Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Nguyễn Tấn Hưng, tâm hồn biển lớn...

Xuân Vũ

     Sáng hôm nay cuối năm con gà sắp nghe tiếng chó sủa hân hoan, ngồi viết bài này, lòng tôi thấy khoan khoái lắm. Giở Một Trời Một Biển Một Thuở Làm "Trùm" nghe thơm mùi biển mặn và nghe tiếng còi tàu xa xăm mà nhớ Phú Quốc, nhớ Nha Trang thấp thoáng cánh chim nhạn đùa giỡn săn cá trên mặt biển. Ðó là tâm hồn biển lớn của Nguyễn Tấn Hưng nhà văn gốc quan tàu tị nạn.

     Trên 400 trang sách, tôi luôn luôn thấy Nguyễn Tấn Hưng ở giữa bọt sóng hay bay trên mây xanh với nụ cười tươi rói, trẻ trung hồn nhiên như con chim trời phiêu lưu. Quê hương của Nguyễn Tấn Hưng ở ven bờ Tiền Giang nhưng Giang sơn của anh lính thủy Hưng thì trải rộng khắp. Những địa danh của chàng ta kể ra hoặc đặt chân tới không nhớ hết. Ðây tôi chỉ ghi lại một số nơi mà ông quan tàu Nguyễn Tấn Hưng đã từng ủi bãi, bỏ neo hoặc ngó thấy (chỉ nội trong chương Như Cứt Trôi Sông ): đầm Thị Nại, sông Hà Giao, đảo Hải Minh, cù lao Xanh, Cam Ranh, Vũng Rô, Ðại Lãnh, hòn Trống, hòn Mái, hòn Chồng, hòn Vợ, hòn Anh, hòn Em. Ðặc biệt nhất là hòn "Kẹt." Ðọc một lần, tôi nhớ hoài cái hòn... này. Quả là có đi mới biết. Nếu không đọc Nguyễn Tấn Hưng thì không đời nào tôi nhớ lại cái hòn "Kẹt" này. Ðó là:

     Một hòn đá thật lớn có hình trái tim méo xẹo, như vừa mới trên trời rơi xuống, mắc kẹt giữa hai gộp đá nằm ngáng hai bên, treo lủng la lủng lẳng như cái đùi heo lòng thòng.

     Văn của Nguyễn Tấn Hưng cũng như người của anh, là văn lính, lính tàu , nhưng đánh bộ thì chạy bằng chân, còn lính tàu thì vừa chạy vừa sủi bọt, trào sóng, rất hùng cường, lại còn thêm cái còi rú lên nghe càng náo động âm vang.

     Nguyễn Tấn Hưng tả lính tàu rất hay. Một là: cuộc sống ở tàu. Hai là: tình cảm sôi nổi "đi bờ," đi phố. Trước hết hãy nghe Nguyễn Tấn Hưng tả vài nét về cuộc sống tàu (trang 65 Một Trời Một Biển ):

     Vừa bước vô cabin tạm trú, Tần cảm thấy như muốn ngộp thở. Mùi sơn, mùi sét, mùi ẩm mốc trộn lẫn với nhau... y như mùi xú uế xông lên nồng nặc. Ánh sáng vàng vọt từ những bóng đèn tròn lu câm, như thiếu kilowatt mặc dù đang câu điện bờ dẫn tới từ nhà đèn, đã không làm cho cõi âm u tăm tối như địa ngục này sáng sủa thêm chút nào hết. Trên trần, giăng mắc chằng chịt những dây những ống. Dưới sàn, tua tủa mọc lên những trụ những cột. Luồng hơi nóng từ bên trong cái hầm có vỏ làm bằng kim khí này hừng hực thổi ra cửa như muốn đẩy Tần dội ngược trở lại. Trời đất, nếu không có máy lạnh thì làm sao mà sống nổi với cái cảnh màn gang chiếu thép này đây, chàng tự hỏi. Nhiều quạt tròn gắn trên xà ngang thổi vù vù, quay qua quay lại, cũng không làm sao xua đuổi được cái nóng cho nó đi chỗ khác chơi. Chỉ nơi nào gần ống gió thông hơi, như những ống loa dẫn xuống từ bên trên, thì đỡ ngột ngạt hơn.

