Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Bạt cho Một Trời Một Biển
Lê Bảo Trân
Từ Winston-Salem, North Carolina, Nguyễn Tấn Hưng gọi,
ngỏ ý muốn tôi góp "vài lời" cho tác phẩm
Một Trời Một
Biển
của anh sắp sửa trình làng.
Tôi nhận!
Không phải vì tác giả cùng quê cùng xứ hay cùng nhóm cùng
phe (tôi vốn dĩ vô duyên với những cái lẩm cẩm ấy),
nhưng vì tình chiến hữu khi xưa. Nguyễn Tấn Hưng chọn tôi
chắc cũng không ngoài ý đó!
Nhưng lo!
Viết gì đây? Viết sao cho tròn, vừa trung thực, vừa
đẹp lòng bạn, vừa yên lòng mình mà không bị độc giả
cau mày vì:
Xun xoe áo thụng hai hàng
Hia mão rộn ràng đâu mặt vái nhau.
Cái khó là đó!
Ít hôm sau, tôi nhận được
Một Trời Một Biển
, kèm
theo bức tâm thư của Nguyễn Tấn Hưng: "Ðây là bản thảo
Một Trời Một Biển
để nhờ anh viết cho cái Bạt. Như
anh cũng từng đọc qua, truyện dài của Nguyễn Tấn Hưng là một
chuỗi truyện ngắn, vẫn tiếp tục con đường đó... Cũng
dựa vào sự thật, nhưng không nặng tính chất tự truyện
nữa. Ðâu anh đọc thử xem sao?"
Tôi bắt đầu đọc. Ðọc thật kỹ. Suy ngẫm từng ý,
từng câu. Tôi muốn hiểu thêm về tác giả. Vì, thật
tình tôi biết Nguyễn Tấn Hưng chưa lâu.
Cùng là lính, nhưng anh bơi dưới nước, tôi lội trên
bờ! Cùng quê xứ dừa, nhưng dòng Tiền Giang đôi bờ
chia cách! Anh đi từ trường làng sang trường quận,
rồi tốt nghiệp "lò" Nguyễn Ðình Chiểu, một trường
trung học công lập nổi tiếng ở Mỹ Tho. Tôi vừa xong
lớp vỡ lòng đã khăn gói lìa quê lên Sài Gòn, mỗi
năm chỉ được về thăm nhà vào hai dịp Hè và Tết.
Do đó, tình hoài hương của anh chắc phải nặng hơn tôi.
Một sáng Chúa nhựt...
Ðiện thoại reo. Bên kia đầu dây, Nguyễn Tấn Hưng lên
tiếng. Giọng anh thật thà, đơn giản, chắc nịch như hột
lúa miền châu thổ Cửu Long Giang.
Tôi quen Nguyễn Tấn Hưng từ đó.
Thỉnh thoảng, anh gọi... Càng ngày, khoảng cách địa dư
giữa chúng tôi như gần lại. Tôi mến anh, không phải
vì thông lệ hẹp hòi "cùng quê, cùng cảnh," nhưng vì
cái mộc mạc đó.
Tôi đã đọc hầu hết cái tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng. Anh
viết dễ dàng như kể chuyện, không chải chuốt, gọt mài.
Tôi đồng ý với Hồ Trường An là "Nguyễn Tấn Hưng viết
tự truyện chớ không phải tiểu thuyết." Người đọc không
bận tâm, thắc mắc vì cú pháp hay tình tiết. Xong là hết!
Không biết do ngẫu trùng hay chủ định mà hầu như tác phẩm
nào của Nguyễn Tấn Hưng cũng đều mang... số 1. Như:
Một Chuyến Ra Khơi, Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm
"Trùm", Một Cảnh Hai Quê, Một Kỷ Niệm Ðẹp, Một Lần
Xuống Núi, Một Nỗi Buồn Riêng, Một Thoáng Trong Mơ
và
giờ đây thì...
Một Trời Một Biển
. Lại sẽ có
Một Giấc Mơ Tiên, Một Phen Lận Ðận
...
Có lần tôi tếu:
- Hưng nè, cú pháp của anh độc đáo quá, không ai bắt
chước được. Chi bằng tác phẩm tới lấy tên
Một Mình
Một Chiếu
cho... thảnh thơi ngồi.
Hưng cười. Nụ cười xuề xòa, không câu nệ.
