàng hoa tỏa rạng chút u hương nồng
Ngày sinh ta rất mênh mông
Bông hoa nào nở giữa giòng thế gian
Mịt mù hương đượm mang mang
Làm thân du tử ngổn ngang xứ người
Về đây ngó đất ngó trời
Ngó vàng hoa, ngó một đời phù sinh

Sàigòn 1998
Trần Yên Hòa

VNNP 5


NHỚ VỀ QUÊ MẸ

Ta thăm hỏi, đã bao năm xa cách ?
Tuổi học trò, nay trả lại trăng sao
Vần thơ yêu, mình trao đổi hôm nào
Còn chăng nữa, một chút gì để nhớ

Xa quê hương, sao ta mãi cứ mơ ?
Mái trường xưa, bạn học cũ thân thương
Ðạp xe đạp, đi trên mỗi nẻo đường
Ðời mầu hồng, ta hồn nhiên trong trắng

Mơ kỷ niệm, cho hồn mình trầm lặng
Ngắm thiên nhiên, tưởng nhớ tới quê nhà
Mái tranh xưa, ôi đã thật bao xa ?
Tìm đâu đó, có bé thơ vụng dại

Hong Phuong
chichi1@iwon.com
Cali 7/98

VNNP 6


Vốn Tình

Dịp đó ra đi
Gởi theo em hết mối tình si
Dùng tình anh
Bán buôn ra sao nhỉ
Chắc khá lắm
Có mối nào đậm thắm
Hay chỉ là qua loa ?
Bán buôn mà
Lọc lừa thế mới nên cửa nên nhà
Nay về
Ðem tình quê luôn chứ ?
Lời lãi tình em cứ giữ
Chỉ xin
Số vốn tình trót gởi theo
Tuy nghèo
Ðủ nuôi anh suốt tháng ngày còn lại
Nếu không chi ngại
Ðã quen
Nhờ trông nom hộ, tình mình - nhé em !

Vương Huyền
http://VuongHuyen.tripod.com

VNNP 7


Thành Phố Không Còn Em
-gửi QD

Tôi về thành phố không em
Nắng nghiêng bóng nắng, chiều nghiêng mắt chờ
Chân đi từng bước thẫn thờ
Phố dài nỗi nhớ - tình hờ hững nhau

Ðời tôi qua mấy nhịp cầu
Sông sâu biển rộng, về đâu cuối trời
Vết thương trao đã chín mùi
Cơn đau tiền kiếp - vẫn ngời dấu đâm

Bàng hoàng giữa phố lặng câm
Ngựa xe xuôi ngược tiếng ầm ỉ vây
Thì thôi cũng một lần này
Lật trang quá khứ - phủi tay bụi trần

Buồn tôi tỉnh giấc phù vân
Trả em năm tháng đã ngần ngại nhau
Mai rồi nắng cũng phai mầu
Tìm trong cổ tích nát nhầu - tàn hương

Buông tay - cơn mộng vô thường...

Phạm Ngọc
3/2000
pham_ngoc@hotmail.com


VNNP 8


Hồn Trăm Tuổi

Hồn ơi !
trăm tuổi xin về
ở lâu cũng mỏi
tình yê ủ
buồn
đời là một ngọn sầu tuôn
suối nào
xanh giữa đoạn trường nước mây
trăng còn có lúc vơi đầy
tình sao chén đắng chén cay
ngợp hồn
lên trời mây đứng nỉ non
xuống sông lòng cạn nước mòn truân chuyên
để chừ
trăm nỗi niềm riêng
mốt mai chìm giữa thu thuyền mắt xanh
trần ai
ai đó
thôi đành
miệng khô đắng
bụi
đường oanh yến
tìm .

Hoàng Xuân Sơn
tháng ba hai ngàn
hoangxuanson@hotmail.com


VNNP 9


Tìm Về

thành phố nhớ chào xuân không lời nói
đón anh vào vung vẫy tuổi thanh xuân
cơn mộng nhỏ dìu cánh chim bay mỏi
thức tế này lưu luyến cũng lần đi

thành phố nhớ có hoa vàng nở rộ
bước em qua chân đuổi mỏi mệt thôi
ngày anh thấy nụ hoa lòng trong gió
là ngựa buồn kéo mãi chiếc xe côi

thành phố nhớ chiều thêm cơn bão rớt
uống bia nhiều càng uống lại buồn thêm
đường bóng đổ lạ lòng người thao thức
đếm đêm dài đêm nhỏ giọt từng đêm

thành phố nhớ người đi về vội vã
chỉ mình anh chậm chạp với thời gian
hạt bụi chạm vu vơ vào khóe mắt
ngó xuống đời lóng lánh nỗi niềm anh

thành phố nhớ nắng chiều em soi bóng
góc phố này đèn điện đã giăng giăng
trong quạnh quẽ gói thương yêu mong nhớ
gởi cho em dù đời đã sang khuya

rồi phút ấy mất đi nơi dừng lại
cũng không còn trăn trở của tương lai
con ngựa chứng bỏ bầy xa đồng cỏ
héo mòn dần theo năm tháng tàn phai

( con ngựa ấy vẫn nhai hoài nỗi nhớ
đường dạ hành hiu hắt chiếc xe côi )