     Ðọc đoạn trên đây ta có thể hình dung được cái "địa ngục" "xú uế" của anh quan tàu như thế nào. Vậy mà từ trước tới nay, thấy hải quân ăn mặc sang trọng tôi tưởng cuộc sống tàu rất ngon lành. Nhờ Nguyễn Tấn Hưng mà bây giờ nếu tôi có trẻ lại được, có đi lính gì thì đi chớ không vô lính thủy của đại úy Nguyễn Tấn Hưng.

     Và đây là một đoạn sinh hoạt khác ở dưới tàu (trang 77 Một Trời Một Biển ):

     Không mấy chốc đã có lệnh vận chuyển: tháo dây số bốn, tháo dây số ba, tháo dây số hai, tay lái hết bên phải, máy lùi một... Những tiếng lặp lệnh, nhận lệnh, báo cáo... chạy đều đều tới lui, từ đài chỉ huy ra các sân mũi, sân giữa, sân sau, phòng lái, hầm máy và ngược lại. Thì ra hạm trưởng phải dùng dây số một để ra tàu. Vì loại tàu chuyển vận giống như tàu buôn này có một máy, không thể sử dụng phương pháp "biệt máy," tức một máy tiến một máy lùi như tàu chiến, để lấy lái ra ngoài được. Lại nghe: máy ngưng, nới dây số một, giữ dây số một, máy tiến một... Xê tới, xịch lui chỉ một lần thôi mà đã thấy tàu từ từ tách ra khỏi cầu. May là nhờ có gió và nước cùng hướng đã đẩy đưa phụ một phần. Lệnh sau cùng: tháo dây số một... Sợi dây rơi tòm xuống biển đang được kéo về tàu và quấn thành vòng tròn tròn cạnh mối cột vào trụ bít. Tàu kể như rời bờ, không còn dính dáng gì với đất liền nữa.

     Ðó là phút giây tàu rời bến. Còn đây là lúc tàu cặp bến (trang 87 đến 90 chương Như Cứt Trôi Sông ...). Ðột nhiên một tiếng lặp lệnh thật lớn:

     - Thả neo.

     Viên hạ sĩ thi hành lệnh, đánh bật chốt giữ dây neo. Những mắt xích to bằng bàn tay xòe, theo sức nặng cả trăm tấn của cái neo tuôn xuống biển rào rào. Sủi bọt tung tóe. Tiếng thép cạ vào thép điếc tai, sởn óc. Từng vệt sơn, lúc đỏ lúc trắng làm dấu trên dây neo, được vị sĩ quan trưởng sân theo dõi kỹ càng. Và liên tục báo cáo về đài chỉ huy.

     - Dây xích một đoạn..., hai đoạn..., ba đoạn..., bốn đoạn...

     Mỗi đoạn đâu cũng khoảng chín, mười thước. Như vậy lúc dây xích ngừng chạy, tức ngưng báo cáo, đài chỉ huy đã biết qua độ sâu của đáy biển.


     Ðọc mấy trang này tôi rất thích vì hiểu được ít nhiều về sự chỉ huy một con tàu. Thật không đơn giản cho lắm.

     Neo cắn! Tới Qui Nhơn rồi đó! Và đây là phút sôi nổi xôn xao nhất của quan lẫn lính tàu. Bởi vì đi bờ lý tưởng của họ.