Ngoài văn xuôi, Nguyễn Tấn Hưng còn làm thơ viết nhạc. Nhưng
theo tôi, cảm tình của độc giả dành cho anh là truyện ký.
Nguyễn Tấn Hưng vừa cùng Phan thị Hồng Lan... cho ra
Một
Dòng Ca Dao, Câu Hò, Câu Ðố Miền Nam
, một đóng góp khá
phong phú trong lãnh vực sưu tầm. Hồng Lan nữ sĩ đã có
những nét riêng ngay từ những sáng tác thơ văn đầu tay.
Ðọc xong
Một Trời Một Biển
, tôi có cảm giác lâng lâng
như ngày nào còn là Sinh viên Sĩ quan Thủ Ðức, bồng bềnh trên
chiếc Gascogne, rập rềnh theo sóng nước đi từ Nam ra Bắc.
Màu xanh trùng dương, bầu trời bát ngát, gió khơi lồng
lộng, ngàn cánh hải âu, lững lờ cá lội... Tàu qua Nha
Trang, Tuy Hòa, Qui Nhơn, Thanh Hóa... Từ khơi nhìn vào thấy
Hòn Vọng Phu buồn hiu hắt, dãy Trường Sơn trùng điệp, bãi
cát trắng phau phau. Rồi, đêm nằm trên bãi Ðồ Sơn, nghe
tiếng thông reo, tiếng sóng vỗ, nhìn đóm mắt hỏa châu,
ngắm đỉnh Ba Vì, ngọn Yên Tử ẩn chìm sau làn mây xám, lòng
bỗng say mê mộng hải hồ.
Với biển cả anh là thủy thủ
Với lòng nàng anh là hoàng tử
...
Với
Một Trời Một Biển
, Nguyễn Tấn Hưng đã rẽ sang
lối ngoặt mới. Anh đã chọn cho mình một ngõ đi khác,
gần gũi với tiểu thuyết trữ tình hơn.
Một chút mộng mơ:
Trời hôm nay mưa phùn bay lất phất. Lạnh lạnh, cái lạnh
của mưa gió sụt sùi. Không gian như mờ đục hơi sương.
Những hạt mưa bụi nhỏ li ti tuy không thấy rõ nhưng đã làm ẩm
ướt khắp mọi nơi. Trên mặt nhựa đường đen nhánh, cũng
như trên thân cây nâu sậm và lá cành thẫm xanh. Những hạt
mưa đã từng làm những chiếc áo mưa thêm hồng và những
chiếc dù thêm thắm. Cho những đôi tình nhân suốt đời thèm
lang thang trên hè phố, sát vào nhau như muốn chuyền hơi ấm.
Những hạt mưa đã từng làm khung trời thêm phần ảm đạm, thê
lương
... (trang 41).
Một trời lãng mạn:
Hiền bỗng dưng mềm nhũn trong tay Tần, nàng không còn mảy
may một sức kháng cự nào trước cơn mê vũ bão, sảng khoái
của yêu đương. Nàng để mặc cho chàng bồng nàng gọn ghẽ
trên đôi tay rắn chắc, đầu nàng áp vào ngực chàng bên cạnh
trái tim hừng hực bốc cao qua từng nhịp thở. Tần đưa chân
khép trái cửa và đưa nàng vào phòng riêng gần như đã quen
thuộc của hai đứa. Bóng đèn trái ớt cũng không làm căn
phòng sáng hơn bên ngoài bao nhiêu. Chàng đặt nàng xuống
giường, duỗi hai chân nàng thẳng ra, áp mình lên người
nàng, cúi hôn... hai đầu lưỡi quyện vào nhau, quấn quít.
Hai mắt nàng nhắm nghiền trong cảm giác đê mê, say sưa hưởng
thụ...
...
Từng khuy áo bật nút và, theo bản năng, bàn tay chàng
ve vãn bờ vai trần, mơn mởn thịt da. Hương con gái ngào
ngạt tỏa ra từ đôi ngực đào tơ, lồ lộ, không mặc áo
sú-cheng. Nàng bất giác rùng mình, nổi da gà, khi những ngón
tay chàng chạm vào đầu vú, phớt qua phớt lại... rồi nắn
bóp, cương lên, săn gọn trong lòng bàn tay chàng
... (trang
176,177).
(Không biết nữ sĩ Hồng Lan nghĩ sao về đức lang quân khi
đọc đến đoạn này?).