Xuân Thi


VNNP 10


Nói Chuyện Với Những Bạn Hiền

ta mai một như loài cỏ dại
muốn ẩn danh làm đứa thất phu
ngày hai buổi gặm mòn thân phận
treo ngược tim khô bớt thống thù

ta chống cằm nhìn thiên hạ sự
bạn , thù. còn mờ mịt phân tranh
nhắc chi cuộc tương tàn đẩm máu
lịch sử thét lên tiếng thất thanh

ngọn lửa quây quần sao lịm tắt
để manh nha một thứ bất nhân
quanh ta, bạn bè đâu chết tiệt
chỉ thấy toàn một lũ hám danh

ta gióng chuông kêu lên tức tưởi
những oan hồn vất vưởng đâu đây
âm, dương. cùng ngồi chung manh chiếu
bạn, thù. chia nhau chén rượu đầy

xương máu một thời, đành giữ kín
đao binh một thuở, nợ áo cơm
trả xong. lòng nhẹ tênh như bấc
hãy vùi quên bao thứ uất hờn

ta trắng tay trong thời loạn trị
chạy hụt hơi tìm chỗ thoát thân
ngửa mặt cùng đất trời không thẹn
quay lưng còn kinh ngạc, thất thần

bạn hiền ta, cùng nhau nâng chén
giũ sạch bên ngoài chút hư danh
chiếu rượu trải lòng ra uống cạn
bày chi ra mấy thứ tranh dành?

tháng 8-1997
Phan Xuân Sinh
PXSinh@aol.com

VNNP 11


Qua Cầu ... Ðánh Rơi

Buồn em
tôi
trốn...trong chai
mở
con mắt
nhắm
lai rai ... nỗi sầu
Aó xiêm
xưa
đã hoen màu
Ðau
tôi
khẽ hát: Qua cầu ...gió bay

Tình em
tôi
giấu ...trong chai
chắt chiu ...từng giọt
mốt,
mai
uống dần
Này xưa
môi,
mắt ân cần
Ðã qua
năm,
tháng
chợt gần như ....
xa

Ừ thôi
tình... sống qua loa
hắt hiu
aó lụa vàng hoa

nhầu
Tóc xanh
nay
đã phai màu
Say
tôi
khẽ hát: Qua cầu ...đánh rơi

Nguyễn Khánh Hòa
nguyenkhanhhoa@hotmail.com

VNNP 12


SÁNG TÁC - GIỚI THIỆU


CÁI BÁT
Lê Minh Hà

Bức ảnh chụp hai bà cháu vào một chiều muộn. Con gái
Lê, bàn chân mũm mĩm xoay nghiêng như sắp chạy, tay khư
khư một thứ đồ chơi gì đó, đôi mắt tinh khôn nhìn
theo hướng bàn chân, nhưng cằm lại hất lên, môi mở
ra đón thìa cơm bà bón. Một bức ảnh đẹp, đẹp giản
dị, đẹp bình thường. Nếu không có dòng chữ đề sau
tấm ảnh của bố Lê: "Bà đang cho cháu ăn cơm hôm
cưới con chú Hạ. Cái bát bà cầm là quà cưới của
bố mẹ hồi năm năm sáu - 1956".

Nếu không có dòng chữ ấy thì chắc Lê đã xếp tấm
ảnh vào album. Xa nhà, xa con, mỗi lần nhận được thư
và ảnh từ nhà gửi sang, Lê nghẹn thở vì mừng. Chị
chỉ còn biết những dáng hình trong đó, dáng còm cõi
của bố, dáng bé bỏng của đứa con. Chị quên tháp Rùa,
quên vòm phượng vĩ đỏ như cháy ven hồ Gươm, quên
màu nước hồ xanh như nước rau muống luộc nhừ như
ông nhà văn nào đã tả, hiện rất rõ nhờ kỹ thuật
ảnh màu hiện đại. Hà Nội của chị rút lại chỉ còn
là thế, là người cha già, là người chị gái goá
chồng, là bà mẹ kế hiền hậu đang nuôi con cho chị,
là những người ruột thịt mà hồi còn sống cùng đôi
khi Lê cảm thấy hệt như khách trọ, hệt như mình,
dưới một mái nhà chung. Nhưng bức ảnh này buộc Lê
phải lật đi lật lại, săm soi. Cái bát ăn cơm nhỏ
trên lòng tay người lớn lại càng nhỏ, chỉ thấy rõ
nét viền trên miệng. Nhưng Lê mường tượng rõ đến
tưởng như sờ nắm được. Ngày trước, ngay cả trong
những dịp giỗ tết, cái bát ấy đám cháu lốc nhốc
như chị không bao giờ được bà nội cho cầm. Hóa ra
cái bát là quà cưới của bố mẹ. Lê không biết điều
đó. Bé thì không biết hỏi. Mà hỏi để làm gì.
Giờ, đã là đàn bà, đã ngoài ba mươi, đã phải vật
vã với bao lo toan, Lê chẳng bao giờ để ý tới
những điều nhỏ nhặt như thế. Tỷ như nguồn gốc
của một cái bát trong nhà. Biết cũng chẳng để làm
gì. Nhưng Lê nhớ hồi còn sống bà nội giữ gìn mấy
cái bát ấy như thế nào. Hồi sơ tán, về quê ở
với bà, bà vẫn cấm chị em Lê lần mò vào cái chái
nhà tối như hũ nút nằm ở đằng rừng - phía tây
làng Lê. Trong đó lủng củng mấy cái hòm gỗ xấu vàng
ệch màu nghệ thối bà dùng đựng đồ rét của mấy
bà cháu, thêm mấy cái vò đựng đỗ giống, thúng
chuối "dấm" dở; và quý nhất có lẽ là cái làn đan
bằng sắt phế liệu trong úp chục bát sứ Tàu. Bà
thường đe: "Chúng mày cứ mò mẫm trong ấy vỡ mấy
cái bát thì bà bảo". Mấy cái bát quả có đẹp, mỏng
tang, mỏng đến mức nhành hoa in ở thành bát bên ngoài
cũng có thể soi thấy từ bên trong. Ðồ Tàu, ngay cả
do trung ương sản xuất bây giờ cũng không được thế.
Ăn cỗ bằng cái bát ấy chắc là ngon miệng lắm!
Nhưng cái sướng ấy hồi bé Lê chả bao giờ được
hưởng. Ngày giỗ, chị và đám lau nhau trong họ toàn
phải bê những cái bát sắt tráng men thô kệch, choảng
vào đầu đứa nào thì đầu đứa ấy vỡ chứ bát
vẫn y sì đúc, trông chẳng khác gì một cái "bô" nhỏ.
Mấy cái bát sứ kia, bà dành để đơm cơm cúng, và khi
hạ mâm thì chỉ mấy ông trong họ dùng. Những năm
chiến tranh quê Lê thành trọng điểm oanh tạc của máy bay
Mỹ, dù ở khá xa Hà Nội. Nguyên do chỉ vì cắt ngang
làng có cây cầu sắt Pháp xây từ hồi chín năm nối
Hà Nội với Hòa Bình. Về quê sơ tán, chị em Lê lại
phải lếch thếch theo bà sơ tán thêm một lần nữa.
Thời bom đạn, bà cháu chạy đâu cũng phải gọn nhẹ: chai
nước mắm, chai dầu thắp, bao bột mỳ, bao gạo tiêu
chuẩn nhà nước bố mẹ Lê đèo về hàng tháng, và
quần áo. Bát thì toàn bát sắt, ăn cũng nó mà uống
cũng nó, đục một lỗ ở miệng, xỏ sợi dây đồng,
treo toòng teng ở quai làn hay túi xách, thế là xong.
Rơi queng một tiếng là biết mà nhặt ngay. Mà rủi có
bị bom, cùng lắm bát sắt chỉ bẹp, sứt men, quý hồ
người còn sống không phải ăn bốc. Giữa thời buổi
ấy, dắt theo lốc nhốc một bầy cháu, lớn nhất là
chị Lê khi đó mới bảy tuổi, lúc làm lều trong núi,
lúc ở đậu nhà người, bà Lê vẫn chẳng rời mấy
chiếc bát sứ úp trong làn. Hai cuộc chiến tranh đánh
phá qua đi trên miền Bắc, tường nhà bà rạn những
đường dài vì hơi bom, mái ngói cũng bị hơi bom xô vỡ
vụn, hở hết cả rui mè cho trời nhòm, vậy mà bà vẫn
giữ được nguyên vẹn mấy cái bát sứ Tàu.

Sau này, hết đánh phá, chị em Lê trở ra Hà Nội. Bà
ở lại xóm nhỏ một mình được mươi năm rồi cũng
ra. Bà ra Hà Nội giúp chú thím Lê. Chú Lê lấy thím
là đời thứ hai, muộn con, nhưng đến lúc có thì lại
liền tù tì bốn đứa. Chú thím cũng lương nhà nước
ba cọc ba đồng như bố mẹ Lê, nếu không có bà trông
con cho, không có mấy yến gạo ruộng phần trăm của bà
thỉnh thoảng được cô Lê đưa từ quê ra cho thì chắc
chết dở. Ra tỉnh, nhà thì bà cho hợp tác mượn làm
nơi giữ trẻ, đồ đạc thì cho hàng xóm láng giềng.
Chẳng nhiều nhặn gì: cái bàn gỗ mộc, lem nhem vết
mực tím của chị em Lê hồi nào, cái giường dẻ quạt,
thúng mủng giần sàng và chum tương đặt dưới gốc cau,
trên đội cái nón rách có vá miếng ni lông ở chóp.
Bà giữ lại độc bộ hậu sự mà bà đã dành dụm
tậu được trong mấy năm yên hàn sau này, và cái làn
bát. Bộ hậu sự bà gọi cô Lê chở về trên nhà
cô. Cái làn làm bằng sắt đựng mấy cái bát thì theo
bà ra Hà Nội cùng tay nải quần áo. Bà ra tỉnh, những
ngày giỗ cũng theo bà. Trên bàn thờ nhà chú Lê, vào
những ngày ấy, lại thấy bày đúng mấy cái bát ấy,
mỏng tang, có những cánh hoa màu sim chín trên nền sứ
trắng xanh, với một viền vàng thanh mảnh ngay miệng.
Năm này qua năm khác, mấy cái bát đi qua hai cuộc chiến
tranh đánh phá khủng khiếp, đi qua cả chiến thắng, đi
qua cả ngày thống nhất hai miền.

Trong ký ức, Lê những muốn đào sâu chôn chặt nỗi
nhớ cái ngày ấy. Ngày ấy chị em Lê mất mẹ. Vào
thời điểm 2 - 9 đầu tiên sau ngày thống nhất thì mẹ
biết mẹ chỉ sống được ngày một ngày hai nữa.
Ðêm mấy đứa em họ khăn khăn áo áo từ quê ra Hà
Nội xem duyệt binh mừng hòa bình, Lê nhớ mẹ cười
buồn: "Thôi thì cũng may hết chiến tranh. Chứ giờ
các con lại phải đi sơ tán, lấy ai chở gạo chở dầu
về để bà nuôi các con lúc bố đi biền biệt". Sau
những ngày ấy là những ngày Hà Nội đói. Miền Bắc
đói. Miền Nam đói. Hồi chiến tranh, cả nước
đánh nhau, đánh nhau hộ những ai những ai, thế nên
tiếng vậy nếu không bị bom nổ đánh ùng trên đầu
thì cũng chưa đói bao giờ. Có gạo, có mỳ viện trợ.
Có cả đồ hộp, lương khô. Ðánh nhau xong là chấm
hết. Chị em Lê xếp hàng cả buổi mỗi ngày để
lấy bánh mỳ tiêu chuẩn. Theo tiêu chuẩn ba bố con chỉ
được đong có ba cân gạo. Ba cân gạo. Một tháng. Ba
người. Giỗ mẹ năm đầu, bố phải lén bán tem bánh
mỳ để đong một cân gạo ngoài về thổi cơm cúng mẹ.
Ðón bà lên, bà ngồi têm giầu, tay cứ run bần bật.
Lê nhớ không hiểu sao bà lại cười: "Thôi, mẹ chúng
mày chết thế cũng là hết khổ". Nhưng cũng trong một
lần giỗ, giỗ ông, bà lại ràn rụa nước mắt. Nghẹn
ngào mãi bà mới nói được vì sao. Cái bát đẹp quá,
màu sứ trắng quá, mà những hạt cơm thổi bằng gạo
mậu dịch ở trong bát thì vàng xỉn, xát bao nhiêu muối
khi vo vẫn hôi xì. "Khổ! Thầy các con chết đi, đến
bát cơm hương hoa mấy chục năm rồi cũng chẳng được
hưởng cho ra hồn." Không hiểu nghĩ sao bà lại dặn:
"Khi nào u "đi", phải mùa dứa thì mua cho u vài miếng, u
với thầy đều thích dứa. Với lại nấu lấy bát
nước chè xanh. U có chết thì không phải cỗ bàn gì,
cứ cúng thầy u thế là thầy u mát ruột." Chẳng hiểu
sao lúc đó cả bố với chú không ai ngăn bà, chỉ có
thím lóe xóe nói gạt. Bà mất khi Lê đã vào đại học.
Ruộng phần trăm của bà thì giả hợp tác. Cỗ hậu
sự bà don góp tậu từ khi kết thúc chiến tranh đánh
phá lần thứ nhất của Giônxơn gần mười lăm năm
trước rút cục kh ông chở kịp từ quê ra, giờ vẫn là
nơi lăn lê bò toài của mấy đứa nhỏ cháu nội cháu
ngoại cô Lê. Còn mấy cái bát thành đồ thừa tự
dành cho chú Lê.

Hồi còn sống, có lần bà kể chuyện bà với người
vợ trước của chú. Ông nội Lê hy sinh trong chiến
dịch Thu Ðông năm 47 ở Chiêm Hoá, táng ở góc rừng
nào cả nhà cũng không biết. Mãi sau hoà bình lập lại
bao nhiêu thư đi từ lại bộ Quốc Phòng mới gửi giấy
báo tử. "Bà có hòng gì tiêu chuẩn gia đình liệt sỹ
đâu. Người sống đống vàng. Nhưng phải làm cho ra
nhẽ. Hồi ông hy sinh, bố mày còn gửi thư báo cho nhà.
Bố mày đận ấy ở đâu chỗ Ngòi... ngòi gì
ấy..:" - "Ngòi Thia sông Ðáy suối Lê vơi đầy" (*),
Lê ra vẻ. "Ừ, phải, Ngòi Thia. Bố mày gửi thư qua
những ai chẳng biết. Làng mình lúc đó là vùng
trắng. Có tới ba cái bốt chỗ ngã ba sông đầu xóm
đấy. Lúc thư đến tay bà thì nếp giấy gấp đã
sờn cả. Bà biết ông hy sinh như thế là vào cuối năm
48. Vậy mà hồi cải cách ruộng đất, lão Huân đầu
ngõ tố ông mày là Việt gian bị ám sát. Nếu bà không
thúc bố mày thư từ lên bộ Quốc Phòng thì dễ chừng
bố mày với các cô chú mày còn phải lặn ngòi ngoi
nước không mọc mũi sủi tăm lên được. Cứ nhìn
gương con ông Bếp đấy".

Mấy cái bốt sát đầu cầu xóm Lê vẫn còn đó. Ngày
trước đó là nơi nhốt bò tránh bom. Ông Bếp thì Lê
không biết. Nhưng chị biết bà Bếp, một bà cụ nhà
quê rất lành chuyên sống bằng nghề hàng xáo . Nghe
bảo gọi bà thế vì trước kia ông cụ đi khố đỏ làm
tới chức ấy. "Chắc cũng bằng trung sĩ thượng sĩ
bây giờ". Bố Lê bảo vậy. Cả ông Huân Lê cũng
biết. Ông cả ngày đi sau đít trâu, vai cứ gù oặt
bởi không phải cái cày thì là cái bừa. Hồi sơ tán,
Lê vẫn hay lê la bên vườn nhà ông nhặt những quả
bưởi con con đã rụng để chơi chuyền hay bắt ốc sên
về đập vỏ lấy ruột nuôi vịt. Lúc nhỏ, nghe bà
kể, Lê không sao nối được các chuyện đó với nhau,
cũng như không hiểu nổi vì sao chú Lê lại bỏ người
vợ đầu. "Cái lúc nhà chưa nhận được giấy báo
tử ông, bà muốn vào hợp tác cho yên thân cũng không
được. Thím mày lúc đó có chân trong đoàn thanh niên
xã, một mình đâm đơn vào hợp tác, rồi đùng đùng
đòi ăn riêng. Mà lúc đó nào có con cái gì cho cam".

Cái lúc thím Lê đòi ăn riêng, chính quyền xã đứng ra
chia tài sản. Chia thế nào bà cũng chịu, từ nhà tới
thóc gạo, nhưng chục bát sứ Tàu thì nhất quyết không.
Bà bảo thím: "Nếu chị muốn thì để tôi nhắn anh
cả ngoài tỉnh tìm mua cho chị chục bát khác. Còn chia
chục này thì không được đâu!"

Bây giờ Lê mới biết là qùa cưới của bố mẹ ngày
xưa. Bà mất rồi, Lê không thể hỏi được vì sao bà
cứ khăng khăng giữ mãi chục bát ấy. Phải vì nó dễ
vỡ như là những ngày bình yên ít ỏi trong đời bà.
Phải bà sợ "sái", sợ một điềm gì đó di hại tới
hạnh phúc của bố mẹ Lê?

Lê cũng không hiểu được vì sao sau những chuyện như
thế, bà vẫn dặn Lê về quê nhớ ghé thăm người vợ
đầu của chú. Ấy là một người đàn bà hết sức
nhanh nhẹn, chịu khó, duy hình vóc cứ quắt lại vì không
con cái, sống một mình trong căn phòng nhỏ tại trại
ươm tơ huyện cách làng hơn chục cây số. Lê vẫn gọi
bà là thím và không sao tin được người đàn bà âm
thầm này từng có thời là hạt nhân của phong trào thanh
niên xã, từng hết sức tai ngược với bà mình.

Bây giờ, cái còn lại trong tay Lê là tấm ảnh mà chị
đã nhìn đi nhìn lại để mường tượng hình sắc cái
bát cũ. Cái bát sứ mỏng tang, với nhành hoa màu sim
chín ấy vậy là còn hơn tuổi Lê. Qùa cưới của bố
mẹ. Bốn mươi năm, hai cuộc chiến tranh đánh phá bằng
không lực của Mỹ, một chiến thắng bi thảm để thống
nhất sơn hà, và những cuộc chiến tranh ở hai đầu
đất nước sau đó... Nhưng cái bát vẫn còn, như
thời gian, như lòng bà, dường như không thay thế
được ở nhà Lê, dù Hà Nội bây giờ có hẳn một
phố - phố Hàm Long - chuyên bán đồ sứ Trung Quốc.
Không dưng Lê bật cười. Giả dụ trong nhà ai đó
lỡ tay đánh rơi một cái bát của bà. Hoặc giả ngày
đó bom rơi trúng chỗ mấy bà cháu ở. Hoặc nữa:
xếp chồng cả chục cái rồi choang một phát cho hả
giận (nếu có). Chắc tiếng động do những cái bát
này vỡ tạo nên cũng giống hệt mọi tiếng bát vỡ
khác.

Nhưng nếu thế thì cả nhà sẽ hoảng lên như ngày xưa
bom nổ ở đầu cầu làm tường nhà bà rạn và xô vỡ
hết ngói. Bà đã giữ những cái bát đó bốn mươi
năm, món quà cưới dễ vỡ như hạnh phúc của con người
suốt mấy mươi năm đau khổ rút lại tồn tại đến
tận giờ, ngay cả khi mẹ đã mất, bà đã mất. Lê
cứ nhìn mãi tấm ảnh, rồi lật lại xem dòng chữ bố
ghi. Mắt chị rân rấn ướt. Con gái chị đang ăn cơm
từ cái bát ấy - cái bát quà cưới của bố mẹ mà bà
nội đã giữ cho cả nhà.

Lê Minh Hà

Chú thích:
*. Việt Bắc (Tố Hữu)

VNNP 13


Nhân Năm Rồng, kể thêm về Cố Thượng Tọa Thanh Long
Ðể Tưởng niệm "Nhà Sư Của Tôi"
Cầu chúc Ngài sớm siêu thăng Lạc Quốc.

Hoàng Ngọc Liên

LTG - Mới đây, cựu Ðại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh ở
Orlando (Florida), có nhắc tôi là bài "Nhà Sư Của Tôi"
(NSCT) trong cuốn tạp văn "Viên Ðạn Cuối Cùng" còn
thiếu nhiều chi tiết. Tôi cảm ơn cụ Quỳnh và hứa
sẽ kể thêm.
Cụ Quỳnh và kẻ viết bài này đều có nhiều kỷ
niệm tại trại "cải tạo" Thanh Phong, huyện Như Xuân,
tỉnh Thanh Hóa, - nhất là với cố Thượng Tọa Thích
Thanh Long, nguyên Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Sở dĩ bài NSCT thiếu một vài câu chuyện về Ðại Sư
Thanh Long, vì là bài viết ngắn để đăng trên Bản Tin
Chùa Vạn Hạnh (Raleigh, North Carolina) mà số trang có hạn.
Lẽ ra trước khi in bài này trong tập tản văn, tôi phải
bổ túc, nhưng đã sơ xuất. Nay xin... chuộc lỗi
bằng bài viết này.

HNL

Do một cơ duyên... tiếp nối với cụ Thanh Long, sau khi
Ðại Sư viên tịch tại chùa Giác Ngạn Sài Gòn, tôi viết
về Cụ, bài NSCT. Bài viết này đưa tới việc Thượng
Tọa Thích Thiện Tâm về Trụ Trì tại Chùa Vạ n Hạnh;
việc tôi liên lạc với thân hữu bên Ðức sau khi bài
này được đăng lại trên Nguyệt San Viên Giác của
Thượng Tọa Thích Như Ðiển; việc tôi có thêm nhiều
thân hữu là Phật Tử, vì tôi là người theo Thiên
Chúa Giáo mà viết bài rất trân trọng sùng kính một
vị Chân Tu bên Phật Giáo.

Mỗi lần chúng tôi, những anh em đồng cảnh tù "cải
tạo", nhắc đến Thượng Tọa Thích Thanh Long, ai nấy
đều thành kính nhớ về Cụ như một vị anh hùng trong
lòng chúng tôi.

Ở một cõi không còn hệ lụy, vị sư già của chúng
tôi biết được điều này hẳn không vui lòng. Bởi
Cụ vẫn cho mình là một Oạng Sư Nhà Quê, bình
thường, giản dị, không muốn ai đề cao mình.

Cụ chia sẻ phần ăn của mình cho bạn tù, như một hành
động phải làm như thế mà không hề có ý hành thiện
để gây công đức. Thỉnh thoảng được Phật Tử -
chùa Giác Ngạn -, hay vợ chồng người Công Giáo gần
nhà thờ Ba Chuông ra thăm nuôi, Cụ chia thức ăn cho kỳ
hết, sau đó lại nhận phần "bo bo" như thường.
Nhiều bạn tù thấy dưới chân sàn nằm của mình có
bịch "ni-lông" thức ăn, đều chắp tay vái, hưo +'ng về
phía chỗ cụ nằm. Anh em biết là của cụ chọ Trong
đồng cảnh "đói muôn năm", ngoài cụ ra, ít ai còn có
thể bớt phần ăn, phần "thăm nuôi" của mình để
phân chia bằng hết cho các bạn tù, như Cụ ?

Bọn "chèo" không ưa cụ, dĩ nhiên, vì:

- Anh Nong, Anh nề mề thế ?

Cụ thong thả:

- Nào tôi có lề mề bao giờ đâu !

- Anh còn cãi hả ? ....

và:

- Anh vất túi bo bo qua hàng rào cho bọn bên kia nhận, anh
tưởng cán bộ không biết saỏ Anh vi phạm nội quy ...

- Thì bọn trẻ đói quá ...

- Anh nà bướng nắm ! Tôi cảnh cáo anh !

Cụ bị làm "kiểm điểm nhiều lần mà lần nặng
nhất là tội "mua bán đổi chác" với một thanh niên
dân tộc thiểu số. Xin kể lại chuyện này hầu bạn
đọc, như sau:

Trong thời gian làm "Trực Buồng", Cụ Thanh Long có
nhiệm vụ xuống nhà bếp gánh hai thùng nước sôi về
"chế" vào các "gô" - lon sữa guigoz được bạn tù dùng
để nấu nướng hay đựng nước uống. Vào một bu
ổi chiều cuối năm, vừa xuống nhà bếp - trên dốc
bờ suối chạy ngang qua trại Thanh Phong - Cụ nhác thấy
thấp thoáng có một thanh niên Thượng đi ngang quạ Hé
mắt nhìn qua hàng rào cọc tre, cụ thấy người na `y co
ro trong manh áo hở hang. Cái lạnh mùa đông miền núi
với những cơn mưa bụi khiến mặt anh tái mét. Nhìn
quanh không thấy có gì trở ngại, cụ lên tiếng vừa
đủ cho anh nghe:

- Này!

Thanh niên nhìn qua kẽ hở của hàng rào:

- Cụ bảo gì ?

- Anh đợi đó, tôi đi lấy cho chiếc mền !

- Mền ?

- Phải rồi, là cái chăn, cho ấm !

Thanh niên mừng rỡ nhìn theo Cụ thoăn thoắt đi vào
phía trong. Chỉ một lát sau. Cụ guộn chiếc mền đỏ
- một trong hai cái mền màu đỏ mà "Trại" phát cho tù,
cùng với chiếc áo trấn thủ cũ mèm, còn dính máu, là
tất cả phương tiện "chống rét" theo tiêu chuẩn - qua
hàng rào cọc tre.

Nhưng Cụ già sức yếu, đã lấy đà để liệng
chiếc mền qua nhưng nó chỉ qua được gần phân nửa,
phần còn lại bị máng trên đầu những cọc tre nhọn
hoắt. Bên ngoài, anh càng kéo mép mền xuống, nó càng
dính chặt vào đầu cọc.

Ðúng vào lúc đó, tên chèo ngồi trên vọng gác nhận ra
sự việc bất thường. Gã báo động. Thấy tình
trạng nguy hiểm cho người bên ngoài, Cụ bảo anh:

- Ði lẹ đi !

Thanh niên vừa chạy xuống bờ suối thì tên "cán bộ
trực trại" hầm hầm bước tới. Y lớn tiếng:

- Anh Nong! Anh nàm gì ở đây ?

Cụ điềm tĩnh:

- Tôi lấy nước về cho Ðội !

Y chỉ tay lên chiếc mền đỏ máng trên hàng rào:

- Anh vất chiếc chăn này cho ai bên ngoàỉ

- Tôi đâu biết là aỉ

Y nạt lớn:

- Anh chối hả ?

Cụ vẫn thong thả:

- Nào tôi có chối gì đâu ?

- Tại sao anh vất chiếc mền cho người bên ngoàỉ

- Vì tôi thấy anh ta lạnh quá !

Y dằn từng tiếng:

- Anh... mua bán đổi chác hả ?

Cụ cười:

- Cán bộ nghĩ coi, trên người anh ta chỉ có chiếc
quần đùi và manh áo rách, có gì để tôi ... mua
bán đổi chác?

- Anh còn cãi hả. Anh vi phạm nội quy. Nẽ ra tôi cùm anh
một chân...

- Tùy cán bộ thôi !

- Nhưng thấy anh già yếu, tôi bắt anh nghiêm chỉnh nàm
kiểm điểm. Anh nghe rõ chưa ?

- Nghe rõ, cán bộ !

Trước khi quay đi, y còn dọa Cụ:

- Anh phải thành thật khai báo, nghiêm khắc kiểm điểm
và nộp nên văn phòng tôi ngay chiều naỵ Anh nắm
được chưa ?

Cụ muốn phì cười khi trả lời y:

- Nắm được rồi, cán bộ.

Chiều hôm ấy, khi chúng tôi xếp hàng ... vô chuồng.
Tên trực trại nói với cụ Thanh Long, khi cụ bước qua
trước mặt y:

- Anh Nong! Sao chưa nộp kiểm điểm ?

Cụ vẫn thong thả :

- Tôi trực buồng làm bao nhiêu việc, thì giờ đâu mà
viết. Cán bộ lại chưa cho giấy bút, tôi lấy gì
để viết ?

Y nạt liền:

- Viết thư cho gia đình thì anh có giấy bút...

Cụ không chịu:

- Nào tôi có gia đình đâu mà viết thư ...

Có tiếng cười phía sau của bạn tù còn đợi vào
buồng. Tên trực trại quay lại nhưng không bắt được
kẻ nào vừa phát ra tiếng cười ấy, y khoát tay:

- Vào buồng đi . Tôi sẽ cho anh giấy bút nàm kiểm
điểm. Sáng mai nộp cho tôi!

Sáng hôm sau, tên trực trại đòi nộp bài kiểm điểm
thì cụ làm ra bộ không hiểu:

- Tôi nghĩ sáng nay viết thì chiều nay nộp, nếu tôi
tranh thủ viết kịp...

Y quát:

- Tại sao tối qua anh không viết?

Cụ cười:

- Làm sao tôi thấy đường viết, khi không đủ ánh
sáng?

- Không nôi thôi với anh! Anh nà bướng lắm. Trưa nay
anh phải viết xong tờ kiểm điểm, nếu không, tôi cùm
anh!

Cụ không trả lời nữạ Tên trực trại bỏ đi .

Sau đó, Cụ không làm trực buồng nữa, ra lao động
như trước.

....

Hôm ấy, sau khi "trại viên" sắp hàng ngồi theo từng
đội trên sân "tập kết" chờ báo cáo xuất trại đi
"lao động là vinh quang", tên trực trại lớn tiếng:

- Anh Nghiêu đâu ?

Linh Mục Nghiêu đứng lên:

- Có tôi!

- Anh nên đây! Ðứng bên cạnh tôi và nhìn xuống sân
tập kết.

Chờ cho vị linh mục già an vị, tên trực trại ... phát:

- Trước toàn Trại, tôi cảnh cáo trại viên Nghiêu về
tội nề mề trong nao động, gây ảnh hưởng xấu đến
phong trào thi đua sản xuất vụ Ðông Xuân!...

Một cánh tay giơ lên, cùng với giọng nói quen thuộc
của Thượng Tọa Thích Thanh Long mà phần đông anh em tù
đều kêu là bố:

- Tôi có ý kiến!

Tên trực trại vốn không có hảo cảm với Cụ, y chưa
kịp phản ứng thì Cu đã lớn tiếng:

- Thưa cán bộ trực trại, tôi không đồng ý cho rằng
ông cha Nghiêu ...

Y ngắt lời cụ:

- Cho anh nói nại: anh Nghiêu! Không có ông cha nào ở
đây cả!

Cụ nói tiếp:

- Tôi không đồng ý cho rằng anh Nghiêu lề mề trong lao
động. Tôi nhận thấy anh Nghiêu rất... tích cực,
luôn đạt chỉ tiêu do trại đề rạ Chỉ là anh Nghiêu
lớn tuổi nên không được nhanh nhẹn...

Tên trực trại xua tay:

- Anh Nong ngồi xuống! Tôi nhắc: Trại cảnh cáo anh
Nghiêu, cảnh cáo nuôn anh Nong về tội cũng nề mề nao
động, còn thêm tội bao che nữa . Nếu các anh không
sửa đổi, Trại sẽ có biện pháp.

Y nhìn qua phía ông cha Nghiêu:

- Anh Nghiêu và anh Nong sáng nay nên phòng cán bộ trực
trại "nàm việc".

... Chúng tôi nhìn theo nhị vị chân tu trở về buồng.

Nhiều năm sau, những anh em tù từng chứng kiến khung
cảnh một vị Thượng Tọa lớn tiếng bênh vực một vị
linh mục ngay trong ngục tù cộng sản bất chấp mọi hậu
quả, không bao giờ quên được. Còn nữa, hình ảnh các
ông sư, ông cha ngồi chồm hổm nấu nướng ngoài sân
rồi ăn chung với nhau ... luôn hiện ra trong những giấc
mơ của tôi, dù đang sống ở Hoa Kỳ.

Tôi còn được biết Linh Mục Tống Thiện Liên (TX) đã
"meo" món quà 100 mỹ kim để Welcome Thượng Tọa Thiện
Tâm (hồi ngài còn ở Atlanta), khi vị sư khả ái này
mới tới Mỹ.

Thử hỏi những sự thật này, mấy ai nghĩ được là
đã xảy ra ? Các vị tu hành khả kính trong tù, chỉ cảm
nhận tình người của nhau, không bao giờ có chuyện
mất đoàn kết giữa những chiến sĩ quốc gia, vì màu
sắc tôn giáo . Quý vị ấy mến thương nhau thành khẩn
khiến bạn tù đều được noi gương. Sau khi ra tù,
các vị thường qua lại, thăm hỏi nhau thân thiết từ
trong cũng như ngoài Nước.

Thế mà ở đâu đó sau này, ngay trên những nước Tự
Do, vẫn còn những chuyện chia rẽ giữa một số - dù
rất ít - con người Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo! Cụ
Thanh Long, "Nhà Sư Của Tôi", thần thông quảng đại, hẳn
đau lòng về những chuyện chia rẽ, nếu còn xảy ra trong
công đồng người Việt Quốc Gia, như thế.

Miền Ðông Hoa Kỳ, Tháng 1 năm 2000
Hoàng Ngọc Liên


VNNP 14


N H Ắ N   T I N   L I Ê N   M Ạ N G


- Bạn Hong Phuong: Bài thơ của bạn đã đăng trong số nàỵ
Vì bài thơ không bỏ đấu nên BBT thêm dấu vàọ
Nếu có sự sơ suất xin bạn vui lòng báo tin.
Rất mong nhận thêm những sáng tác của bạn

- Bạn NTH: Ðã nhận hai bài thơ của bạn. Rất tiếc không
thể đăng được. Ðã email riêng đến bạn nhưng bị
trả lai.   Mong nhận thêm những sáng tác của bạn

VNNP 15



VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG
Internet Address: vnnp@tntt.org
Phát hành định kỳ vào thứ tư hàng tuần

Chủ Nhiệm:  Tường Vi - tuongvi@poetic.com
Biên Tập: Quan Dương
Phạm Ngọc
Song Vinh
Lưu Trần Nguyễn
- qduongc@juno.com
- phamngoc@prontomail.com
- song_vinh@hotmail.com
- khanhgia@hotmail.com

NHẬN BÁO:  Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email về địa chỉ tntt-master@tntt.org.  Trong message body, bạn chỉ cần viết: "subscribe vnnp" để nhận báo, hoặc "unsubscribe vnnp" để lấy tên ra khỏi danh sách.

GỬI BÀI DỰ ÐĂNG:  Xin gửi vềvnnp@tntt.org.  Nếu các bạn không muốn đăng điạ chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin nói rõ trong thư.

Văn Nghệ Ngàn Phương luôn luôn mong mỏi nhận được các sáng tác văn, thơ, biên khảo của các bạn.  Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để BBT tùy nghi xử dụng.  Bài của các tác giả khác nếu gửi về VNNP xin kèm theo thư ưng thuận của tác giả để tránh những ngộ nhận đáng tiếc. Nếu các bạn có ý kiến đóng góp hoặc thắc mắc cũng xin liên lạc về địa chỉ trên.

TRÍCH ÐĂNG TỪ VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG:  Mọi trích đăng thơ văn từ VNNP, xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay BBT VNNP trước khi trích đăng.  Xin hãy tôn trọng bản quyền của tác giả.

CẢM TẠ:  Nhóm chủ trương Văn Nghệ Ngàn Phương, xin chân thành cảm tạ các bạn trong Liên Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể đã có nhã ý cho Văn Nghệ Ngàn Phương mailing list xử dụng server miễn phí và không điều kiện.  Cũng xin cảm ơn Saigonline.com, một phục vụ bất vụ lợi cho cộng đồng Vietnam, dưới sự bảo trợ của ViNet Communications, Inc., là nơi lưu trữ archive của VNNP.. Không có các bạn,VNNP đã không thể hoạt động như ngày hôm nay.