     Trên bờ có các em đang chờ đợi. Bộ ba tam xên Thắng Thành Tần đều có ý trung nhân. Tình Thư Trên Chiến Hạm là chương chứa đựng tình cảm của lính tàu đậm nhất. Ai mà chẳng khao khát yêu... cái mảnh đất liền hình vuông hình tròn hoặc méo xẹo như cái hòn đá mắc kẹt ở trên kia. Thư tình của lính tàu - cũng là lính nhưng khác - rất khác với lính bộ. Lính tàu khát nước ngọt hơn lính bộ nên trao đổi thơ tình nhân cho nhau để có chuyện bàn, chọc nhau cho đỡ "Khát."

     Những thư của các em gởi cho lính tàu cũng khác với các em có người yêu trên bờ. Bởi vì các em cũng khát nước biển như các anh khát nước ngọt vậy. Ðây hãy nghe cô em trường Sư phạm Qui Nhơn mừng cái nỗi "mừng vừa mừng vừa sợ" của em:... Anh không cặp bến Qui Nhơn được là Hằng mừng rồi, vì Hằng sợ (Xuân Vũ nhấn mạnh) lắm, Hằng không dám gặp anh đâu...! (Thư gởi cho Thắng).

     Và đây là tâm tình của em Phượng gởi cho Tần:... Tấm ảnh của anh chụp ở Hòn Chồng đẹp trai lắm. Nhưng, trông anh giống như người "lính rừng" quá đi thôi...

     Và đây nữa là thư của Loan gởi cho thầy Tần (!?) ở Mỹ Tho. Loan là học trò của Tần. Loan... có đôi tay dài như tay vượn ngồi dưới bàn mà chỉ với tay là sờ được ông thầy trên bảng không sót một chổ nào ... (Xin nhớ đây là Loan, không phải... Lan). Lúc thầy Tần dạy thì Loan mới chum chủm vú cau, yêu gì được, kỳ thấy mồ - nhưng sau khi Thầy đi lính tàu về gặp Loan thì thấy em đẹp quá chời. Loan cũng cảm Tần và viết thư cho "ông thầy tốt số." Bây giờ Loan không gọi bằng thầy nữa. Mà là:

     Anh Tần thân mến,

     ... Chiều chiều ra ngoài cầu ngồi giặt giũ, ngó mông ra bờ sông Cửu mà bên kia là cồn Thới Sơn xanh rì, Loan không giữ được những nỗi niềm bâng khuâng đang tràn ngập dâng lên trong lòng mình. Như có cái gì man mác buồn cho những mất mát, chia xa anh nhỉ?... À, nhớ đừng mê người đẹp Nha Trang mà bỏ quên cô học trò nhỏ bé của anh...
(không biết rồi sau này mối "tình thầy trò" này đi tới mô?).

     Lính tàu có khác nên các em Phượng và Hằng rất sợ . Tại sao? Vì anh ta giống người rừng. Chả rừng mà trong một đêm, lính Tần đã nhảy rào trường đến nhà em Hiền và sau vài giây chủ động thì:

     Hương con gái ngào ngạt tỏa ra từ đôi ngực đào tơ, lồ lộ, không mặc áo sú-cheng... Cả hai, chiếc quần lót và chiếc quần ngoài, cùng đi theo dấu tay chàng tuột lần xuống bên dưới. Rồi dừng lại ở ngọn đồi cỏ mượt, sắt se sợi vắn sợi dài... rồi chàng òn ĩ... vạch ra... banh ra... (trang 185-186 Một Trời Một Biển ).

     Các em sợ là phải. Người lính rừng?

     Văn của Nguyễn Tấn Hưng viết như nước chảy, như người chạy không lúc nào chậm, không lúc nào ngưng nghĩ, cứ như sóng biển xô con tàu trên mặt biển phẳng lặng không có sóng cồn, không có vực sâu. Có lẽ khi viết, Nguyễn Tấn Hưng cũng tưởng mình như vai còn gắn Alpha đi phố, liều mạng leo rào gặp các em ở cư xá trường Sư phạm Qui Nhơn: Vân, Hằng, Phượng... Và sau khi gặp gỡ các em rồi, ông quan tàu than thở:

     Phượng ơi, sao em cao sang đẹp đẽ làm chi cho tầm tay anh không với tới. Ðể rồi "thân em như cứt trôi sông, còn anh như con chó chổng mông trên... tàu ...

     Một Trời Một Biển là một truyện ký có thấp thoáng bóng nhân vật truyện, nhưng có lẽ tác giả không muốn thể hiện nó bằng lối truyện có đầu có đuôi có nhân vật có cuộc sống nội tâm hẳn hoi nên đọc xong, tôi có cảm giác "chưa đọc xong," hay là truyện còn tiếp, Một Trời Một Biển II, III ... Bởi vì nhiều cuộc tình, nhiều sự việc còn treo lơ lửng chưa ra ngô mà cũng chưa ra khoai. Nó không đi đến nơi đến chốn như cuộc giao hoan Tần-Hiền đã đi tận từ biển lên trời và từ trời xuống biển.

     Nguyễn Tấn Hưng đã cho tôi những khung biển trời rất đẹp. Trong đó không thể nào bỏ qua hòn Phú Quốc trong Một Thuở Làm "Trùm" xuất bản trước đây. Sở dĩ tôi viết về Một Trời Một Biển trước là vì theo thứ tự thời gian thì trong Một Thuở Làm "Trùm" là sự trưởng thành của một anh chàng lính thủy mang Alpha trong khóa Ðệ nhị Hải Sư ở Nha Trang - mà có lẽ là Tần. Vì Tần quê ở Mỹ Tho (về gặp Loan) và nhân vật "tôi" trong Một Thuở Làm "Trùm" hình như là một, đã là "đại úy... Tần."

     Trong quyển này tác giả kể những chuyện xảy ra trong thời gian kế cận trước 4-75 những sự việc xếp đặt có thứ tự nhưng không kết lại thành một truyện được. Ðộc giả có thể đọc hết quyển sách và cũng có thể chỉ đọc một chương mà không cảm thấy thiếu gì cả. Ðiều đó cũng không phải là chuyện thiếu sót của tác giả. Vì qua hai quyển Một Trời Một Biển Một Thuở Làm "Trùm" , và trước đó quyển truyện dài Một Ðời Ðể Học , tôi có cảm tưởng là Nguyễn Tấn Hưng "muốn viết như vậy đó." Truyện dài hay trường thiên đều là một chuỗi truyện ngắn. Nghĩa là nhớ gì thấy gì nói nấy, xảy ra thế nào nói y như vậy, và muốn ngưng lúc nào thì ngưng, không câu nệ về thể loại. Có thể anh muốn tạo nên một trường phái, trường phái hồn nhiên kiểu Nguyễn Tấn Hưng chăng? Và anh lại nổi tiếng hơn nữa nhờ trường phái này chăng? Tôi là người thích viết truyện, đọc Nguyễn Tấn Hưng lắm lúc tôi nghĩ: sao chuyện lại thế này mà lại thế kia, sao anh không cho thêm chút... gì nữa, sao không căng thẳng chút nữa rồi hãy kết, v... v... Nhưng tôi giật mình: không thể chủ quan được. Ta cứ viết cảm xúc trên chữ nghĩa mà tác giả đã ghi ra cho ta đọc mà thôi.

     Vậy thì Phú Quốc có một hình ảnh gây cảm xúc nhất cho tôi. Ðó là ông già. Nhưng trước khi nói đến ông, xin độc giả đọc mấy trang rất rung động của chương Một Lần Ði Một Lần Ở . Ðây, đối với tôi, là bài bút ký hay nhất của thể loại truyện ký mà tôi được đọc của Nguyễn Tấn Hưng. Ðọc với sự cảm xúc dào dạt với tình yêu quê hương sông biển mà câu tuyệt bút tả lườn tàu rướn lên bãi cạn: ... ngập ngừng như những tiếng nấc còn sót lại trước khi dứt khoác chia tay (trang 37 Một Thuở Làm "Trùm" ). Tôi không đi xa đất liền như anh mà đọc đoạn này sao cũng buồn tênh?

     Rồi lại gặp ông già "y như thiệt" áo bà ba trắng, nón cối, dép nhật lèng xèng đi dạo khắp chiều dài chiều ngang của đảo Phú Quốc. Ông già mong mỏi được ra đảo chơi một chuyến, thì bây giờ được theo con ra đây chơi. Ông mê cảnh vật, mê biển lạ mà mải mê đi như một Lý Bạch đi tìm thơ ở giữa trời nước bao la (trang 47 Một Thuở Làm "Trùm" ):

     - Tao chỉ đi chơi cho biết, trong đời chỉ có một lần. Nhưng được nửa đường mỏi chưn quá tao lội trở về. May mà gặp được chú em con chị Bảy tiệm, quê ở Mỹ Tho, cho quá giang xe honda nên lẹ... Mà chú không có chở về nhà liền đâu, chú chở tao đi xuống bãi Khem rồi chở vòng lên núi Ðất Ðỏ, Ðất Ðen gì nữa, chỗ có đường xe hơi đi về quận Dương Ðông... Bãi Khem nước trong cát trắng, có nhà thủy tạ cất tuốt ra xa...

     Và thêm đoạn này nữa (trang 48 Một Thuở Làm "Trùm" ):

     Càng lớn lên tôi càng thương mến ba má tôi, tôi không còn khổ tâm vì ba má tôi quê mùa như hồi còn nhỏ nữa. Mà tôi thấy thật sự không ai cười chê mình khi cha mẹ mình không được "văn minh" đâu. Chỉ tại mình mặc cảm, nghĩ như vậy mà thôi.

     Nếu trong cả ngàn tác giả mà tôi đọc từ nhỏ đến giờ, tôi còn nhớ được câu nào hay nhất thì câu đó tôi sẽ đem đặt ngang hàng với câu văn trên đây của Nguyễn Tấn Hưng. Nguyễn Tấn Hưng đã viết một câu văn hồn nhiên đáng yêu vô cùng, một câu tuyệt bút. Ðó là luân lý và là luân lý của một con người chân chính. Khi đọc xong, tôi đã gọi ngay Nguyễn Tấn Hưng để hoan hô anh.

     Tôi không muốn nói thêm gì về Một Thuở Làm "Trùm" . Tôi được đọc và nhớ câu này, tôi cho là đã quá đủ.

     Theo tiểu sử tác giả thì Hưng sinh ra ở Mỹ Tho, học trường Nguyễn Ðình Chiểu, cũng là trường của tôi, có lẽ trước Hưng chừng 10, 15 năm, tôi học cùng lớp với Khương Hữu Ðiểu (không biết có họ hàng gì với đại tá Khương Hữu Bá không?). Nay gặp Hưng ở hải ngoại và cầm bút như nhau tôi mừng lắm. Thấy Hưng viết hăng tôi càng mừng. Chẳng biết khi nào mới đối diện được với nhau. Thỉnh thoảng Hưng gọi: Anh mạnh không, đang viết gì? Tôi cũng hỏi: Hưng đang viết gì? Vừa rồi Hưng đáp: Một Giấc Mơ Tiên . Tôi cười bảo: Tiên gì nữa? Tiên nằm bên cạnh hằng đêm mà còn mơ thì coi chừng bầm mình có ngày đó nghe bạn! Hưng cười hồn nhiên. Tôi lại nhớ thằng bé bị bịnh sưng phổi hồi Hưng làm "Trùm" ở Phú Quốc. Hưng nói:

     - Nó đã lên đại học.

     - Còn ông già? Ổng có sang đây không?

     Máy bỗng kêu rè rè tôi không còn nghe rõ tiếng Hưng nữa. Tôi không nói tiếp được, tôi khóc... khi nghĩ tới ông, và bây giờ viết thêm ra đây: Chúc Hưng và Hồng Lan thành công và hạnh phúc.

Khai bút 94.
Xuân Vũ

Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp