copyright (c) 1999 by respective authors
Internet Address: vnnp@tntt.org
Home Page: http://www.saigonline.com/vnnp/


Bộ 3, Số 70, Ngày 12 Tháng 01, 2000
Xuất bản định kỳ vào thứ tư hàng tuần



M Ụ C L Ụ C

THƯ NGOÛ.............................................................. 1

THƠ TUYỂN......................................................... 2

1. Hoan Khúc -- Cổ Ngư, 2
2. Thẫn Thơø -- Nguyễn Xuân Vân Khanh, 3
3. Ánh Mắt -- Nguyễn Ngọc Quỳnh Thi, 4
4. Lục Bát Cuối Mùa Trăng -- Yên Sơn, 5
5. Quê Tôi -- Nguyễn Ðăng Tuấn, 6
6. Tình Giữ Trăm Năm -- Bùi Trần Tuấn, 7
7. Ðời Kiếp Nào -- Hoàng Chính, 8
8. Bài tiên tri cho 2YK -- Tóc Dài, 9
9. Áo Trắng -- Song Vinh, 10
10. Những Lời Vô Nghĩa -- Hà Huyền Chi, 11
11. Ngày Giáng Sinh có em ( Không ) -- Trần Thái Vân, 12
12. Cuối Năm Một Ðoạn Ngắn -- Hoàng Xuân Sơn, 13
13. Chơi cút bắt Với Em -- Quan Dương, 14

VĂN / SÁNG TÁC.......................................................... 15
15. Lá thư từ kinh xáng -- Hai Trầu, 15
16. Như Nước Trong Nguồn -- Nguyễn Văn Sâm, 16

NHẮN TIN LIÊN MẠNG............................................... 17

LIÊN LẠC VÀ THỦ TỤC............................................. 18


VNNP 1


T H Ư   N G Ỏ


Bạn mến,

VNNP tuần này ra đúng kỳ đã là một cố gắng vô cùng của
BBT để đáp ứng nhu cầu giải trí về tinh thần sau một
ngày làm việc mệt nhọc của các bạn . Bước vào năm mới
của thiên niên kỹ mới , ai cũng bề bộn với công việc
làm ở sở , ở hãng hoặc những công việc khác mà
cuộc sống bắt buộc chúng ta phải làm để giải quyết nhu
cầu sinh sống hằng ngày cho bản thân và cho gia đình . Kỳ
này đáng lẽ đ ến phiên cô chủ nhiệm Tường Vi phụ
trách đúng theo lịch trình phân chia của BBT , tuy nhiên cô
chủ nhiệm rất là bận rộn với công việc sở , lại
thêm thời tiết năm nay hơi trái gió trở trời hơn mọi
năm , sức khoẻ vốn đã yếu đuối khiến cho cô chủ
nhiệm bé nhỏ hiền lành bị " sụt sịt " liên miên . Cô chủ
nhiệm định xin phép độc giả để " được " thông qua
một tuần . Nhưng BBT xét thấy càng ngày số lượng độc
giả ghi tên vào mail list càng đông ( điều đó chứng tỏ
trang báo VNNP càng lúc càng là nhu cầu của người đọc) sợ
rằng gác lại một tuần sẽ phụ lòng mong đợi của biết
bao nhiêu người , vì thế mà BBT quyết định vẫn tiếp tục
thực hiện số báo 70 này cho đúng kỳ hạn .

BBT cũng xin thông báo đến các bạn , mấy ngày đầu năm
2000 , hình như có một vài trục trặc kỹ thuật trên hệ
thống Internet hay sao đó mà bài vở các bạn gửi về VNNP
đã không đến BBT . Vì thế nếu bạn n ào gửi bài trong
tuần này thấy bài vở của mình bị trả về hoặc không
thấy đăng thì xin vui lòng gửi lại đến địa chỉ :
vnnp@tntt.org

BBT/VNNP xin cám ơn về sự thông cảm đầy kiên nhẫn này
của các bạn Và bây giờ thì xin mời bạn cùng tôi thưởng
ngoạn món ăn tinh thần thân quen đang nằm trước mắt .

Quan Dương
BBT VNNP

VNNP 2


T H Ơ   T U Y Ể N


Hoan Khúc

Mở câu lục bát giữa đời,
Viết vào thiên kỷ đôi lời vu vơ,
Có trời bát ngát trong thơ,
Có hoa nở rộ đôi bờ thời gian,
Có ai môi đỏ bàng hoàng,
Có đêm mắt óng ánh vàng nến chong,
Có chiều xuân giữa ngày đông,
Em hôn một nụ, hương nồng trăm năm.
Mưa rằng : hạt vẫn lâm thâm,
Trăng rằng : đúng hẹn, vẫn rằm với nhau,
Này em, có bước qua cầu,
Cho anh gửi chiếc áo mầu đào hoa,
Về nhà, dối mẹ cùng cha :
Ai cho không biết... thật thà... gió bay !
Áo điều, vạt khép, rộng tay,
Em đi như muá, hài may nét tình,
Ddường vui, nhẹ bước, đôi mình,
Xin em nhận đoá bạch quỳnh nguyên trinh,
Tặng em thêm cõi hoà bình,

Mở ngàn năm rộng hành trình nhân gian.

Anh nghe hồn bỗng hân hoan...

Cổ Ngư

VNNP 3


Thẫn Thờ ...

Bây giờ anh ở nơi nao
Có hay chăng bé chiều nào nhớ mong
Tình mình lắm lúc long đong
Tháng năm ngăn cách....mãi lò`ng....lao đao
Hỏi anh ngày tháng trôi mau
Bao lần anh đã gởi trao men tình...?
Ðuờng đời anh, bé...một mình
Xa xôi, trắc trở ân tình phôi phạ...???:)

Nguyễn Xuân Vân Khanh
meotrang16@hotmail.com

VNNP 4


Ánh Mắt

Ánh mắt một ngày gặp lại
Vẫn nhiệt nồng thuở mười chín - đôi mươi
Trái tim chưa một lần hỏi tuổi
Vẫn đều đặn nhịp sức trẻ nói cười

Thời gian có bao giờ biết nói
Ðể ghi lại chùm lưu bút ngày qua ?
Tuổi thơ chưa từng biết mỏi
Hôm nay chững chạc trở về

Tình yêu vẫn ôm chầm nhịp sống
Hạnh phúc đi trên những khổ đau
Ước vọng không một lần ngưng nghỉ
Âm ỉ cháy giữa lắng sâu

Ánh mắt chưa từng mỏi mệt
Niềm tin rực sáng long lanh
Ánh mắt của một ngày gặp lại
Tuổi xuân vẫn tràn nhựa xanh

Ánh mắt của thời thơ ấu
Hôm nay phản chiếu đâu đây
Ngày đi sói mòn vẫn thế
Trời vẫn xanh trong ánh mắt nâu ...

Nguyễn Ngọc Quỳnh Thi
tháng giêng, hai ngàn

VNNP 5


Lục bát cuối mùa trăng


Ðêm qua post một bài thơ
Cơn say rớt xuống không ngờ dưới trăng
Hỏi trăng, trăng có buồn chăng
Hỏi thơ, thơ có biết rằng ta say
Hăm lăm năm vẫn còn đây
Tóc phai màu với tháng ngày chông chênh
Hỏi đời, đời vẫn buồn tênh
Trách chi một gã sầu trên vũng sầu

IỊ
Mân mê nét chữ thân quen
Hoa tiên một cánh từ miền đông sang
Mở thư hồn những ngỡ ngàng
Cánh penseé ép dịu dàng nỗi đau
Người ơi duyên muộn tình sau
Nhớ cay ánh mắt, thương bào buồng tim

IIỊ
Nâng cành hoa ép lên môi
Thấy như ánh mắt rạng ngời gửi trao
Ta quen nhau tự thuở nào
Penseé đem ép gửi nhau tấm lòng
Trăng thu cao mấy từng không
Tình ta vời vợi giữa lòng trời khuya

IV.
Em về nắng nhạt vườn thu
Thông xanh bát ngát ở khu ngoại thành
Tự nhiên có hạt long lanh
Nhỏ trong tiềm thức giật mình ăn năn
Cảm người hạnh ngộ vườn trăng
Con tim vướng víu nợ duyên kiếp nào
Nghe trong tiếng gió thì thào
Hương thơm tiền kiếp, xanh xao môi cười
Chiều đi mông quạnh sương rơi
Con tim khao khát những lời dấu yêu

Yen Sơn
yenson68@hotmail.com

VNNP 6


Quê Tôi

từ thuở sinh ra đà chạy loạn
giặc chia thành hai nước hai nơi
tôi, thân bé bỏng bú vời
mẹ cha lánh nạn từ thời năm tư

đất tổ tiên ngàn năm văn vật
đành đoạn rồi ruột cắt chia ly
rồi khôn trong biển nhu mỳ
thùy dương cát trắng ấm vì thương yêu

khi giặc lại lấn luôn lần nữa
thân lạc loài mãi tận phương đây
ngày qua cố dựng đời gầy
để thêm chua xót từ ngày mất quê

hai mươi mấy năm làm trai lạc
đi về nghe nghẹn đắng đời đau
còn đời quê mãi tối nhàu
thì đường trước mặt cố cầu đi lên

dù đớn đau dù đầy nghiệt ngã
phận đời người lạc lõng chẳng quên
một quê tổ dặm nghìn đền
mồ cha mẹ vẫn xanh rền quạnh hiu

nguyễn đăng tuấn
TNguyen205@aol.com

VNNP 7


Tình Giữ Trăm Năm
( thương tặng L. )

có phải mùa xuân theo cánh gió lơi
thả xuống hồn anh những mầm xanh biếc
em mắt ngó, anh nghe lòng da diết
lá tháng hai, non thắm lượng ơn trời

anh cưu mang tình chiếc lá một đời
những ngày thơ vẫn ép vào trang vở
từng quá khứ thơm nguyên lòng rạng rỡ
trong hồn anh thời bé dại ngây ngô

lá trầu bà của lớp học năm xưa
mà cô giáo vẫn nhờ anh châm nước
bóng đèn cắt, rễ xuôi, đuôi treo ngược
còn tòng teng trong trí nhớ miệt mài

tuổi hồn nhiên thương lắm lá thuộc bài
chiếc xe đạp theo sau bao nỗi nhớ
mỗi chiếc lá me rơi tình muôn thuở
như còn đây thời dĩ vãng mây bay

lá tháng hai, em ơi, lá tháng hai
xanh mướt như tình em tuyệt diệu
tay như lá, rung lên từng giai điệu
đan cho anh cuộc sống một đời nầy

*

ơn em đó, dòng sông dài mải miết
xuôi bao nhiêu năm tháng bến bờ xanh
nắng tháng hai, màu lụa trắng tinh anh
trải hạnh phúc từ tay em tha thiết

cảm ơn em, một lần cho anh biết
nụ hôn đời, tình níu đến trăm năm...!

Bùi trần Tuấn

VNNP 8


Ðời Kiếp Nào

tóc ơi, tội lắm! đừng dài
tội tôi cái chuyện "thương hoài ngàn năm"
mắt ơi, đừng quá xa xăm
mốt mai rồi cũng mù tăm cuộc đời
môi ơi, tội lắm, đừng cười
tội tôi ghen đứng, ghen ngồi quanh năm .

hoàng chính
chinh2@hotmail.com

VNNP 9


Bài Tiên Tri cho 2YK

Như anh đã thấy
Khi em dùng hai tay gõ nhịp
Nghe bằng mắt
Và nói bằng máy
Thuật dị dung đổi cả trái tim
Khi quá khứ và hình hài
Xa nhau chỉ một nhánh tóc

Như anh đã thấy
Em giống kẻ mù
Tỏ tình bằng hai tay thoăn thoắt trên từng ô chữ
Lạnh
Như người câm hát những lời yêu đương
Thầm
Và như con cừu được chuyển hoá từ vô tính
Cloning

Rồi anh sẽ thấy
Vầng trăng hướng về cùng lũ lụt
Loài phiêu sinh thành những đấng thiên thần
Cùng hát lời yêu
Trong buổi ăn với thịt xương của nhau
Bên khúc hồ cầm
Âm trầm vĩnh biệt

Cuối cùng anh sẽ thấy
Em - con sóc ngộ độc
Ngơ ngác trong vùng chữ nghĩa nhân gian
Anh thu mình trong
Mùa xuân lá đổi màu tang
Máu đọng óc khô
Màu mắt nâu trơ trụi lạc thần
Em soi tóc
Ðứng khóc bên loài sơn dương
Vô tính

Tóc Dài

VNNP 10


Áo Trắng
* tặng tường vi

gom kỷ niệm thương hoài hoa phượng đỏ
rót vào hồn ấp ủ lá me xanh
chiều chớm lạnh vỡ òa ngàn thương nhớ
tiếng thở dài đọng lại một lần mưa

tháng tư đó phượng buồn đành khép nụ
điệp khúc hè cân nín bởi người đi
áo trắng ơi đông phủ cả sàigòn
con ve nhỏ chết dần trong nỗi nhớ

thành phố ấy cứ gần như hơi thở
làm xót xa nặng cánh én lẻ bầy
trời chuyển tết đường về cây rụng lá
lót chân người đất lạ nẻo đường xa

chiều nay nữa cũng mây trôi cụm nhỏ
góc giáo đường cầu nguyện một ngày mai
mang xuân đến ở hoài trên đất nước
đón nhau về áo trắng dựng trường xưa

12/99
song vinh

VNNP 11


Những Lời Vô Nghĩa

Cùng em lên đồi
Kiếm hạt sao rơi
Kiếm lời em hứa
Mãi còn yêu tôi

Cùng em vô rừng
Lá hoa tương phùng
Tìm xưa lạc dấu
Tìm sau ngõ cùng

Cùng em lên chùa
Bụt rồi cũng thua
Lời nhang ý khói
Những lời gió đưa

Theo em xuống suối
Vớt đám mây hoang
Vớt hòn đá nổi
Về xây mộng vàng

Biển hẹn trong tâm
Sóng nghe thì thầm
Những lời vô nghĩa
Trăm năm, ngàn năm

Theo em xuống phố
Em lượn tung tăng
Như vừa trúng số
Như chưa nợ nần

Lúc em lên giường
Em quay vào tường
Tôi như đá mỏi
Ngủ lăn vệ đường.

Hà Huyền Chi
Hahuyenchi@aol.com

VNNP 12


Ngày Giáng Sinh Có Em
( Không )
về T.

Mỗi năm ngày sinh Chúa
Thương tình chẳng thôi nôi
Cuối năm anh nhớ Chúa
Hay nhớ thuở đầu đời?

Em trong đoàn ca thánh
Anh lãng tử học đòi
Em cùng anh đêm lạnh
Hẹn nhau trốn lên đồi

Ánh điện vàng lấp lánh
Mắt em hiền, đen trong
Tiếng chuông ngân lanh lảnh
Em khẽ nép vào lòng

Khu Kim Sao bừng hội
Mà chúng mình bơ vơ
Giữa dòng người như lội
Chợt hiểu tình đơn sơ!

Và em có còn nhớ
Ngày lạnh tháng mười hai?
Và em có còn sợ
Ðường khuya về với ai?

Chắc không đâu em nhỉ
Ðời vật đổi sao dời
Như chúng mình ngày ấy
Mười mấy năm qua rồi

Chiều nay anh thương cảm
Nhớ da diết một thời
Tay đời không ai nắm
Người ơi, ơi, người ơi!

Người ơi, ơi, người ơi!

Trần thái Vân
ttv@usạnet

VNNP 13


Cuối Năm Một Ðoạn Ngắn

Trăm kẻ ra đi bặt tin về
xuống đường lưu lạc bước vào mê
thời gian những cánh đời tơi tả
một phút bình yên chẳng gợi kề

Ta như con ngựa què mất cẳng
một giải yên cương bạn đã cầm
nào ai biết được đường đi thẳng
rồi cũng lui về phố tịnh tâm

Cái lạnh nơi đây dài muốn chết
nhớ những chiều mưa rượu uống càn
dăm hồ tửu tụng quên trời đất
mấy cuộc vui buồn giọng hát khan

Ta có bơ phờ thân viễn xứ
chẳng qua sinh, sử nợ ba đào
ai người chẳng muốn trời yên gió
mà lệ trùng dương vẫn gối trào

Ba năm một đoạn gửi người quen
lòng vẫn say như có bạn hiền
có phút ân cần khi gặp gỡ
cho dài tâm sự buổi tàn niên .

Hoàng Xuân Sơn
hoangxuanson@hotmail.com

VNNP 14


Chơi Cút Bắt Với Em

Năm, mười , mười lăm, hai mươi
Anh chơi cút bắt tháng mười với em
( Tường Vi )

1
Năm , mười , .... mười lăm , .... hai mươi
Búp môi hé đỏ nụ mơì hồn nhiên
Tu hoài không được thành tiên
Bởi em huyễn mộng tôi ghiền trần gian

2
Em đứng úp mặt vô tường
Vách hôn ngây ngất hai đường mi cong
Tôi đang núp mé bụi hồng
Vịn cành gai nhọn nghe lòng chợt ghen

3
Tôi đi trốn , em đi tìm
Gió vờn theo gót chân chim cợt đùa
Giá tôi là một ông vua
Bắt gió đem nhốt cho chừa lẳng lơ

4
Trốn tìm qua mỗi câu thơ
Làm sao cấm đưọc tôi mơ điên khùng
Mơ sao biến thành vi trùng
Chui vào lồng ngực chỗ nằm tim em

5
Chín mươi ... chín lăm .... một trăm
Giọt nắng trong mắt long lanh ai cười
Khi đi ngang chỗ tôi ngồi
Giọt nắng dẫm phải bóng tôi vô tình

6
Mang chi đôi guốc bảy phân ?
Coi chừng vấp té vào lòng tôi đây
Mắc công không uống mà say
Say hương em rớt suốt ngày ngất ngư

7
Năm , mười ...ứ... ừ . .. .. Hình như ....
.... chấm ..chấm ..( khó nói ) kể từ gặp em
Xoè tay nè , thử đếm xem
Tôi , em còn phải trốn tìm bao lâu ?

8
Tưởng hoa vàng giắt cài đầu
" Bẻm ăn " chú bướm theo sau lạc đường
Ai ngờ em thả trầm hương
Tôi đu cánh bướm lạc vườn tóc hoa

9
Gió vòng qua ngọn núi xa
Về chơi cút bắt tôi và với em
Dịu dàng em lật gió lên
Mười thương tôi đếm còn nguyên đủ mười

10
Năm , mười , mưòi lăm , hai mươi
Bên trời mây trắng một đôi cặp kè
Thơ tôi trú mái hiên che
Em ngưng tiếng đếm có nghe thì thầm ?

Quan Dương
Quancduong@aol.com
1/2000

VNNP 15


SÁNG TÁC - GIỚI THIỆU


LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG
Hai Trầu

Kinh xáng Bốn Tổng Ngày 24 tháng Chạp Năm 1999.

đôi lời thăm anh Chị Hai Tân An,

Hôm rồi tui có nhận được tuồng hát bội Nhạc Hoa Linh do
anh Hai gởi dìa dưới này, tui đọc mê mẩn gần cả tháng
trời anh Hai à ! Tuồng hát bội này xưa lắm rồi; nó gồm
có năm hồi và nhiều màn, nhiều cảnh . Tác giả không
biết là ai vì đời xưa, người ta hay để khuyết danh, hay
vô danh lắm anh Hai à ! Người đời xưa làm ra thơ văn
tuồng tích nhiều bài bản hay quá là hay nhưng không cần
lưu lại tên họ, tuổi tác gì ráo trọi mà hay vẫn cứ hay
và rồi sách vở cứ lưu truyền đời đời kiếp kiếp
hoài. Theo người phiên âm lại là nhà văn Nguyễn Văn Sâm,
nghe đâu ở tuốt bên Mỹ, ngay cái chỗ hồi xưa hay đóng
phim cao bồi, chịu khó ra công ghi chép, phiên âm, chú giải
lại nên anh Hai mới có mà gởi dìa cho em út dưới này ham
mê hát bội có mà đọc . Trời thần ơi, tui giả bộ đọc
có giọng có bộ ê a như gánh hát bội cúng đình, bà con
chòm xóm túa lại xem tui diễn thử mà cười gần bể cái
bụng . Vậy mà tui cũng vui nữa anh Haị Già rồi bịnh hoạn
hoài nên vui được lúc nào là mình cứ vui, mà vui với
chuyện hát bội như tuồng Nhạc Hoa Linh này của anh gởi dìa
thiệt là quá ý nghĩa .

Mèng ơi, theo ông Nguyễn Văn Sâm, người phiên âm bản này
ra chữ quốc ngữ, có ghi ở đầu tuồng là tuồng này xưa
quá là xưa, nghe đâu hồi cuối thế kỷ thứ mười chín
lận. Mà cơ khổ, tuồng hát bội của mình, ở xứ mình
lại không có lưu giữ mà nó nằm chình ình bên thư viện
của Ăng Lê với bản tiếng Nôm. Thiệt là quí phải không
anh Hai . Quí là quí cái tuồng cổ đã đành, nó còn quí
ở cái xứ văn minh như Ăng Lê mà còn biết gìn giữ tài
sản của ông cha mình; thêm nữa, quí là quí ở cái người
có lòng như ông Nguyễn Văn Sâm chịu khó tìm tòi lục lọi
cái xưa, cái hiếm để phiên âm lại cho con cháu đời nay
cũng như đời sau có mà học hỏi
. Tuồng Nhạc Hoa Linh vào đầu tuồng khi mở màn có mấy câu
nói rao này do phiên giả Nguyễn Văn Sâm phiên âm ra như sau :
"Rồng chầu sân thuấn, phụng múa đền Nghiêu .
Mừng Nam triều nối nghiệp quốc vương, lòa đất Việt
thần truyền thánh kế .

Giới Bài quan trọng trấn, lão tánh Nhạc Hoa Linh.

Trọn năm đời phò tá đế đình, luyện một tiết rạng lòa
nghĩa khí .

Văn Gia Cát tinh thông lược trí, võ Tôn Quyền lòa thuộc
gương binh.

Sanh một trai nối nghiệp trâm anh, hỡi ngàn dặm theo thầy
học đạo a !!!"

Phiên giả Nguyễn Văn Sâm còn tóm lược mỗi cảnh bằng hai
câu thơ nghe nó mới đã . Chẳng hạn trong hồi một, phân
hồi một hay còn gọi màn một, hay cảnh một cũng được anh
Hai à, có hai câu này :

"Chú Hoa Linh trấn ải Bài quan,
Cháu Thiền Ngọc trau văn luyện võ ."
Rồi tiếp theo màn hai lại có hai câu khác :

"Diệm Phi Ma tấn kích Bài quan,
Nhạ Hoa Linh sẵn sàng cự chiến."

Rồi tới màn ba :

"Chốn thâm cốc Hoa Linh bị hãm
Nơi trận tiền Thiền Ngọc giải nguy ."

Cha, càng đọc càng mê nghe anh Hai . Hai chú cháu Hoa Linh và
Thiền Ngọc này cũng tài giỏi dữ lắm. Nhưng tui mê nhất
ở Hồi 3, màn 2 , cái cảnh sao mà giống mình hồi năm nẳm
quá là giống :

"Thời vận hạn, Hoa Linh bị bắt,
Cảm nghĩa ân dân chúng khóc đưa ."

Thiệt là ý nghĩa nghe anh . Ôi thôi, còn nhiều lắm anh Hai
à. Tuồng này dài tới năm hồi, nhiều cảnh, nhiều màn
lắm, tui mê quá trời là mê . để hôm nào anh có rảnh
xuống dưới kinh xáng Bốn Tổng này chơi, tui biểu sắp
nhỏ kiếm mồi hai anh em mình nhậu lai rai rồi tui hát thử
cho anh nghe chơi, chắc là cười bể bụng.

Ở Tân An, anh có lên Sài Gòn mua sắm đồ đạc ngày lễ
đức Chúa Trời ra đời không anh ? Từ Tần An lên Sài Gòn
gần sịt chứ có xa lơ xa lắc gì . Dưới này, hôm kia tui
đi ra Long Xuyên rồi đi lòng vòng lên làng Bình Thủy, Năng
Gù coi thử cái cảnh đón mừng ngày đức Chúa ra đời xem
có bằng hồi trước hông . Nhưng sao tui thấy cũng không vui
gì mấy . Nhớ hồi trước, bên Cù Lao Giêng, thuộc quận
Chợ Mới, là xóm đạo đầu tiên và lớn nhứt vùng này
cứ mỗi lần tới ngày lễ Giáng Sinh này là vui lắm anh Hai
à ! Lâu quá rồi, lại nữa cách giang cách đò, mình lại
trọng tuổi nữa nên tui cũng ít đi qua bên Cù Lao Giêng,
thành ra không biết đời này có giống đời trước hay
không ?

Còn anh ở Tân An, có khi nào anh nghe nói hay tìm hiểu về
cái mã chôn đứng khỏi trường sư phạm cộng đồng hồi
trước một đổi về hướng Mỹ Tho hông anh ? Chứ hồi tui
còn nhỏ, nghe đồn người chết được chôn đứng là vì
bị trời trồng, thành ra tui cứ bán tín bán nghi hoài hà,
không biết hỏi ai cho rõ ngọn ngành.

Cha, nhắc đến Tân An là tui nhớ tới món khóm. Trời ơi,
khóm gì mà ngọt chí mạng, ăn rát lưỡi cũng còn muốn ăn
hoài vì nó ngọt . Hồi xưa, lúc hai cây cầu sắt đời Tây
bắc qua sông Vàm Cỏ ở Tân An một cây, ở Bến Lức
một cây, còn cái cảnh xe qua lại phải chờ bảng đỏ bảng
xanh có người lính gác trên cầu ngồi trong cái lồng cu
lật qua lật lại, mỗi lần tui theo Tía tui đi Sài Gòn, xe
ngừng lại ở gần đầu cầu là ăn khóm mệt nghỉ nhe anh
Hai . Miếng khóm thì vàng hực ghim vô cây ghim tre, tươm
mật tươm đường; còn chén muối ớt đỏ au thấy mà phát
thèm đến chảy nước miếng . Anh Hai thử coi, bụng đang
đói, móc túi lấy vài ba đồng bạc cắc là có khóm ghim ăn
cho tới no bụng. đi qua thì đã ăn rồi, tới phiên trở
dìa dưới kinh xáng lại thèm ăn nữa, khóm này hấp dẫn
không thua gì khóm Tắc Cậu miệt Rạch Giá, khóm Cầu đúc
Cái Sình miệt Hỏa Lựu, Vị Thanh.

Sau này khi tui xuống rừng U Minh đốn cây đốt than làm
củi, lập rẫy trồng khóm, trồng dừa, tui mới ngẫm nghĩ
ra cái điều này nghe anh Hai :"đất phèn thì trồng khóm
ngọt, vùng nước ngọt trồng khóm lại chua ." Cho nên, tui
mới rút ra được bài học là đất nào cây nấy anh Hai à .
Khóm chỗ anh mà có ngọt cách mấy nếu đem dìa miệt vườn
mà trồng là chịu trận, ăn chắc chua té ngữa chứ chẳng
chơi . Ý mèng ơi, bắt qua vụ trồng khóm này, hồi xuống U
Minh tui có trồng rồi anh Hai à . Thông thường từ ngày
đặt con khóm xuống mặt đất tới ngày khóm có bông là
đúng mười tám tháng theo trời đất mưa thuận nắng hòa .
Nhưng tình cờ có thằng bắt nhái bằng đèn khí đá té
nhào vô đám khóm, đèn đuốc văng tứ tung, cứt khí đá
văng đầy lên bụi khóm còn non rồi tình cờ người ta
thấy sao chòm khóm trổ bông sớm hơn mấy bụi khóm khác
cùng trồng một lượt. Thành ra, sau này căn cứ vào cái
vụ thằng bắt nhái bắt cóc, người ta bắt chước tưới
khí đá lên ngọn khóm để cho khóm trổ bông sớm. Khóm
trồng được cỡ mười tháng là bắt đầu lấy khí đá
pha trong nước, rồi lấy keo chao múc nước khí đá đỗ
tưới rượi lên ngọn khóm là vài bữa sau khóm trổ bông
ráo trọi . Mỗi keo chao như vậy mình tưới được bốn cây
khóm nghe anh Hai . Nếu anh có trồng vài bụi khóm chơi, anh
tưới thử là sẽ thấy linh ứng liền hà ! Khóm muôn,
khóm ngàn mẫu, mình phải chia ra từng lô rồi tưới khí
đá . Nay tưới mẫu này, mai tưới mẫu kia, chứ anh hai mà
tưới một lượt cả ngàn công khóm, tới chừng có trái
chỉ còn có nước kêu thằng em lên xắn khóm đem dìa ăn
chứ bán buôn gì kịp, vì khóm sẽ trổ bông một lượt,
khóm già một lượt, khóm chín một lượt, quân ngũ nào mà
ăn cho hết. Phải vậy hông anh Hai ?

Còn hỏi anh vụ này nữa, hai cây cầu treo ở Thủ Thừa,
anh Hai có nghe ông bà xưa kể lại là Tây nó bắc hồi năm
nào không anh ? Hồi tui chở gạo lên Sài Gòn qua ngã này
chun lòn dưới mấy cây cầu này ghê quá anh Hai . Sao tui
thấy nó đung đưa như răng bà già tám mươi tư tuổi.
Sông sâu nước chảy, cầu treo, ghe tàu chạy rầm rập nên
sông nước vùng của anh cũng khá rộn ràng nhộn nhịp, nhưng
lạ nước lạ cái sao tui thấy đời mình trôi nổi cũng
buồn buồn, không vui nổi ... Cái thơ nói lòng vòng định
ngưng hồi nãy mà sao nó kéo ra thêm nên dài quá . Mấy lời
thăm anh Hai, chị Hai cùng sắp nhỏ mạnh giỏi, ấm cúng ba
ngày lễ mừng đức Chúa ra đời . Sẵn đây, năm 1999 cũng
sắp hết, năm 2000 gần tới rồi, vợ chồng tui chúc mừng
anh chị cùng sắp nhỏ năm mới 2000 làm ăn phát đạt, khóm
mía trúng mùa, rồi có dịp ghé xuống kinh xáng Bốn Tổng
nhậu chim ốc cao rô ti, gà nước xào mướp hương, chuột
cơm nướng tươi chắm nước mắm bằm xoài đặng nghe tui
hát bội tuồng Nhạc Hoa Linh của ông Nguyễn Văn Sâm phiên
âm ra quốc ngữ cho đở buồn . Chắc anh chị sẽ cười
bể cái bụng !

Anh Chị Hai có ghé quán cà phê của Cô chủ quán Thu Thuyền,
cho tui gởi lời thăm hỏi chủ quán cùng khách khứa văn
nghệ ở đó uống cà phe vui vẻ hưởng nhiều phước
lộc nhe anh chị Hai ! Tui dưới này cũng đang lai rai rượu
đế cho giải thần sầu !

Cuối thơ,
Hai Trầu

VNNP16


Như Nước Trong Nguồn
Truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm

'Cao cao chi tổ, viễn viễn chi tông, thúc bá đệ huynh, cô
nhi tỷ muội nhà bây ra nghe tao chửi thơ nè...

'Sóng bủa thuyền câu lướt dập, nhà sập bìm bìm leo, đéo
mẹ tổ chó đẻ nó cũng leo theo...Tổ cha ông bà
nó...chơi với khỉ, khỉ vổ đít, chơi với con nít, con
nít lờn mặt, không bằng tuổi lẻ của tao mà

bây bày đặt nói ra nói vô để gia đình tao hục hặc xáo
xào...'

Tiếng chửi của bà Hương giáo Hải ngọt như tiếng ca của
mấy cô danh ca Ba Bé, Tư Sạn trong dĩa hát Asia cất lên
đằng kia, lan trong gió chiều, tỏa ra phía đầu nầy cù-lao
đánh dấu sanh hoạt đặc biệt cu ?a xóm mà má tôi xác
định rằng thì là 'đi bốn biển chín châu cũng không dễ
dầu gì gặp'. Mỗi lần bà Hương trổ tài là mỗi lần
tôi và bàng dân thiên hạ ở đây khoái chí tử: vừa
giải trí vừa đổi thay không khí nhàm chán của một nếp
sống trầm trầm trong vùng đất nhỏ bằng bụm tay lọt
giữa con sông rộng kéo dài trước đó. Sồn sồn người
nhưng du dương giọng, bà Hương có tiếng chửi không khác
mấy tiếng hát ru em trưa nắng, mùi mẫn như bài ca dạ cổ
hoài lang từ phu tướng lên đường, đã điếu còn hơn nghe
mấy con nhỏ xóm dưới kéo vuốt lên cao ngất nhọn lễu
như kim chích nhè nhẹ, nhột nhột vô tim, lăn tăn tới từng
sợi dây thần kinh trên khắp cùng thân thể, mấy tiếng
chót của một câu hò ruột. Nói có hơi quá, nhưng còn
khoái hơn nghe trai gái mèo mỡ đối đáp trững giỡn lúc
giã gạo đêm trăn g. Chứng kiến tụi nó ỡm ờ trao tình
bằng miệng hò mắt liếc tôi khoái lỗ tai thì có mà bằng
bụng thì không. Tôi nhớ tới tấm thân tôi. Con trai khi
dễ coi như chẳng cùng loài cùng lứa, kiểu thằng Lai,
thằng Chệt nào lạc loài trong xóm. Con gái đi ngang qua
không cần biết tôi đương đứng đó, đương có mặt.
Không đứa nào ngó thẳng vô mặt tôi mà biết mắc cở
bối rối, trong khi đó đối với mấy thă `ng khác cở
tuổi tôi, mấy con nhỏ nầy thường khi hành động kiểu
như bị hớp hồn: quýnh quáng, tiếng được tiếng mất,
cà-lăm cà-lập, vuốt-vuốt tóc, kéo-kéo áo, đỏ mặt
cúi đầu ngó-ngó xuống ch ưn ....thấy mà phát nực. Có
đứa còn lấy ngón cẳng cái chà-chà dưới đất thiếu
điều chết cha khoảnh đất chỗ đang đứng, trí óc bay
bổng mất tiêu, mười điều hỏi trả lời ăn-trét hết
tám, chín. Lũ quỷ nầy một trăm đứa như một, đi ngang
tôi như bước qua khúc cây mục nằm chận đường đi, như
đi vòng một vũng nước dơ cần tránh, ngó tôi như ngó
một gò mối, một đống đất, một cục đá tảng ; tĩnh
rụi. Tôi hỏi, tôi chào tụi nó cũng trả lời bã-lã
bô-lô vài ba câu vậy, nhiều khi vui vẻ thân mật nữa là
khác, nhưng mà qua con mắt vừa nháy nháy vừa suy nghĩ của
tụi nó, chém chết tôi cũng thấy chàng ràng trước mặt
một điều gì đó như là tội nghiệp, như là thân mật
bằng tình anh chị em chòm xóm láng giềng nổi lên trong
lòng.

Tôi với tụi nó đồng trang lứa chớ bộ, mặc dầu tôi
không xổ người bự-xộn như thằng Quang, nhưng đâu phải
teo nhách không nên hình nên dạng đâu. Chỉ hèn đứa một
chút vì bận-bịu cặp nạng thôi. Làm gì có cái tình tinh
khiết đó giữa trai tân gái mọn không cùng máu mủ. đứa
nào mà có dính líu một chút xíu bà con, thứ đồ bà con xa
mút tí tè chống bảy sào không tới, vừa đi vừa nhai rồi
liệng c ả chục miếng trầu cũng còn xa-lơ xa-lắc, kiểu
má tôi với thiếm của nó cùng một đầu ông cố, mà hể
phải đối đáp thân thiết tới câu thứ nhì thì tụi nó
dở giọng xa-xa, gần-gần, kiểu cật ruột m áu mủ, lại
còn làm bộ ngây thơ thân tình theo kiểu bà con. Nực
thiệt, nhiều khi ước sức tôi muốn đá cho một đá hay
xán cho một bạt tay mới đã nư.

Bởi vậy tụi nó trai gái hát hò, nghe thì nghe chớ tôi
không kết cho lắm. Bà Hương giáo chửi thì lại là chuyện
khác à nhe! Lạ lạ, hay hay. Thưởng thức mà không thấy
tức tức ghét ghét ganh ganh bụng, nghe mà thanh thản, thơ
thới lòng. Tôi tỉnh táo uống hớp từng âm thanh giai
điệu, tôi bàng hoàng lạ lẫm về sự phong phú thần sầu
của làn hơi con người ta trong việc vuốt tiếng lái giọng.
đó là chưa kể về mặt ý nghĩa, câu chửi ở đây như
ẩn hiện chập chờn một yếu tố đặc biệt gì đó
khiến cho mình khoái rơn, nhiều khi muốn nhảy dựng lên,
muốn cười thật lớn. Nếu lâu ngày mà bà ta không lên
tiế ng tôi dám cá một ăn mười là nhiều người thấy
thiếu thiếu thèm thèm lỗ tai kiểu như bữa nào bà ngoại
lật đật đi xóm, quên đem theo ô trầu chắc lưỡi than
thèm miệng.

Tôi ra chỗ ngạch cửa ngồi chống mỏ vãnh tai về mé nhà
bà Hương. Cả tháng nay sức mấy mà được thanh nhàn!
Bữa nào như bữa nấy, cơm nước rồi ngồi xạo sự chưa
đầy một tiếng đồng hồ, ghế chư a nóng đã lo dở
mùng chun vô, mấy bả hối còn quá cha chạy giặc. Trong
mùng ánh sáng lờ mờ đọc lén giỏi lắm hết một hồi
truyện đã nhướng hết lên, buông xụi sách, chỏng cẳng
ngáy.

Cả tháng nay giận chuyện gì không biết mà ba tôi ăn dầm
nằm dề bên Mỹ Tho, cuối tuần cũng không thèm đi đò về
thăm má tôi với ngoại. Má tôi thì bỏ lúng nhà cửa ở
bển cho chó chạy, qua ở bên nầy với bà ngoại tôi chỗ
tôi ở thuở giờ, mặt một đống, lầm-lầm lì-lì.
Má tôi và bà ngoại, hai người đàn bà nầy tối ngày xầm
xì nhỏ to. Khác với mọi lần, không ai thèm hỏi han, đếm
xỉa gì tới t ôi. Nhà như có đại tang, ai cũng ngồi đâu
ngồi đó một đống, chù ụ. Mất vui. Lúc trước nhiều
khi hứng chí, tôi thường làm tuồng hay hát hò ngêu ngao
theo mấy bộ dĩa làm cho căn nhà như có nhiều ngư ời
tùng tam tụ ngũ đập bồn đập bát, bây giờ cả ngày tôi
nằm bẹp trên ván ngựa ngốn tới ngốn lui tới rách nát
cả chục trang trước, văng mẹ nó năm sáu tờ sau mấy
cuốn Gia Long Tẩu Quốc, Hoàng Tử Cảnh Như Tây, Giọt Máu
Chung Tình của cái ông Tân Dân Tử nào đó, nhiều khi mấy
giờ đồng hồ làm biếng không thèm mở miệng, cần lắm
thì ậm-à ậm-ừ cho qua. Thằng Quang anh tôi thì coi mòi
kỵ hai người đàn bà đó hơn, không cho chạm mặt. Nó
tránh nhà trên, móc võng dưới bếp, đưa tòn-ten kẻo-kẹt,
lâu lâu làm xấu kéo cẳng lên gãi sồn sột, thở dài
thường thượt như đầu thảo hụi bị tay em giựt tới tán
gia bại sản nằm tiếc của thở ra. Cái thằng mới buồn
chuyện gì có vài ba bữa mà coi bộ xuôi cò, như chết
chưa chôn, luôn luô n thủ chai dầu gió trong túi độ
chừng mười lăm phút, nửa giờ thì móc ra quẹt một cái
lên lỗ mũi, mặt dàu dàu. Nó hết còn vãnh mõ hí hửng
khoe mình từng làm tưới xượi đám con gái ở xứ nầy
ngay k hi tụi nó trái tràm vừa mới lu-lú độn vải, theo
cái câu rộng đồng thì gió thổi lên, khi vui con chị khi
buồn con em. Tôi tò mò muốn biết chuyện gì xảy ra trong
cái nhà nầy nên vừa hỏi vừa chọc nó tại sa o không lội
đi nữa, lội vô vườn thiên hạ làm cái chuyện hoa thơm
nhổ cả cụm, không để lọt con nào như nó từng tuyên
bố mà nằm lê lết như chó què ở nhà. Hỏi gì hỏi.
Nói gì nói. Chọc gì chọc. đá gì đá. Nó day mặt chỗ
khác giả câm giả điếc không trả lời trả vốn gì hết.

Tôi phải sử dụng cách tam khí Châu Do ngâm nga sông dài con
cá lội biệt tăm.... rồi nín thinh, dềnh dàng. Nó ngó
tôi, chờ đợi câu tiếp. Ngu sao? Tôi chuyển mục Sàigòn
xa chợ Mỹ cũng xa, rồi lại làm thi nh một hồi lâu ớn,
từ từ rót nước, uống từng ngụm nhỏ theo dõi sự khoái
trá trong lòng mình bằng "nỗi đợi chờ và bực tức của
địch thủ". Nó theo dõi tôi từng cử chỉ tôi biết chứ
sao không, nhưng giã đò không biết. Phải dạn miệng mới
được. Tôi đưa tay quẹt mỏ, liếc mắt ngâm câu kế, đâm
thấu vô tim nó 'Em dông xứ Huế thành đô, như cá biển
hồ bao thuở gặp nhau'. Thằng lăn lộn nhiều, bị ch ạm
nọc, phản ứng chì lắm: chụp chiếc guốc lòng mức nặng
chình chịch phang lẹ như bà xẹt về phía tôi bất kể
trúng trật. Hú vía! Nếu không lẹ tay đưa cây nạng lên
đở thì chắc lỗ mũi ăn trầu, cái đa ^`u xỉa thuốc bữa
đó chứ hỏng chơi. Vậy là trúng ngay boong rồi. Tôi
bưng miệng cười lén, nó ngậm cán búa rồi, thất tình con
Nhàn vì nàng cuốn gói ra đi.

Bữa nay nó đi xứ lai xứ đế nào ngay sau khi dằn ba hột
cơm chiên hồi tưng bửng sáng, chắc là đậu chến ghiền
ăn từng xu nhỏ tiền xu ở đâu đó đằng nhà mấy chị
đàn bà góa vô công rồi nghề số ng bằng huê lợi vườn.
Má tôi thì đi đò qua bển coi chừng chừng hễ ổng thiếu
gì thì lo, bỏ lúng xót ruột. Nhà vắng vẻ trống trải
vậy mà tự do, vừa hóng gió mát chập tối vừa nghe bà
Hương chửi tho + thì đã như tiên. Mới dứt bữa còn no
nhưng muốn ngồi lâu mà không buồn miệng tôi lọc cọc
xuống bếp lục lọi. Có năm sáu củ khoai lang nóng hổi,
tôi quơ đại quơ đùa mấy miếng lá chuối khô đâu đó b
ọc lại ơ hờ, ngó dáng bên ngoài lòi cái vỏ tim tím bên
trong. Tôi cạp nhẹ lớp vỏ tim tím, bùi bùi, thơm thơm.
Bẻ hai củ khoai ra, ngó khói trắng bốc lên từ giữa lớp
ruột trắng bóc đầy bột, tôi hé răng c ắn một miếng
nhỏ, lim dim mắt, ngậm miệng chịu đựng cái nóng muốn
lột lưỡi rớt răng. Vậy đó, ở đời có những cái
khoái đau đớn mà cứ theo đuổi hoài, con người ta thiệt
kỳ cục không hiểu nỗi. Thằng anh tôi siểng niểng vì
điếm cờ bạc đốt cháy túi, vì bị con gái cho leo cây tha
mỡ bò. Và tôi, mấy cái chuyện lặt vặt như ăn khoai
lang nóng nghe chửi nghe hò, dòm con gái rồi nghĩ bậy tới
tức tức (d. x) phải bụm mà chịu.

Vợ anh Bảy Nhành, thợ đẻo cối, bưng tô cơm bự chảng
ra ngồi ở ngoài hàng ba vừa nhai nhép nhép vừa tủm tỉm
cười một mình thấm ý. Mấy đứa con nít đã xúm xít
như đâm thịt trâu toi đông nghịt ngo ài hàng rào nhà bà
Hương, lấn xô đẩy háy kêu réo vui còn hơn nhóm chợ.
Thiên hạ ở xóm Cây Dừa nầy cũng ưa nghe chửi dữ tợn
ha? đâu phải riêng một mình tôi đâu?

Vậy mà Bà ngoại tôi nghe tiếng nạng lọc cọc lên xuống
trên nền nhà ngó ra đã thấy tôi ngồi tréo ngoải hóng mỏ
đã lật đật réo ngược réo xuôi biểu đi vô. Bà già lo
xa kiểu mấy người gần đất xa trời! Nghe thiên hạ
chửi mình, mới bực mới tức, chớ nghe thiên hạ chửi
thiên hạ thì khoái lỗ tai chớ có hại gì đâu? À! Tới
chỗ vui! Bà Hương giáo quẹo vô chỗ chánh... Ví von
nhiều, tôi nghĩ là không ai đủ trí nhớ để kịp thời
ghi lại. Tất cả đều nhằm vô con chó đẻ 'đa sự em
chồng của bà'. Cô ta động mồ động mả nên thèo lẻo
ton hót gì đó cho ông Hương giáo đổ thừa bà về trách
nhiệm chuye ^.n con Nhàn cuốn gói ra đi. Giọng bà hay lắm,
chữ nghĩa lại bất ngờ, ví von theo kiểu vè các thứ bánh,
trái, cá... nhiều khi tôi buột miệng tính khen phải lẹ
tay bụm, sợ bà ngoại ngầy. Cũng là tại con Nha `n hết,
tôi thấy nó cặp bồ với thằng Quang lâu lắm rồi.
Nhiều đêm hẹn hò ngoài bụi chuối sau hè nhà lớn, xế xế
bụi môn, chờ cho trăng lặn anh chị mùi mẫn, cụp lạc.
Không biết tại sao mà nửa chừng con nhỏ bỏ nhà trốn đi
để cho thằng anh tôi há mỏ thở dài chết đứng chết
ngồi, để cho má nó lớn họng chửi ... hết cả xóm.

Xóm nầy vậy không, đụng chuyện gì đâu không biết của
hai người cũng ong óng lên như giặc chòm. Tháng rồi bà
Năm Tỷ giao mận cho thiếm Hai Rê đủ thiếu sao đó, hai
đàng cãi cọ ba chục bội năm chục bộ i, đằng nầy nói
đằng kia lật lọng, đằng nọ nói đằng kia làm bộ
quên... Vậy là cả xóm nghe chửi đầy lỗ tay. đầy
trời thiên hạ ở đây vậy đó, tin nhau bằng lời, không
lẽ gạch chữ thập, lăn tay h ay chạy lại mượn người biết
chữ viết trên giấy tín chỉ đến chừng có chuyện, sư
nói sư phải, vãi nói vãi hay, dậy giặc hoài hoài. Có
điều dễ thương là năm bảy bữa nửa tháng hai đàng lại
chị chị tui tui, cười mơn nói ngọt. Có lẽ ở cái
cù-lao nhỏ bằng hột mít nầy, quanh đi quẩn lại cũng có
bấy nhiêu người, không nói ra nhưng ai cũng thấy một
điều là giận cách mấy cũng thấy mặt nhau thường bữa,
kéo thẳng ra thì ông bà xưa hai đàng không bà con cũng là
anh em bạn. để rồi coi, chuyện nầy không kéo dài đâu,
êm ru bà rù liền bây giờ. Tiếc là tiếc con Nhàn ra đi,
mà ra đi kiểu nầy thì có trời mới biết chừng nào nó
mới trở lộn về. Uổng thiệt. Ngồi trong nhà thấy nó
thấp thoáng bên kia, ngực một ngực, lồ lộ thiếu điều
căn xé áo nhảy ra ngoài, tôi cũng đã cảm nhận nỗi vui vui
tràn ngập lòng, đời thiệt thòi như được trút bớt vài
phân.

Bà ngoại nắm tay tôi kéo vô nói hay ho gì mấy cái chuyện
chửi lộn mà phải chạy tuốt ra sân vãnh lỗ tay ra hứng.
Vừa thôi chớ bà nội! Ở ngoài nầy với ở trong nhà
có khác gì đâu? Nghe thêm vài câu chửi bậy thì cũng
đâu tới nỗi hư thân mất nết. Thân tôi mà còn sợ hư
cái nỗi gì chớ? Trời bắt vậy thì nó vậy, không hư
mà cũng không tốt lành gì đó. đời tôi kể như bỏ
rồi. Bỏ từ lúc mớ i biết khóc đêm tủi thân thua sút
chúng bạn. Biết bao nhiêu chuyện tụi bạn trang lứa làm
được dễ dàng mà tôi thì cố gắng trầy vi tróc vảy cũng
ạch đụi lẹt đẹt; leo cây là một, lội sông là hai, u mọi,
d -á lon, đá banh, đá cầu là ba, bốn...

Ối thôi, đủ thứ thua sút người. Tôi nhe răng cười,
trì lại. Không phải không nghe lời, dể duôi. Tôi muốn
chứng tỏ với bà tôi đã lớn, có quyền hưởng những
tự do cần thiết. Thằng Quang đó, lớ n hơn tôi có hai
tuổi chớ mấy, giỏi rầy la nó đi. đường ngách nào
cũng biết, chuyện chơi nào cũng nhúng tay. Cả ngày xạo
sự đầu trên xóm dưới, mười một mười hai giờ đêm
đã đời tơi ống ngoái mới bò về, khi thì chui đằng nhà
đẳng ngủ vùi, khi thì vô nhà nầy lục cơm, xin tiền rồi
đi nữa. Có ai rầy la mắng mõ gì đâu? Nó chỉ trên
chưn tôi có cái thân hình thôi còn tật xấu thì ấp lẫm,
no 'i láo dàng trời ai cũng chạy mà ai cũng làm thinh, coi như
chuyện đương nhiên. Tôi chê nó đục chưa chắc tôi đã
trong, nhưng tức quá, không sao khỏi nghĩ tới sự khác
biệt giữa hai anh em chỉ sanh ra trước sa u không đầy hai
năm mà số phận vô cùng chinh lịch. Trong khi tôi không bao
giờ có tới năm đồng dằn bóp, nó phải có vài tờ giấy
con công mới chịu êm, không thì nẹo trèo trẹo. Phân bì
thì mười miệng như một nói nó khác tôi khác. Tại sao
khác mới được chứ? Tôi cũng người vậy chớ bộ cây
cỏ sắt đá hay thú cầm gì sao? Tôi trì mạnh hơn khi nghĩ
tới đó. Miệng tôi vẫn cười cười. Bà ngoại tôi giá
giá tính đánh vô tay tôi. Nói nào cho ngay, nếu có đánh
bà đánh như phủi bụi chứ gì, tôi biết quá còn lạ gì
chuyện nầy, nhưng mà cũng làm bộ năn nỉ cho bà vừa
lòng nại cớ ngồi ngoài trước sân cho ma 't, đi ngủ bây
giờ đâu được, nóng quá, người chứ đâu phải gà mà
mới đỏ đèn đã chun vô chuồng, thêm nữa tiếng chửi
dọng vô lỗ tai ai mà chợp mắt được.

Bà ngoại buông tôi ra, không quên điểm mặt dọa một dọc
đủ thứ, nào là liệu hồn, lớn rồi có thân phải giữ,
ngồi đây muỗi tha, nghe chửi bậy bạ không nên... Tôi
khựng ngang. Lớn? Con nít? Không biết rõ lắm. Nhưng tôi
muốn mình là con nít hoài hoài. Lớn mà làm cái quỷ gì?

Vậy mà có được cho đâu! 'Chuối non giú ép chát ngầm,
trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm.' Tôi không khóc thâu
đêm nhưng hai năm gần đây như cọp chạm mồi, quen với
thịt người, tôi bị ma đưa lối quy ? dẫn đường lúc
nào không biết mà sống với thói hư tật xấu buông thả
theo sự dậy giặc của xác thịt. Nhiều đêm vô mùng lạo
xạo, ngọa nguậy vọc nát tấm thân khổ sở thèm khát của
mình cho đến khi d -ã đời mệt thiếp nằm ngủ vùi mới
chịu!

Tiếng chửi thình lình ngắt ngang như máy hát đứt dây
thiều, như lò lửa đương bừng bừng mà ai đó hắt vô cả
thùng thiếc nước. Vậy là có ai đó báo ông Hương giáo
đã về gần tới. Cứ hễ ổng v ề tới xa xa thì bả
tắt giọng chửi ngang xương như vậy đó. Còn hễ bả đã
miệng thì xuống giọng từ từ, kéo dài giọng chã chẹt như
hết dây thiều, uống một ngụm nước, thở vài ba cái
rồi bắt trớn l ại như cũ.

Tôi đợi một lúc hơi lâu, thấy êm re. Chắc chắn là
mình đoán trúng. Tự nhiên tôi thấy thương thương ông
Hương giáo. Cả đời ở khít bên người vợ biết
chửi có vần có điệu, có ca có kệ mà kho ^ng bao giờ
được thưởng thức. Giống như ông già tôi ổng có bộ
dĩa hát tuồng 'San Hậu, Nguyệt Kiểu thứ ba' mà không bao
giờ có thời giờ nghe vì còn phải bận bịu với mớ sách
tiếng Tây tàu chở qua cả thùng mỗi tháng.

Lắm khi tôi nghĩ bắt tức cười khan một mình, ông Hương
giáo lo ăn ở cho đàng hoàng để xóm giềng làng xã nể
vì dầu sao mình cũng ở trong ban hội tề nên bị mất
một cái hứng thú ở đời là nghe ch ửi bằng thơ. Tôi
biết nếu có ai mét rằng bà Hương giáo chửi rủa thiên hạ
dữ lắm thì chắc ổng cũng bán tính bán nghi. Mấy chục
năm nay có nghe bả chửi câu nào đâu? Chuyện kỳ thiệt,
trong nhà không r õ ngoài ngõ đã tường. Như chuyện con
Nhàn ổng tuyên bố tới chừng đám cưới ổng sẽ làm
tiệc thiệt linh đình. đãi đằng bà con họ hàng ba bữa
phủ phê, hạ ba con bò, heo gà vịt cá tôm cua không thèm
kể. Bây giờ trớt da me, nó ôm gói dông tuốt theo trai,
muốn đãi một bữa cơm thường cho có vị cũng lấy con
đâu ra làm cớ.

Nghĩ tới con Nhàn tôi nhớ tới con Bông con của vợ chồng
Bảy Sự, tá điền của ngoại tôi. Tuần rồi không biết
mắc mớ gì mà nó rảo qua lượn lại nhà nầy hoài. Hễ
thấy dạng nó từ đằng xa là tôi l ật đật men men ra cửa
ngóng. Nó đương sùng thằng nào chọc nên coi bộ ngúng
nguẩy, miệng lầm bầm, cặp môi nó chúm chím chu chu dễ
thương cách gì. Không phải như tụi khác bị chọc buông
tiếng nặng nề ki ểu hàng tôm hàng cá. Cặp mắt nó
tròn tròn, gò má nó phính phính hây hây coi hấp dẫn như
trái mận hồng đào sắp chín tới, hườm hườm với mấy
sợi gân nhỏ lí-tí thấy bắt thèm cắn. Nó qua khỏi nhà
một đổi xa ớn mà tôi cũng còn bị bà giục, ngó theo lom
lom thiếu điều ro +'t con mắt. Ôi! Tròn trịa và hấp
dẫn. Ôi ! Hai cái tay đánh đồng xa dịu nhiễu. Ôi! Cái
bất hạnh lớn lao của tôi. Tôi tức ba má tôi hồi đó
không lo săn sóc con cái cho đàng hoàng tử tế, giao khoán
cho ke ? ăn người làm dốt nát không biết chuyện bịnh
tật thuốc men liều lượng nên tôi đến đỗi... Con Bông
con nhà bần hàn, không chưn giày chưn dép cao sang như mấy
cô đi học bên chợ Mỹ nhưng mà được ớn. Lại khôn
nữa. Nói năng đâu ra đó, ai cũng mến chuộng. Ba nó,
Bảy Sự, dân làng nhậu, bị ma men hành té mang bịnh hậu cả
năm nay liệt giường không ra khỏi nhà. Má nó bán xôi cả
ngày ở cầu bắc, một mì nh nó lo chuyện nhà cửa, em út
mà nghe nói sạch sẽ vén khéo lắm, ai tới cũng chắc lưởi
khen ngầm. Nó là loại ở nhà giúp mẹ giúp cha, lớn lên
theo chồng thì sẽ là kiểu người đàn bà đi đâu thì kêu
chô `ng đưa gói thiếp mang, đưa gươm thiếp vác cho chàng
đi không. Nội cái dung đã thấy đáng đồng tiền, thêm
cái hạnh đó đốt đuốc kiếm đỏ con mắt cũng không có
tới hai, mấy cậu công tử nhà giàu bên chợ Mỹ mới
xứng, thứ đồ cắc-ké ở hóc-bà-tó nầy nhằm nhò gì.
Bởi vậy tôi chỉ dòm theo thôi đã đủ mãn nhãn, mãn ý.
Dòm theo. Không dám sỗ sàng dòm từ đằng trước chiếu
tướng như đối với mấy đứa khác. Cặp nạng ngáng chưn
cẳng vói tay không tới đâu hết nên tôi chào thua, đứng
xa xa mơ ước. Cây sào nối tay người ta dài ra để hái
trái chín. Cái dầm tạo khả năng cho con người di chuyển g
he xuồng lướt trên mặt nước dễ dàng. Cặp nạng trái
lại khiến tôi ngượng nghịu khổ sở, chêm khoảng cách vĩ
đại giữa tôi với tụi cùng trang lứa. Mà lạ! Cả tháng
nay má con Bông ưa qua rù rì với má to ^i, mỗi lần đứng
dậy xin phép về đều đỏ hoe cặp mắt. Má tôi nói vợ
Bảy Sự qua năn nỉ mượn tiền chạy thuốc cho chồng và
sang cái quán cơm ở cầu bắc để làm ăn sẵn dịp có
người dọn nhà lên Sà igòn, bán rẽ. Lạ thiệt chớ!
Mượn, nói một hai lần chớ sao lại ngày nào cũng qua khóc
lóc như nằm vạ, như bắt đền cái gì. Mà lần nào
thiếm cũng qua tay không, không còn quà cáp biếu xén của
ngon vật l ạ trê nọng, trê vàng, nhãn chày, chôm chôm tróc
như hồi nẳm.

Muỗi nhiều quá, tôi đưa tay đập lốp bốp vô mặt, vô
đùi. Mắc nghĩ lơ quơ quên là bà Hương giáo nín đã hèn
lâu rồi. Bà ngoại tôi đã vặn đèn xuống nhỏ hơn, luôn
miệng cằn nhằn tôi giống con g ái mẹ, làm gì cũng chùng
chình lớ rớ, vô thì vô, ở ngoài đó mà đập, lại còn
mở cửa tát hoát cho muỗi vô nhà. Bà dài dòng dây nhợ
về chuyện vợ thằng Bảy Sự, theo bà, bà giải quyết cái
một, đưa chút đỉnh nó làm gì nó làm, kéo dài làm chi cho
vợ chồng cắn đắng.

Nghe thì nghe vậy mà mù-mờ như người đi trong sương
sớm, bù trớt không biết đầu đuôi ngọn ngành ra làm sao,
tôi chỉ còn biết lỏ mắt ếch ra ngó. Hình như là bà
chê trách má tôi thiếu thông minh, kho ^ng biết giải quyết
công việc cho phải cách hay gì gì đó tương tợ... Chịu
thua bà! Cho tiền thằng nầy cũng không dám binh-bổ nói
chi làm tài khôn cự lại bà để binh mẹ. Mà nghĩ cho
cùng cũng hơi oan. Biết đâu má tôi đương kiếm cách nói
sao cho ba tôi vui lòng giúp thiếm Bảy đủ số thiếm cần.
Thiếm hồi nhỏ ở đợ cho ông bà ngoại tôi, lo giặt
giũ, cơm nước và bầu bạn với má tôi. Chắc hai người
hồi đó mến tay mến chưn nên bây giờ bà già còn nghĩ
chút tình, như ông ngoại tôi hồi nẵm nghĩ chút tình nhín
cho hai vợ chồng họ cái thẻo đất góc vườn để cất
nhà. Cái khó là ba tôi chê vợ chồng Bảy s ự dốt nát
rượu chè nên không bao giờ chịu nói chuyện quá một câu.
Chuyện giúp đở tôi thấy có đường lỏ trớt, xa vời
như nhiều đêm tôi nằm cong mình, ước ao đủ thứ, khi
tỉnh dậy thấy mọi chuyệ n hoàn không...

Khách khứa rần rần mà tôi ngồi chình ình một đống
không nhúc nhích cục cựa, dính khắn như bị đinh đóng
xuống ghế, hai tay bấu lấy cái tay ghế đai như thể
buông ra sẽ bị bay bổng khỏi cõi đời nâ `y. Không thể
nào hình dung được có cái ngày hôm nay. Tôi là chàng
rễ, chàng chớ không phải thằng, tôi mới nự thằng nào
đó kêu tôi là thằng rễ, thô tục, bình dân quá mất cái
trang nghiêm đi, con Bông đẹp đẻ khôn ngoan kia là cô dâu.
Quá xa muôn trùng nỗi ước mơ tội nghiệp của tôi hai ba
năm trời dằn dặc từ ngày biết lớn. Ngoài trí tưởng
tượng phong phú chuyện trời ơi đất hởi nầy nọ xảy ra
tr ong xóm của tất cả người chung quanh vốn thính tay nhạy
miệng thiên hạ sự. Từ lâu rồi tôi chỉ đứng
xớ-rớ trước cửa nhà thèm thuồng, với cảm tưởng rung
động ở từng sợi gân trong thân thể, ngó t heo lũ con
gái nhún nha nhún nhẩy, để rồi sau đó nằm cong queo trong
một góc giường nhắm mắt vẽ lại hình ảnh trong trí hết
đứa nầy tới đứa khác. Thường thường tới đứa thứ
hai thì tôi mệt lã, tim đập thình thịch như trống chầu,
ngủ thiếp đi lúc nào không hay, nhiều khi thức giấc bàn
tay trái vẫn còn ướt mẹp đương nằm giữa hai bắp vế,
thoảng hôi một mùi là lạ. Con Bông, con Nhàn và biết bao
nhiêu đứa trang lứa khác đã đi qua đời tôi bằng trí
tưởng tượng bệnh hoạn đó. Tôi cũng biết mình tự
dối về một điều không có, như một gã nhà nghèo hãnh
diện vì mỗi đêm đều nằm chiêm bao thấy mình lên xe
xuống ngựa, xiêm y lụa là, vợ con đẹp đẽ khôn ngoan. Con
Bông, con Nhàn hay con gì gì khác chỉ thân thiết với tôi
khi là sản phẩm của ước mơ, của tưởng tượng. Chỉ
hiện diện đối với tôi trong một khoảnh khắc ngắn ngủi
nào đó thôi. Sau đó là thực tế với một khoảng ca 'ch
vừa thấy được nhưng vừa vô hình giữa chúng nó với
tôi. Cầm tinh là một ngôi sao xấu mọc dưới vòm trời
trong, tôi như gà chạy mặt không dám đối đầu giáp mặt
nói chuyện tay đôi tới câu thứ h ai với bất kỳ một
đứa con gái nào, huống hồ là cặp bồ mèo mỡ để
được ôm ấp nó trum trủm trong lòng như thằng anh tôi hay
bất kỳ một đứa con trai nào khác.

Vậy mà bây giờ và về sau nầy, mãi mãi cho tới ngày tôi
già cúp thùng thiếc chết xuống lỗ, con Bông là người
đàn bà thuộc về tôi, ăn ở trong nhà tôi, chung đụng
với tôi hằng bữa, sửa soạn cơm nu +ớc và săn sóc tôi.
Tôi toàn quyền nựng nịu, hôn hít, chọc ghẹo, rầy la. Tôi
toàn quyền dẫn nó đi xóm giềng, tiệc tùng, giỗ chạp.
Tôi toàn quyền cấm cản không cho nó đi chỗ nào mà tôi
không muốn. To ^i được sự hãnh diện ngất trời là như
vầy mà cũng có vợ, mà vợ lại quá lịch sự người ngộ
đứa, được ớn. Biết bao nhiêu thằng hơn hẵn tôi tò
vè, trái chín lại chẳng vô tay, tôi nằm dưới gố c, sung
lại rụng ngay chóc vô miệng. Ai cũng cho tôi có phước ông
bà để lại. Có người nịnh nọt nói trước mặt má tôi
rằng tôi nhờ cái đức của mẹ. Không tốn một lời chọc
ghẹo, không mất một câu tra o chuốt, tôi ngon lành chiến
thắng ẳm trọn một đoá mẫu đơn băng trinh, một nhành
thược dược đang mơ màng thụy vũ... Tôi ngồi đây đã
hèn lâu mà không ai nói gì tới. Cô dâu Bông ở trong
phòng hợp cẩn lâu cãi rồi mà ngặc những người dẫn nó
đáng lẽ đứng lại trước cửa phòng, mắc gì không biết
bước đại vô, tới bây giờ vẫn chưa chịu trở ra. đàn
gái cầm đầu là bà má vợ tôi, trước khi thúc thít
đội khăn ra về hồi chiều đã lễ phép xin ba má tôi
được để vài người ở lại với con Bông cho 'có bầu
bạn' phút chót cho nó khỏi sợ lạ nhà. Tôi thấy cặp
mắt ba tôi lỏ lớn bằng cở cái khu tô, mặt có sắc
giận, ngó má tôi. Má tôi lập bập trong miệng tiếng gì
không rõ rồi gật đầu nhè nhẹ mà coi bộ bất mãn lắm.

Từ đó ba má tôi cũng trầm ngâm ít nói ít cười. Bà
ngoại tôi thì hết dòm tôi lại liếc vô buồng hợp cẩn.
Chắc bà lấy làm lạ tại sao đàn gái lại ám quẻ giờ
chót. Tôi thì không có ý kiến gì, ngồ i không buồn tình
nghĩ mông lung thiên địa cho qua buổi. đâu để coi, trong
buồng bây giờ ngoài bà già dì của con Bông còn có hai cô
dâu phụ, ba con nhỏ bạn của nó ở xóm tuốt ngoài rìa
cù-lao. Mấy đứa nâ `y đứa nào đứa nấy đều bị
tôi 'tưởng tượng' một vài lần khi ban ngày nhỏng nhảnh
đi ngang qua nhà tôi, cười cười nói nói, cái quần lãnh
đen láng o dòm không thôi đã thấy mát rượi lòng, cái áo
n út bóp căng thịt, cặp mắt bén ngót như dao cạo.... Tụi
nó đóng đô trong đó trái thủ tục như vậy thì chắc như
cua gạch cũng có chuyện gì trục trặc. Chắc là con Bông
yêu sách không chịu làm dâu mà đòi ra riêng liền hay gì gì
đó. Con nhỏ nầy cầu cao lắm. Thằng anh tôi năm ngoái
không biết lấy tin từ đâu nói con Bông tuyên bố chẳng
thà ế chồng chớ không chịu làm dâu nhà nào hết. Ai
thương cưới thì pha ?i cho ra riêng ngay từ đầu. Dâu con
khó lòng. đụng chạm. Chắc là vụ nầy đây. Ai chớ con
nhỏ nầy dám nửa chừng tung hê hết, cởi trả vòng vàng
trở về nhà. Vái trời đừng có chuyện nầy, không thôi
c ó mà lấy thúng đội hết cả lũ nhà tôi.

Lâu thiệt, chắc là họ thiết phục nó dữ lắm. Ở đời
đâu có cái gì đạt được mà không tốn công? Tôi dư
sức ngồi chờ. Bao nhiêu năm nay tôi quanh quẩn kiểu gà
què bên cối xay trong nhà, bữa nay ngo ^`i thêm vài giờ nữa
đâu có gì phải ngán? Dư sức chơi! Trên bàn thờ, bộ
chưn đèn bóng nhoáng, sáp nhiểu từ hai cây đèn cầy bự
xộn mà cái dĩa ngang không còn chứa nỗi sáp chảy bò lần
xuống nắp bàn... Buồn tình tôi ngó mông ra cánh cửa mở
rộng, chỗ vách mới được cắt ra gắn cửa để cho nhà
được thoáng hơn trong bữa tiệc cưới đầy khách khứa.
Bên kia ông Hương giáo Hải đương ngồi chồm hổ m chống
nước lụt trước mái hiên, tay cầm chặt xị đế.
Chuyện lạ lùng chưa từng có trong cái đời 'giữ mình
đàng hoàng của một người có vai vế thứ bực trong làng
trong xã'. Bà Hương giáo đi ra đi vo ^ từ trong nhà tới
hàng ba, mặt quạu đeo, liếc xéo về chỗ tôi ngồi coi bộ
bực bội lắm. Thình lình bà ta cất giọng, tiếng chửi ca
hát véo von, bay tự do trong không trung, đánh bạt đi những
tiếng nói tiê 'ng cười của số thực khách còn vớt vát
giờ chót vài ba câu chuyện, sẵn dịp thuốc hút thả dàn,
bánh trái ê hề, ăn uống có người mời mọc.

'Trời cao xanh thẳm (tối hù chớ xanh thẳm gì bà nội),
chim hát véo von, nước chảy róc rách... đéo mẹ tổ nó
giẻ rách nhà tao nó cũng hốt cũng thồn. Bà nội cha cả
giòng cả họ nhà nó cái (l. X) con tao nó cũng cán cũng
dọng. Nó dụ dỗ con tao lên rừng lên động, lên núi lên
non, lên búa lên chợ, đem con tao đi bán đi đợ lấy tiền
nuôi cả phồn cả lũ nhà nó...Trời xanh xuống đây mà
ngó, cái phường sống ba (`ng (c. l. XX)...

Tôi thích nghe bà ta chửi bao nhiêu năm nay. Nhưng thiệt
tình lần nầy tôi ngán tới bản họng. đã lùng-bùng lỗ
tai thì chớ lại thêm mắc cở đỏ mặt. Chửi khả dĩ
còn tha thứ, chửi tục lớn tiếng trước bao nhiêu người
thì không thể nào chấp nhận được. Làm tôi thất vọng,
bà Hương đã phụ lòng tôi. Từ lâu có bao giờ tôi nghĩ
mấy tiếng đó cùng với bao nhiêu là tiếng thanh bay xếp
hàng theo vần điệ u nhịp nhàng nhảy múa ra khỏi miệng
bà? Lạ là bà ta chửi ngay trước mặt chồng, trước
mặt một ông Hương giáo điềm nhiên uống rượu như thị
thiềng việc làm của vợ. Nhà ở cách nhau búng nhẹ cái
tàn t huốc cũng tới, bên nầy địt bên kia cũng nghe nói
theo kiểu mấy bà trời ơi đất hởi, tôi biết chắc mấy
chục năm nay bà Hương kỵ chuyện đó như kỵ gội đầu
ngày rằm, mùng một. Vậy thì nguyên nhân pha ?i là một
biến cố lớn lắm.

Nhị vàng bông trắng lá xanh. Thiên tiên thấp thoáng bên
mành. Phải duyên thì gả để dành làm chi? Con bây tham
sắc vô nghì. Dẫn đi dùi dập còn gì con tao. đéo mẹ
tổ cả dòng cả lũ nhà bây, tao kiện tao t hưa tới Bắc
đẩu, Nam Tào...

Tôi hiểu rồi. Bà ta chửi cha mẹ tôi. Má tôi tên Sắc,
ba tôi tên Nghĩa, bả xách mé kiểu nầy con nít còn ẳm
ngửa cũng biết. Con kia cuốn gói đi mất biệt, thằng nọ
ôm vàng vòng của mẹ lót tót theo sau. Chém cha họ cũng
chung xuồng chung nóp, vui thú tình tang thiên thai mây nước
động đào! Và ở đây cả nhà tôi bị nghe chửi bằng
giọng xóc-óc tục-tỉu ghê-mình sởn-gáy trong ngày đám
cưới. động trời thie ^.t. Cái số tôi vậy không hà.
Thiên hạ vui đâu không biết để cái khổ cho mình đeo
vô cổ. Nhưng mà nhờ vậy tôi mới khám phá ra được
một chơn lý mới. Ngày xưa tôi thích nghe những câu chửi
văn hoa thơ phú đó. Tôi náo-nức rạo-rực ngóng mõ vảnh
tai uống cho đã không chừa một tiếng nào kể cả những
lên bổng xuống trầm của âm điệu từ khi bà mới cất
giọng màu đầu. Bây giờ những câu nầy bi ến hoá thành
hằng hà sa số đinh dài một tấc đóng vô lỗ tai tôi,
xốn xang tới óc, xót xa tới tim ruột. Mới biết hồi đó
mình ghiền chửi ước nghe, biết đâu rằng khi vần điệu
ngọt ngào kia cất lên là cả một gia đình sầu não, ưu
phiền, bực tức.

Cái lạ lùng của cặp vợ chồng già nầy bữa nay ám ảnh
tôi không dứt được để nghĩ tới chuyện khác. Chuyện
tôi ngồi trân trân ở đây như Khương Thượng chờ thời
nè. Sao bà Hương chửi tùm-lum tà -la dơ dáy trước mặt
chồng không kiêng nể? Sao ông Hương ngồi chồm hổm
chống nước lụt trước hàng ba uống rượu tu bằng xị
kiểu như tay tổ hủ chìm Bảy Sự?

Phải có lý do. Con người ta hết sợ bị khinh khi, lỏng
buông tay khấu cho tiếng đời dị nghị sao cũng được khi
ở trong tình trạng cực đại của sự tức tối và buồn
thương con? Có thể lắm! Con Nhàn bị dụ khị, chắc đã
mang bầu nên phải ra đi không đám cưới hỏi. Ông bà
Hương danh tiếng mấy chục năm nay cả cù-lao nầy ai cũng
biết, vậy mà không được ăn miếng trầu, không được
làm sui làm gia với ngưo +`i. Thiếm Bảy Sự cốt ở đợ
nghèo lút đầu lút cổ, lại thêm mang của nợ ông chồng
bịnh hoạn rề rề, nhà đốt đèn kiếm đỏ con mắt cũng
không ra một món đồ gì nên thân mà ngồi sui với ông
cò-mi Q uận, mình đứng ngang hàng với con gái bà
Hội-đồng... Cũng có thể bà Hương chửi vì thấy
trước cái hậu vận bấp-binh của con gái mình. Mấy
người lẻo-mép thế nào mà chẳng thọc mạch hay đánh dây
thé p lạt dừa lời tuyên bố của ba tôi từ thằng con hào
hoa nhứt xóm của ổng? Hào hoa bằng của tiền cha mẹ, quen
thói công tử luống xương, không có công ăn chuyện làm
lại lăn thân xứ người thì chỉ có nướ c bán vợ đợ
con thôi. Một nhúm vàng đó cầm hơi được bao lâu đối
với tay từng chụm bạc chục trong trà đình tửu quán, đốt
bạc trăm trong những đêm miệt mài đỏ đen? Số con Nhàn
đúng là cầm tinh con rệp. Mạt từ đường. Bìm bịp kêu
nước lớn em ơi! Em theo nó rồi dính khắn cái phận hẩm
hiu.

Ông Hương thì bây giờ ngồi bẹp xuống đất rồi.
đương ngó qua phía nhà tôi. Bên đó đèn dầu tiêm dẹp
rất sáng mà cặp mắt ông ta còn sáng hơn. Cái sáng đo
đỏ không thần sắc coi như ma nhập. Ngồi ở đây xa
chớ ở bên đó chắc ớn thấy mồ tổ. Tôi sợ mấy
người uống rượu mà cặp mắt đỏ chạch như vậy; không
ai biết được họ làm cái giống gì sắp tới! Gây gổ,
cải lẩy hay xách dao rượt t hiên hạ chạy vắt giò lên
cần cổ cũng không biết chừng. May mà không chứng cớ,
chớ nếu không ổng qua đây liều mạng bắt đền con thì
còn rắc-rối hơn. Tôi biết tánh ông Hương, giữ tiếng
nhưng cốt lu +.u-đạn nhiều khi cũng ló ra ngoài.

Bà Hương bây giờ ngồi khuất trong cánh cửa nhưng tiếng
chửi vẫn lưu hành trong không gian về tứ phương tám
hướng. Có một vài ngọn đèn dầu được thắp lên
chấp-chới ở mấy căn nhà lụp xụp đằng cuối xóm.
Tiếng chửi tốc họ dậy hay họ muốn đốt lửa lên để
nghe cho rõ? Tôi thì ngán như ăn cơm nếp nát, hết còn
hứng thú gì để nghe nữa. Má tôi ngồi xầm-xì với bà
ngoại ở một cái bàn tròn đánh vẹt-ni màu cánh kiến
ngoài rạp che trước sân, coi bộ hơi áy-náy.

Chắc chắn mọi người đã hiểu đối tượng của tiếng
chửi và cha mẹ tôi đang nuốt xuống những giọt đắng
ngậm ngùi con dại cái mang mặc dầu cha tôi là một thứ
cắc kè lửa của Quận, hương quản hưo +ng chủ trong vùng
đều ngán.

Tự nhiên tôi nhớ trực trở về chuyện mình được
cưới con Bông. Tôi khó lòng hỏi vợ, ai cũng thấy rõ bông
điều đó. Con Bông nó lại đẹp đẻ, giỏi-giắn. Rồi nó
sẽ đứng ra cai quản cái sự nghiệp nầy. Ba má tôi sẽ
chia phần lớn gia tài cho tôi nếu ổng bả thấy con vợ
tôi có thể quán xuyến được. Cha mẹ nào cũng thương
con, luôn luôn tính trước công chuyện cho con. Nhưng má tôi
đâu cần phải vói cao chi tới một đứa nổi tiếng để
cực thân bà? Hỏi đại con Bính con gái cai lục lộ Ôn thì
chuyện dễ gấp mười lần. Họ ừ cả hai tay. Dì Ba của
nó cà-rà với tôi về vụ nầy hoài, nói xa-xa gần-gần
là dẫn mối để kiếm cái đầu heo chớ thiệt ra là
kiếm chỗ khá cho cháu mình. Tôi thì con nào lại không
gật? Có vợ là đươ
.c rồi miễn không có chuyện ít môi miếng không có chưn
đứng như tôi. Chuyện cưới con Bông cho tôi, đàng gái ừ
lâu ớn rồi bà ngoại mới chịu rỉ răng. Sợ chuyện gì không
biết mà giữ kín bưng. Tới ch
ừng hay được chuyện má tôi phải tam bộ nhứt bái qua bển lo
chừng từng chút một công việc tổ chức đám hỏi, lễ chạm
mặt... mọi thứ gì nhứt nhứt điều phải bỏ ra, tôi vừa
thương vừa tội nghiệp ba
` già nên cằn nhằn quá mức. Làm chi cho rình rang đình đám
cực thân! Má tôi hiền từ chống chế là bề nào cũng cưới
hỏi, làm một cái cho đáng một cái, 'nhứt cử tam tứ tiện' .

Má tôi đối với ai cũng vậy, ít nói, ít giải thích. Con
gái ông Hội đồng mà! Bây giờ tuy luống tuổi một chút
nhưng phong cách ngày xưa cũ vẫn phảng phất trong thói ăn
nếp ở chưa tan biến hết. Bà lạ i là người quán
xuyến, văn bài võ trận nên tính đâu ra đó. Tam tứ
tiện để tôi vừa có vợ ngộ bà vừa có dâu đủ khả
năng bảo toàn cái cơ ngơi đồ sộ do ông bà để lại.
Phải chi biết trước vụ t hằng anh tôi dây dưa rồi "tính
kế" với con Nhàn thì bà cũng đã giải quyết luôn rồi,
tụi nó khỏi cần dắcđíu nhau đi làm chi cho khổ thân, mà
bà cũng khỏi buồnrầu ngồi nghe chửi. Con cái làm tội
làm ti `nh cha mẹ thiệt, bắt cha mẹ phải chịu đựng, phải
giải quyết những khó khăn của mình....

Ngồi coi bộ lâu rồi đa! Bực mình quá tôi muốn đổ
cộc làm trận làm thượng rồi tới đâu tới nhưng ngó
tới bộ mặt vừa đằng đằng sát khí vừa chừ-bự
của ông già tôi, ngồi lạc lõng trong mộ t cái bàn chung
quanh không có ai, đâm nguội ngang. Một lần nữa, không
biết là lần thứ mấy chục, tôi rót một ly nước đưa
lên môi hốp từ hốp nhỏ.

Hồi nảy, đâu chừng cả tiếng đồng hồ trước, lúc còn
chạng-vạng tối, ai đó nói đã tới giờ hợp cẩn bây giờ
đỏ đèn cùng khắp, mấy cây đuốc dầu chai tụi tá điền
của bà ngoại gắn chung quanh nha ` đương bập bùng; ếch
nhái đã rền rang ba hồi bảy chặp mà cũng chẳng thấy
người lớn nào ra lịnh cho tôi đóng tuồng đóng trò gì
hết trơn hết trọi. Trong đời mới có lần nầy là một,
ai mà biết p hải làm cái giống gì? Tôi men men lại chỗ
buồng, đứng vịn cửa làm bộ ngơ ngáo ngó mấy chùm bông
bụi lá kết chữ tân hôn, loan phòng khi mấy con nhỏ
cảnđdản ở trong đó từ từ ké-né bước ra khỏi phòn g
mắt lắm la lắm lét ngó tôi, sửa soạn ra về.

Có tiếng thút thít bên trong và tiếng xầm-xì to nhỏ đứt
nối. Không ai ngạc nhiên mấy cái chuyện đó. Con gái
về nhà chồng trăm đứa như một, nức nở đứt nối
kiểu thiếu nữ vu quy nhựt. Nhưng ma ` kìa! Sao nghe rũng
chí anh hùng quá. Ri rỉ nhỏ to than van như một cây nước
đá cục bị nắng lên từ từ tan thành nước hay đương bị
con dao cưa khứa-khứa khóc than cho phận mình. Cũng có
thể nói đó là tie ^'ng khóc của một con sứa bị dạt nằm
phơi mình trên bờ cát nóng tỉ tê cho số phận. đó không
là giọng buồn bở ngở cho tương lai, đó, hiện thân của
tuyệt mạng, của cắt thịt lóc da, dồn trấu. đó, tiế ng
than của Tô nương hoàng hậu trước khi gươm Lục Yểm
được mở bầu thoát ra. đó, tiếng than của oan hồn
trở về trần thế nỉ non với thân nhân. Tôi nóng nảy
ruột gan như ai đó để dưới bàng quang mi `nh cái lò lửa
thợ rèn . Lâu-lắc rị-mọ cái bà già trầu dì nó.
Cà-rờ quá ai chịu cho thấu! Tới bây giờ mà cũng chưa
chịu chun ra. Tôi muốn xô cửa vô đuổi bà ta đi. Phải
vuốt tóc an ủi nó, rồi no ' muốn gì tôi cũng chìu cũng
gật. Tôi bất kể là từ trước tới nay hai đứa chưa
bao giờ nói với nhau câu nào. Tôi không sợ nó cự lại
làm cho sọc dưa ngày vui nhứt của đời tôi. Bất chấp.
'Nín đi... Sao dại quá... Chình ình ra đó... đừng dễ
ngươi quá...'. 'Chẳng thà mang tiếng... Chồng con gì đâu
chán chết... Với lại kỳ lắm... Nghĩ lại rồi... Không
được... Ai đời...' Mấy tiếng cuối câu đều nhỏ quá
tôi nghe không rõ. 'Nói bậy. Cơ nghiệp nầy rồi mầy
sướng thân... Rửa mày rửa mặt... Bè chuối thả trôi
sông... Làng xã hăm he... Củi thô dễ nấu... Lá rụng
về cội... Ba má mầy chịu ơn ngưo +`i ta.

Im lặng một lúc thiệt lâu và tiếng thút thít tức tưởi
cũng bớt nhiều. Không gian ngưng động, ngay cả tiếng
máy hát lập lại lập đi bài Dạy Con Về Nhà Chồng do Cô
Tư Sạn ca từ sớm tới giờ cũng ng ừng. Lặng trang. Chỉ
còn tiếng đập thình thịch gấp gáp của tim tôi . Thôi
được, vì con... Nhưng ảnh phải hứa thương... Sau nầy
vợ chồng ăn ở được không cũng tùy ảnh... tiếng
nặng tiếng nhẹ mích lòng
...

Tôi bỏ ra ngoài ngồi lại chỗ cũ. Tay tôi ướt nhẹp mồ
hôi, dòm lại chỗ tay cầm cái nạng cũng ướt mèm. Tôi lại
rót ly nước đày lần nữa. Uống hết ly nước mà tay
tôi vẫn còn rung, bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng cái
nạng chống lịch kịch trên nền gạch tàu mới lót lại để
làm đám cưới. Ruột gan đau từng hồi. Trong thâm tâm
nó vẫn chê tôi. Mặc dầu nó đã hư. Ông bà mình nói
của rẻ là của th úi, đúng thiệt. Bên đó chịu gả nhờ
nhà tôi khá giả đã đành mà còn vì cái vụ nầy đây...
Hèn chi... Rằng em nay đã đàn bà, mâm trầu hủ rượu
đều là của hôi. Không thì đời nào! đứa con gái bị d
-ậu mùa còn chê rậm rì thằng con trai cà khuynh mặt em rổ
có ngày lì, tay anh cán dá ông nội em trì cũng hổng ra,
huống chi con Bông lịch sự quá đổi, nếu chưa bị chấm
mút, chưa bị xé rách màn, làm sao ba má nó chịu bắt gã cho
tôi? Vậy mà cả tháng nay tôi không thấu cái chơn lý
sờ-sờ đó. Giọng khóc thê thảm nảy giờ của nó vì
lưu-ly nửa nưo +'c nửa dầu, nửa thương cha mẹ nửa sầu
căn duơn, tiến thoái lưỡng nan chớ không gì khác. Mà tại
sao má tôi lại chủ trương cái vụ lùm xùm nầy chi cho thêm
rắc rối? Kỳ thiệt. Ruồi bay qua còn biết đực cái, con
Bông bị bóc vỏ, mang chuột tàu trong bụng má tôi phải biết
chớ. Tôi vói lấy một cái nạng chống xuống đất đưa
cằm dựa lên miếng cao su lót đàu nạng để thở. Chán
quá rồi. Tôi nghe mùi mồ hôi nách của mình, khăm khẳm
quen thuộc. Ngoài kia ánh lửa đuốc bập bùng ma trơi.
Trước mặt tôi một bầy con nít, nhiều đứa ở tuốt
ngoài cồn lâu lâu mới gặp, tò-mò tọc-mạch đứng ngó
chết trân c hú rễ kỳ khôi đứng còn không vững. Một
đứa con gái độ mười hai, mười ba xốc nách thằng em
đâu độ chừng sáu bảy tháng. Thằng nhỏ mặt mày xổ
sữa dễ thương cách gì! Nó đưa tay quơ quơ như chào
mừng tôi. Tôi mỉm cười nheo mắt méo miệng trửng giởn
với nó. Nghĩ cho cùng thì huề. Hai đàng đều có tì
vít, một đàng mắt lé một đàng sứt môi. Bù qua sớt
lại. Thôi được, có còn hơn không. Cuộc mua bán không
lời không lỗ, tôi chấp nhận. Cũ người mới ta . Ai
cười tôi chịu, thiên hạ bỏ mình lượm về chùi rửa lại
xài. Tôi nhớ tới biết bao nhiêu lần trong đêm tối tôi
tưởng tượng cái vóc dáng liền lạc chắc cứng của con
Bông. Phải hành động như một thanh niên hào phóng rộng
lượng.

Phải hiểu nếu từng hưởng được gì trong quá khứ thì
đối với hiện tại sự từng hưởng đó đã trở thành
ảo giác, cho rằng có cũng được, cho rằng không cũng xong.
Ngược lại, hưởng bằng tưởng t ượng trong quá khứ như
tôi cũng có thể coi như có thiệt. Nhứt là cái thiệt
đó đương hiện diện bên tôi và mãi mãi từ nay. được
chứ sao không? Huống chi mấy cái tiếng ảnh, vợ chồng
... của con Bông ngọt lịm như vậy biểu gì mà tôi không
ừ, đòi hỏi gì mà tôi không chấp nhận? Những tiếng đó
có thần lực biến đổi tôi tức thời thành người khác.
Từ vị trí một người xa lạ dửng dưng tôi đã th ành
một với con Bông 'vợ chồng' thành nỗi vui buồn của nó,
nó thành một niềm thân thiết không thể tách rời của
tôi.

Tôi bây giờ đây đã thành chỗ nương dựa và tin cẫn của
nó. Hỏi còn chờ gì nữa chớ? Tôi mạnh dạng đứng dậy
nhảy ào tới cửa phòng, kêu ngọt tên con Bông như một cách
thế nói chấp nhận lời nó yêu cầu. Tôi cũng tính nói
thêm con em là con anh, mình sẽ cùng lo cho nó, nhưng lụp-chụp
chưa kịp hả họng thì đã lảo-đảo té, may mà chụp kịp
được cánh cửa, không thì đã chỏng gọng. Lúc đó tôi
mới biết phận mình bất toàn. Mới ý thức được nguyên
tắc dựa nhau mà sống. Nhưng cũng lúc đó những âm thanh
tình ái mà tôi vừa mới ngân vang bên chính tai mình 'cái ý
thức tạo rỡ ràng cho người tình' chảy mạn h trong tim tôi,
cả hai ý thức đó bằng cách nào không biết, tức thời
đỡ tôi đứng thẳng dậy, rạng rỡ, vui vẻ, tự nhiên như
người bình thường. Và trời ơi! Con Bông vẫn còn
thùng-thình trong cái áo cô dâu, cái bụng dưới một chút
xíu gợn u như người mới ăn cơm no, mặt còn hoen ngấn
nước mắt hớt-hải, xót-xa vén màn bước ra, thiệt mau
chớ không phải lựng khựng kiểu con gái mới về nhà
chồng, dang h ai tay sẵn sàng đỡ tôi đứng dậy. Rồi
bàn tay tiên nga mát rượi của nó để lên lưng tôi, qua
mấy lớp áo nặng nề hình thức của đám cưới tôi vẫn
nghe hơi ấm chạy tràn trề reo vui trong tim, hỏi có sao không
anh, bộ anh quên cây nạng hả?

Tôi ngó vợ mà cảm giác máu chảy rần rần trên mặt không
làm sao trả lời được. Chúng tôi đứng kề nhau như vậy
hèn lâu. Hàng đuốc chai ngoài ngỏ cháy bùng lên sáng tỏ
hơn hồi nảy thập bội, vài cây còn nổ lách tách bắn
tung tóe những đóm lửa nhỏ pháo bông chào mừng hai đứa
tôi trong khi từng đoàn châu chấu dế nhũi đương trình
diễn chào mừng bằng điệu nhạc luân vũ thiêu thân. Con
Bông chúm-chím cười xẻn-lẻn. Tôi biết hai đứa tôi đã
chí-tâm hòa đời mình với nhau kể từ giây phút đó.
Thôi 'cá trong giỏ là cá mình', tôi không còn thấy gì phải
thắc mắc bầu của ai làm gì cho mất công mất li nh, cứ
chấp nhận thực trạng với cõi lòng rộng mở như vậy
mới mong hưởng trọn niềm vui sau nầy. Tiếc tiếc cho cái
thằng mắc toi nào đó đang tay đạp đổ hạnh phúc của
mình khi quất ngựa chuối truy ph ong. Tôi, tôi sẽ vui với
những gì nó đang tâm bỏ lại không phải vì cái hình hài
của con Bông tôi từng ao ước mà chính vì cử chỉ chăm
sóc lo lắng của nó vừa rồi. Từ đây tôi thật sự
trút bỏ xuống đâ 't niềm bất hạnh của đời mình bằng
sự giúp sức của bàn tay âu yếm đó.

Tôi đẩy nhẹ con Bông trở vô buồng, nó quay lưng đi,
kiểu quy phục, nương dựa. đưa tay tiếp cặp nạng do má
tôi trao tới, tôi bắt thóp được nụ cười của bà một
nụ cười của người đương lo âu phâ
.p phòng bỗng biết được mình thoát nạn, một nụ cười biểu
đồng tình một chuyện gì đó không được tốt lắm cái
kiểu bà làm lơ hồi đó khi biết tôi làm ngang giựt con dế
lửa của con một người tá
điền hay khi khổng khi không tôi dở chứng thoi thằng nào đó
một thoi thiếu điều sặt máu mũi rồi đứng cười. Một
luồng ánh sáng chói chang như lằn sét đánh trước khi trời
gầm bừng lên trong óc tô
i, nối kết lại tất cả các dữ kiện từ lâu tưởng chừng
không có gì liên lạc: thằng Quang với con Nhàn rũ nhau ra đi
mặc dầu dàn cảnh trước-sau để che mắt thiên hạ, ông bà
Hương giáo Hải quá thất vọng đến nỗi không cần giữ gìn 
phong cách của mình cố tạo
bấy lâu nay, cha mẹ tôi ngấm ngầm xào-xáo rồi chịu nhịn
nhục nghe chửi bới xỏ-xiên cuối cùng dẹp bỏ tự ái chấp
nhận làm sui hạ mình với ngươ`i từng là kẻ ăn người làm, 
con Bông có bầu và câu nói của
bà dì nó lá rụng về cội, ba tôi nhứt quyết từ thằng Quang,
câu nói úp úp mở mở của bà già nhứt cử tam tứ tiện...
Tôi biết hết. Tôi biết má tôi xẩu-mình biết bao nhiêu đêm để 
lo tính kế vẹn
toàn cho cả trăm cả ngàn chuyện trái nghịch nhau như vậy. Mẹ!
Lòng mẹ bao la như bầu trời; lai láng như nước trong nguồn,
vô tận tuyệt, tới bây gi
ờ con mới cảm nhận được một cách cụ thể. Tôi ngó mẹ
bằng cặp mắt cảm ơn như hồi còn nhỏ khi té được bà ẳm
lên ôm ấp trong lòng nựng nịu. Bà già tôi nở nụ cười
thiệt hiền, thiệt bao dung, ca(.p mắt rực lên một trời thương 
mến.

Tôi khoát màn bước hẵn hoi vô phòng hợp cẩn. Cặp mắt
hột nhản chờ đợi tôi nói một câu gì. Bàn tay tự tín
của người chồng vổ vổ nhẹ lên bả vai con vợ mình.
Căn duơn nầy ai bứt cho rời, ông t ơ ổng buột dẫu lên
trời cũng theo. Tôi sung sướng ngụp lặn trong hai niềm vui
đương vây chặt, quên lửng phần số đen đũi từng đeo
đẳng triền miên, quên lửng cái nạng như cục đá tảng
cột trên lưng người tù khổ dịch, từ trước nhẫn nay.

(San Marcos, Texas, March 1997)
Nguyễn Văn Sâm


VNNP 17


N H Ắ N T I N L I Ê N M Ạ N G



VNNP 18



VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG
Internet Address: vnnp@tntt.org
Phát hành định kỳ vào thứ tư hàng tuần

Chủ Nhiệm:  Tường Vi - tuongvi@poetic.com
Biên Tập: Quan Dương
Phạm Ngọc
Song Vinh
Lưu Trần Nguyễn
- qduongc@juno.com
- phamngoc@prontomail.com
- song_vinh@hotmail.com
- khanhgia@hotmail.com

NHẬN BÁO:  Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email về địa chỉ tntt-master@tntt.org.  Trong message body, bạn chỉ cần viết: "subscribe vnnp" để nhận báo, hoặc "unsubscribe vnnp" để lấy tên ra khỏi danh sách.

GỬI BÀI DỰ ÐĂNG:  Xin gửi vềvnnp@tntt.org.  Nếu các bạn không muốn đăng điạ chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin nói rõ trong thư.

Văn Nghệ Ngàn Phương luôn luôn mong mỏi nhận được các sáng tác văn, thơ, biên khảo của các bạn.  Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để BBT tùy nghi xử dụng.  Bài của các tác giả khác nếu gửi về VNNP xin kèm theo thư ưng thuận của tác giả để tránh những ngộ nhận đáng tiếc. Nếu các bạn có ý kiến đóng góp hoặc thắc mắc cũng xin liên lạc về địa chỉ trên.

TRÍCH ÐĂNG TỪ VĂN NGHỆ NGÀN PHƯƠNG:  Mọi trích đăng thơ văn từ VNNP, xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay BBT VNNP trước khi trích đăng.  Xin hãy tôn trọng bản quyền của tác giả.

CẢM TẠ:  Nhóm chủ trương Văn Nghệ Ngàn Phương, xin chân thành cảm tạ các bạn trong Liên Ðoàn Thiếu Nhi Thánh Thể đã có nhã ý cho Văn Nghệ Ngàn Phương mailing list xử dụng server miễn phí và không điều kiện.  Cũng xin cảm ơn Saigonline.com, một phục vụ bất vụ lợi cho cộng đồng Vietnam, dưới sự bảo trợ của ViNet Communications, Inc., là nơi lưu trữ archive của VNNP.. Không có các bạn,VNNP đã không thể hoạt động như ngày hôm nay.