Một Trời Một Biển
có thể là quyển "lưu niệm" gối
đầu giường của những cựu Sĩ quan Hải Quân xuất thân từ
lò "luyện thép" miền Thùy Dương cát trắng.
Nguyễn Tấn Hưng "thật" và "hăng" quá! "Thật" từ ngôn từ,
tư tưởng, đến bút pháp, lời văn. "Thật" đến độ quên
giữ ý, giữ lề, nên dễ bị "ách giữa đàng..." Người
miền Nam có câu: "Trống rỗng như cái ống tre." Anh là vậy
đó!
Xin nghe anh "nói thật" về cái nghèo của gia đình mình:
Ở nhà chú Hai Bộ không được thoải mái
bằng nhà ông Bảy. Ði đứng phải có
giờ giấc. Học bài cũng không được
học khuya, sợ hai thằng nhỏ giật mình. Ngay cả
miếng đất bằng bụm tay phía sau nhà cũng
không được tự do trồng trọt. Chỉ
được đám rau răm. Mặc dù bị mấy
cây gòn che hết nắng mà đám rau răm cũng
mọc xanh rì như đám cỏ. Chị em Hùng nhờ
vào đám rau này rất nhiều. Mấy lúc kẹt
tiền, chị Cúc ba bốn bữa liên tiếp cho anh Tấn
với Hùng ăn cơm với mỗi một món độc
nhất "rau răm xắt nhuyễn thả vô nước
tương."
Gió đưa cây cải về trời, rau
răm ở lại chịu mùi nước tương
, tụi
Hùng ngâm như vậy. Dũng Thanh Lâm kia "cá
hấp, cá hấp hoài phải ngứa," thì mình "rau
răm, rau răm hoài phải cay." Bởi vậy chị
Cúc một lần đó đổi món ăn mới mà
mỗi lần nhớ lại Hùng thấy nhói trong tim.
- Bữa nay có gì ăn không chị ba? Hay là
bổn cũ soạn lại?
- Có nồi cá kho để trên bếp đó.
Anh Tấn và Hùng nghe nói có nồi cá kho trong
bụng như mở cờ, hấp tấp dọn cơm. Ðến
chừng dở nồi cá ra mới thấy hỡi ôi:
- Cá kiểu gì kỳ vậy chị Ba? Sao toàn là
đầu mà không thấy phần đuôi!
- Của thiếm Hai cắt cho đó. Chị kho cho mấy
em ăn đỡ.
Hùng nghẹn ngào nhìn anh Tấn, nhẹ nhàng đậy
nấp vung lại.
- Chị Ba à, sao chị làm vậy? Tụi em thà
chết đói...
- Chị thấy hai em ăn với nước tương
hoài, chị không nỡ.
Rồi ba chị em nhìn nhau rơm rớm
...
(trong
Một Ðời Ðể Học
, trang 22 và 23).
Ðọc đoạn này tôi rơi nước mắt. Vì, tôi cũng có
người chị thương em như chị Cúc của Hùng...
Qua những bài "ý kiến" của Nguyễn Tấn Hưng thỉnh thoảng xuất
hiện trên các báo địa phương, tôi nhận thấy anh "thật" đến
độ có nhiều ý nhiều lời nếu đặt lên bàn mổ sẽ trở
thành đề tài tranh cãi lớn.
Có lần anh tâm sự:
- Không biết sao dạo nầy thiên hạ thi nhau "dũa" mình
tới tấp!
Tôi nghĩ vì anh còn nặng "NGHIỆP" (theo nghĩa nhà Phật)!
Khi biết được:
Kinh sử xác xơ chồng giấy lộn
Ðỉnh chung thấp thoáng bóng mây trôi
thì mọi chuyện trên đời đâu còn là những cái để bận
tâm nữa?
Gốc Hải Quân, anh thừa hiểu ra khơi phải gặp sóng gió.
Không sóng lưỡi búa cũng sóng bạc đầu. Cái khéo của
thuyền trưởng là làm sao hoàn tất cuộc hải trình mà con
tàu không thương tổn... Sóng gió là những bài học kinh
nghiệm quí giá, giúp thuyền trưởng cẩn thận hơn, khôn
khéo hơn, chu đáo hơn, và tế nhị hơn trong những chuyến
về sau.
Madison, tháng năm, 1992
Lê Bảo Trân
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp