Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Một Thuở Làm "Trùm"

Nguyễn Tấn Hưng

     Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi lên đường đi Phú Quốc đảm nhận chức vụ mới: trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Vùng 4 Duyên hải.

     Mới nghe qua chẳng thấy gì quan trọng. Cái quan trọng theo nghĩa thông thường của những người sống trong nghề. Cũng chỉ là một chức vụ tình báo tham mưu căn bản thôi. Chẳng hề có quỹ mật phí, chẳng hề nắm trong tay một tên mật báo viên hay một double agent nào thì làm gì có chuyện động trời? Làm gì có chuyện đồng vô đồng ra? Vậy mà hình như ai cũng lăm le dòm ngó nó, làm như nó quả là chức vụ chỉ dành riêng cho các sĩ quan thân tín, có máu mặt. Cái hấp dẫn của nó phải chăng là vì đường xá xa xôi cho nên một mình một cõi, rồi phép vua thua lệ làng mặc sức tung hoành? Chắc là vậy! Có điều tôi hay thắc mắc là tại sao mình được cái diễm phúc này?

     Sở dĩ tôi chọn đi Phú Quốc là tại vì vợ tôi không thích trở ra miền Trung. Ðối với vợ tôi, lý do thật hết sức là đơn giản: ở miền Nam bề gì cũng dễ sống. Còn đối với tôi, lý do cũng hết sức đơn giản: vì đàn bà. Mặc dù trong lúc đó xếp lớn đã sẵn sàng một màn lưới mật báo viên ở Vùng 2 đang cần tôi ra đó điều động. Nắm lưới, lẽ tất nhiên nắm luôn cái quỹ mật phí của lưới. Nói cách khác, tức là nắm luôn số lương căn bản phụ trội hàng tháng không đến nỗi tệ của mình. Ðồng nghiệp thâm tình người nào cũng chê tôi là dại. Ăn ít no dai, chắc như bắp vậy mà còn giả bộ thẩn thờ, nhện chờ mối ai.

     - Anh đi coi một cái đảo như đi hưởng nhàn, hở?

     Lời đại tá Nguyễn Ðỗ Hải, trưởng phòng Nhì của bộ tư lệnh Hải quân, nhắn nhủ với tôi trước khi tôi đi, xét ra cũng không đúng cho lắm. Vì chỗ này không phải là chỗ hưởng nhàn mà là chỗ ăn chịu, lúc nào cũng bận rộn đấu trí. Ổng nói như vậy tức là ổng chưa am hiểu tình hình Phú Quốc như thế nào. Cũng chẳng trách ổng được, không tài gì ổng hiểu hết nổi. Vả lại nếu ổng biết rành rẽ ngọn ngành chưa chắc ổng đã đồng ý cho tôi đi. Âu cũng là số trời đã định.

     Tôi được biết sơ sơ là tình hình Phú Quốc vừa trải qua một cơn bão lớn. Ðại tá Phạm Gia Luật, tức "cao bồi" Luật, tư lệnh Vùng 4 Duyên hải, vừa bị nghị sĩ Ðoàn Văn Lượng thuộc tỉnh Rạch Giá tố cho một phát văng ngay về Sài Gòn, đang chờ ngày ra tòa án quân sự. Chạy cái giấy giải ngũ có lẽ là giải pháp hợp lý, yên ổn nhất. Ðồ đệ của đại tá Luật là đại úy Trần Văn Xe, trưởng phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải, cũng đang đồng bệnh chìm xuồng, chuẩn bị bán xe hơi bán nhà lầu để lo khỏi đi tù.

     Thiệt tình lúc đó tôi chẳng biết "hoạt động chính hiệu con nai vàng" của "triều đại" này là làm cái gì? Mà thấy ra cũng chẳng cần biết chính xác làm chi, vì mỗi triều đại mỗi khác. Nhưng tôi biết chắc một điều là nếu đúng như lời đồn đãi thì đất Phú Quốc quả nhiên vẫn còn linh thiêng. Hình như ai tới đây lập nghiệp cũng tạo dựng được cơ đồ, dễ dàng như thể được phép tiên khuấy nước lã nên hồ, khuấy nước biển thành nước mắm. Ðúng như cái tên của nó, Phú Quốc: xứ giàu, xứ làm giàu. Ngặt một nỗi đến lúc rời đảo thì hình như chạy trời không khỏi nắng, tay trắng không khỏi hoàn trắng tay. Của thiên trả địa, của sông đổ biển.

     Một "triều đại mới" được lập lên bởi lý do hết sức chính đáng: trên một đảo không thể có một ngày không có "chúa đảo." Mà cũng kỳ, tại sao chẳng ai chịu gọi là chúa đảo cho gọn, để phải dài dòng lê thê: Tư lệnh Vùng 4 Duyên hải kiêm đặc khu trưởng Ðặc khu Phú Quốc. Xưa nay chỉ nghe quân khu, tiểu khu, chi khu chớ chưa nghe ai nói đặc khu bao giờ. Ðặc khu phải lớn hơn chi khu là cái chắc vì chi khu trưởng tức quận trưởng quận Dương Ðông, trung tá Thảo, vẫn phải phúc trình rụp rụp cho chúa đảo đặc khu trưởng. Là một đơn vị coi về lãnh thổ, hành chánh mà bị đặc trực thuộc dưới một đơn vị tác chiến của Hải quân thì cũng là chuyện khác thường, ngộ nghĩnh.

     Ðầu tàu là đại tá Khương Hữu Bá ra thay cao bồi Luật làm chúa đảo và tôi thay đại úy Xe giữ vai trò quân sư quạt mo. Nhiệm vụ trước mắt là nhằm chấn chỉnh lại đường lối hoạt động hầu có thể tạo dựng một cơ nghiệp mới. Một khúc quanh lịch sử, nếu được...

     Chiếc cessna lượn một vòng trên phi trường An Thới trước khi đáp. Tôi có cảm giác như mình đang trên đường đi ải địa đầu. Không địa đầu sao được một khi tôi đã ra khỏi biên cương và đang ở trên xứ người, đất Miên, nếu kéo kinh Vĩnh Tế dài ra ngoài khơi làm ranh giới! Từ trên cao nhìn xuống Phú Quốc quả là một đảo quá lớn. Lớn hơn cù lao Ré, lớn hơn cù lao Thu và lớn hơn cả Côn Sơn. Mấy chục lần. Nếu không có bề ngang thì tôi cũng tưởng là mình đang bay trên đất liền. Ðang ở miền Trung nữa là khác, vì núi Khu Tượng thấy xa xa, mờ mờ trên vùng Bắc Ðảo cũng giống như một đỉnh nào trên dãy Trường Sơn.

     Phi cơ lướt trên phi đạo lót bằng vĩ sắt gập ghềnh, nhấp nhô như ghe tàu chạy trên sông. Bồng bềnh trong giây phút, rồi quay đầu đi thẳng về bến đậu. Ra phi trường đón tôi là một anh chàng trung úy. Người hắn to lớn, bắp tay cuồn cuộn rắn chắc như một lực sĩ Mỹ. Từ ngạc nhiên đâm ra ngượng ngùn vì tôi biết mình nhỏ con. Trong đầu tôi độc thoại nhiều câu vớ vẩn. Tôi cần người phụ tá đắc lực chớ không cần cận vệ đỡ đạn. (Nghe đâu cao bồi Luật lúc trước đã sử dụng xe jeep có bọc sắt, chất bao cát xung quanh để đi "dạo phố" ở ngoài này). Tôi cần người biết dùng mưu lược chớ không cần người chỉ biết dùng sức mạnh. Tôi cần Khổng Minh chớ không cần Trương Phi. Tình báo mà... Hắn chào tôi, tôi chào đáp lễ và hắn tự giới thiệu:

     - Tôi, trung úy Sơn. Ðại úy ra đây có một mình hả?

     Ngừng lại một giây trên bảng tên cài trên ngực áo, tôi thân mật chìa tay cho hắn bắt:

     - Ừa... Anh ở ngoài này lâu chưa?

     - Ðã gần hai năm, đại úy.

     - Vậy thì cũng sắp hết hạn kỳ.

     Viên trung úy phi công nhập bầy với mấy người sĩ quan bộ binh ra đón ông thiếu tá cùng đi với tôi trong chuyến bay, có lẽ là tiểu đoàn trưởng của một tiểu đoàn địa phương quân. Nhẹ nhàng như một đứa bé cầm lên đòn bánh tét, Sơn tóm cái sac-marin của tôi thảy lên băng sau chiếc jeep. Tôi lên xe cho Sơn lái ra khỏi phi trường. Chỉ một hàng rào kẽm gai mỏng manh, thô sơ làm vòng đai. Tiếp theo là con đường đất màu gạch cua ngoằn nghoèo, gồ ghề, lởm chởm. Một đám bụi hồng để lại sau lưng, mù mịt như con trốt biết đi. Gió ngoài khơi thổi mạnh vào người hạ bớt nhiệt độ ban trưa. Ðâu đây hình như có nghe tiếng sóng vỗ rì rầm. Tôi mở lời hỏi thăm:

     - Sao? Ở ngoài này có dễ thở không Sơn?

     Như được dịp, Sơn không ngần ngại bày tỏ nỗi lòng:

     - Dạ sống được lắm, đại úy. Chỉ tội cái xa nhà, mỗi lần về đất liền thiệt khó. Ðại úy may mắn là có máy bay đưa ra đây, chớ tụi tôi thường phải nằm tàu đò cả đêm mới qua được Rạch Giá. Rồi từ Rạch Giá về Sài Gòn mất thêm một ngày nữa. Ðó là còn hên, không bị kẹt xe giữa đường.

     - Như vậy khoảng bao lâu anh về phép một lần?

     - Bốn năm tháng, có khi nửa năm.

     Tôi nói như tâm sự với chính mình:

     - Lâu vậy à... Tôi phải thăm dò tình hình coi có thuận buồm xuôi gió hay không rồi mới dám dẫn vợ con theo. Có gia đình mỗi lần di tản là một lần khổ.

     Chợt thấy mình như đã có một quyết định sai lầm, tự nhiên nằng nằng đòi đi ra cái đảo này cho được. Với đám độc thân bốn năm tháng mới về đất liền một lần thì cũng không đến nỗi, đằng này tôi còn một vợ bốn con đang ăn nhờ ở đậu nhà ông bà nhạc thì ai nuôi? Mà chẳng lẽ mua mandat hàng tháng gửi lương về? Ngoài này làm gì có nhà bưu điện? Bưu tín viên của KBC chắc cũng đi Rạch Giá bằng tàu đò mà thôi. Tôi moi túi lôi gói Bastos xanh, gõ gõ trên ngón cái, lòi ra một điếu cắn lên môi. Bật lửa, rít một hơi dài. Mùi thuốc khét lẹt, khô khan trong buồng phổi. Tôi không ghiền hương vị đắng nồng của Bastos xanh, nhưng tôi hút nó chỉ vì không có tiền mua Capstan, Ruby. Ngay cả Ruby xanh quân tiếp vụ có hình người lính bồng súng xông pha trên nền cờ vàng ba sọc đỏ. Rõ tội cho đời lính nghèo.

     Xe đến một ngã ba. Một đường vòng lên hướng bắc, một đường đi thẳng vào doanh trại: Thủy xưởng An Thới. Có chòi canh có lính gác. Một lớp bao cát mới đấp xung quanh tăng cường thêm mức độ phòng thủ. Màu xanh ve chai chưa đổi màu, còn đậm. Nét chữ trắng vẽ trên tấm bảng xám hình vòng cung nối liền hai trụ cổng thấy rõ từ đàng xa.

     - Lối đó đi ra nhà dân, đại úy. Ở đây độc đạo chỉ có một con đường không tên này. Bắt đầu từ đây chạy lên quán ông cảnh sát Thơm, chạy vòng ra chợ, chạy xuống bến đò, chạy ra mấy nhà thùng làm nước mắm, mấy hãng xẻ khô. Ðại úy muốn đi một vòng cho biết hôn?

     Ðang thấm mệt, tôi đáp ngay:

     - Thôi để bữa khác đi. Cần nhất là lo chỗ ăn chỗ ngủ cái đã.

     Sơn chạy thẳng. Anh thủy thủ mở cổng cho xe vào và đưa tay chào. Tôi chào trả. Thêm một đỗi nữa mới đến đoạn đường tráng nhựa. Quẹo xuống mé biển, băng ngang tổng hành dinh bộ tư lệnh thì đến cư xá sĩ quan độc thân. Một dãy nhà trệt nhiều căn cất sát bờ cát trắng. Nền xe măng, tường gạch block sơn màu xanh đọt chuối. Mặt tiền trông ra biển. Một cầu tàu bắc dài tuốt ra khơi. Sóng vỗ ầm ầm liên hồi, nghe dội bên tai. Tôi theo Sơn vào một căn giữa. Ba bốn giường nệm cá nhân trải song song. Khoảng trống còn lại phía sau dành riêng cho dàn tập tạ. Hèn chi đám sĩ quan độc thân ngoài này đứa nào trông cũng vai u thịt bắp. Chắc chẳng còn chuyện gì quan trọng để làm?

     - Ðại úy nghỉ tạm ở đây đi...

     Cuộc tiếp đón một tân trưởng phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải chỉ có vậy. Không kèn trống và cũng không có lễ bàn giao. Sơn trở lại làm việc, bỏ mặc tôi với căn phòng xa lạ. Trống trơn. Không màn che không vách ngăn, không ghế ngồi không bàn viết. Hình như chỗ này chỉ là chỗ chỉ để ngủ thôi. Tôi tự hỏi: sống tập thể mà không bếp núc nấu nướng, không chè chén nhậu nhẹt, không đàn ca xướng hát thì còn gì là hứng thú? Nản thiệt! Tôi lôi mấy thứ lặt vặt trong sac-marin để lên chiếc giường vô chủ vì chưa có trụ giăng mùng. Có lẽ dành cho tôi. Bao nhiêu dự đoán của tôi về Phú Quốc đều sai bét hết. Nhớ ngày nào còn ở bộ tư lệnh Hành quân Sông, sĩ quan độc thân mỗi người ở riêng một phòng. Có tủ lạnh, máy điều hòa không khí đàng hoàng. Ðâu làm sao mà chui rút, chung đụng như vầy cho được. Tôi lại ở chung phòng với người sĩ quan phụ tá cho tôi? Nghĩ mà tức cười!

     Ðiều làm tôi càng ngạc nhiên hơn nữa là khi tôi lấy khăn ra nhà sau đi tắm. Tưởng là tắm búp sen, nước nóng nước lạnh như những đơn vị căn cứ hải quân khác, ai dè tôi phải dội từng nón sắt một múc từ hồ nước xây bằng xi măng vuông vức cạnh vách tường. Thiệt là tệ hại. Thiệt là hết chỗ nói. Cũng may là nước còn trong hồ. Rồi ai xách nước cho mình, ai cung cấp nước cho mình? Nghĩ tới đó càng thêm chán nản. Tôi mặc vội bộ đồ pyjama trở vô leo lên giường làm một giấc. Không buồn thắc mắc thêm điều gì nữa.

     Chiều về, Sơn rủ tôi ra phố ăn cơm. Ði nhậu thì đúng hơn. Hai thầy trò lội bộ ra quán Bò Vàng vì phòng Nhì không có xe. Lại thất bại. Không có xe không phải là trong bảng cấp số không có, mà chỉ vì bảng cấp số ở đây không có nghĩa lý gì với ai cả. Mượn được chiếc jeep đi đón tôi tận ngoài phi trường, phải nói là nhờ tài ngoại giao khéo léo của Sơn. Phải nói là tình sâu, nghĩa nặng.

     Sau mấy món biển lai rai, bây giờ đến món chính của thực đơn ngày hôm nay: thịt bò xào cần tàu. Thơm phức. Ngọt lịm. Tôi tưởng tượng đến đất Phú Quốc. Ngoài kia chắc đâu đâu cũng là đồng cỏ xanh màu. Gia súc, đàn từng đàn, hồn nhiên lững thững ăn rong. Thanh bình. Giặc giã có muốn chắp cánh bay ra đây cũng bay không nổi. Ngàn dặm xa xôi... Nhưng trí tưởng tượng của tôi một lần nữa đã đi quá xa thực tế. Sơn cho tôi biết tất cả đồ ăn thức uống tôi đang dùng ở đây hầu hết mang ra từ đất liền. Trớ trêu thay!

     Tàn tiệc, tôi làm gan:

     - Ðể tôi trả cho.

     Sơn gạt ngang:

     - Ðại úy phải để tôi. Ba cái lẻ tẻ này là trách nhiệm của đàn em, từ rày đại úy khỏi lo mấy chuyện này nữa.

     Thằng này nói giỡn hay nói thiệt đây? Nể tình đàn anh cũng vừa vừa thôi, đâu ai nỡ "nặng lời" như vậy. Ðể Sơn trả lần đầu thì cũng được, nhưng tôi vẫn thấy ái nái vì tôi có kêu gái Capstan, mà Sơn thì không hút thuốc. Dân tập tạ mà. Thây kệ, bữa này anh thì bữa khác tôi. Bánh ích đi ngày này thì bánh qui sẽ lại ngày kia.

     Sáng ngày sau tôi áo mão chỉnh tề trình diện chúa đảo. Tôi chỉ nghe tiếng đại tá Bá chớ chưa giáp mặt ông lần nào. Mà điều tôi ngạc nhiên không phải là đại tá Bá mà là ngài chánh văn phòng của ông: đại úy Nguyễn Ngọc. Chửi cho ngài một trận:

     - Ðù me, cùng khóa với nhau mà mày bủn xỉn quá không biết tiếp đón, niềm nở bạn bè gì hết vậy! Xã giao hải quân mày học những hai năm trong trường rồi mày vứt nó đi đâu?

     Ngọc cười xòa:

     - Tao đâu có xe đâu mà đi đón mày. Mấy thằng đệ tử của mày lo cho mày không nổi sao. Ðù me, phòng Nhì của mày ở đây là số một mà. Ê, tao thấy cư xá sĩ quan còn một hai căn trống, mày nên liên lạc bên căn cứ làm thủ tục xin liền đi. Ðể rủi có thằng nào xin trước thì mày phải mướn nhà ngoài phố, phiền phức lắm.

     - Chớ nhà của đại úy Xe cựu trưởng phòng Nhì đâu.

     - Nó bị tống cổ về Sài Gòn gần nửa năm rồi, ai ở không mà lo nhà sẵn cho mày.

     Tôi đùa:

     - Tụi nó phải nể tao là trưởng phòng Nhì chớ mậy.

     Ngọc cười ha hả:

     - Ừa, để rồi tụi nó sẽ nể mày. Tụi nó sẽ cấp cho mày một căn nhà ở trên núi để mày dễ bề kết bè kết bạn với tụi Việt Cộng.

     - Ngoài tao với mày, khóa mình còn thằng nào nữa không?

     - Không. Nhưng mấy thằng bị đưa đi làm chỉ huy trưởng đài kiểm báo cũng sắp sửa ra. Thằng Trần Văn Toàn sẽ là "chúa hòn," hòn Nam Du. Thằng Tôn Thất Minh cũng sẽ là "chúa hòn," hòn Chuối hòn Dừa... À, hòn Ðốc, trong quần đảo Hải Tặc.

     Bệ kiến chúa đảo xong, tôi trở về phòng làm việc của mình. Phòng Nhì, một căn nhà tiền chế lợp tôn loại cong vòng theo hình bán nguyệt nằm phía sau trung tâm hành quân của bộ tư lệnh. Cửa sổ nằm dọc hai bên hiên. Khoảng khoác, mát mẻ. Bên cạnh còn cất thêm một nhà tù nhỏ bằng gỗ và một chuồng cọp toàn bằng kẽm gai.

     Tôi điểm danh thuộc hạ. Trước hết là trung úy Sơn. Kể như tôi đã có qua có lại với vị sĩ quan phụ tá của mình. Kế đến là thượng sĩ nhứt Thái. E dè, rụt rè như con gái. Rồi thượng sĩ Nghĩa, em ruột của ông bố khóa đàn anh của tôi. Coi bộ thâm trầm, lém lỉnh. Tụt xuống hàng "polo" dẫn đầu là hạ sĩ nhứt Nhiều. Người hùng chết hụt trận Hoàng Sa. Một thành tích chiến đấu hết sức dũng cảm: một tuần đeo phao trên biển, hoàn tất nhiệm sở đào thoát cá nhân. Tiếp theo là ông thần Danh Un, hạ sĩ. Khỏi cần giới thiệu dài dòng, ai cũng biết ông thần này người Việt gốc Miên. Chức vụ rất là quan trọng: interpreter, thông dịch viên Miên và Thái ngữ. Trụ cột của phòng Nhì trong những lần thẩm vấn kẻ địch đã dám ngang nhiên xâm lấn hải phận Việt Nam. Và sau cùng là thủy thủ Khương, tân binh mới đổi về từ trung tâm huấn luyện Cam Ranh.

     Tôi vào phòng riêng xem lại bản đồ tình hình, bản đồ trận liệt. Lực lượng địch duy nhất chỉ có một tiểu đoàn Việt Cộng hoạt động du kích khắp đảo. Bộ chỉ huy của tiểu đoàn này luôn luôn đặt trên núi Khu Tượng, miệt có nhiều vườn tiêu. Lực lượng bạn gồm địa phương quân, nghĩa quân thuộc chi khu Dương Ðông và một liên đoàn địa phương quân trấn đóng và hoạt động trong vùng phía nam. Ðó là chưa kể đến lực lượng hùng hậu của hải quân Vùng 4 Duyên hải: duyên đoàn 42 ở phía tây An Thới, duyên đoàn 44 vùng Hà Tiên, Kiên Lương, duyên đoàn 43 vùng hòn Tre, Rạch Sỏi, duyên đoàn 41 vùng hòn Khoai. Và Hải đội 4 Duyên phòng với trên dưới 20 duyên tốc đĩnh. Xem ra lực lượng của mình mạnh gấp mấy lần lực lượng địch. Vậy mà tại sao tiêu diệt địch không nổi? Vậy mà tại sao quận lỵ Dương Ðông vẫn bị ăn pháo kích đều đều? Vậy mà tại sao các đồn nghĩa quân mạn Bắc Ðảo vẫn bị tấn công dài dài? Không hiểu nổi, thiệt là không hiểu nổi!

     Tôi gọi Sơn vào phòng:

     - Xưa nay ai trách nhiệm khai thác tin tức tình báo? Ai soạn thảo bài thuyết trình? Ai đảm trách phần thuyết trình tình hình hàng ngày cho tư lệnh?

     - Tôi làm hết, đại úy. Nhưng, ở đây không có vụ thuyết trình hàng ngày đâu đại úy ơi. Có tin tức gì quan trọng tôi xách bản đồ lên văn phòng nói thẳng với tư lệnh phó ...

     Nghe chẳng lọt lỗ tai, tôi hỏi lại:

     - Tại sao tư lệnh phó mà không phải là tư lệnh?

     - Tôi làm việc trực tiếp với trung tá Khôi nhiều ngày đã thành thói quen. Vả lại tư lệnh mới của mình bận dữ lắm, ổng không có rảnh để nghe thuyết trình tình hình vớ vẩn của phòng Nhì đâu.

     - Hừ, lại là một chuyện lạ... Rồi ai phụ trách tủ hồ sơ mật này?

     - Cũng tôi luôn.

     Tôi mù tịt, không hiểu lề lối làm việc ở ngoài này như thế nào. Hình như mọi phương cách điều hành phòng Nhì ở đây nhứt nhứt đều đi trái ngược với những gì tôi đã học hỏi và thu lượm được trong những năm làm trong nghề, tôi bực mình:

     - Cái gì anh cũng thầu mẹ nó hết thì đám nhân viên trong phòng này chắc là đem bỏ cho chó ăn, hả?

     -...

     Sơn trở về bàn giấy. Tôi định kêu nhân viên vào phòng "thẩm vấn" từng tên một. Ðể biết sở trường, sở đoản của mỗi đứa trước khi chỉ định chức vụ, giao phó trách nhiệm. Không thấy một văn thư hay một lệnh lạc nào rõ ràng thì biết thế nào là luận công, thế nào là qui tội. Phải làm một cuộc cách mạng? Hay là chiếc xe đang chạy ngon trớn thì đừng nên sửa chữa? Cái nào lợi cái nào hại? Rốt cuộc rồi tôi chỉ biết thở dài, tự xét thấy còn quá sớm để làm mấy công tác này. Tôi bước ra ngoài, dặn Sơn:

     - Tôi đi qua bên căn cứ, nếu có gì cần thì anh cho người tìm tôi. Mà Sơn này, tôi thấy anh cứ tiếp tục làm những gì anh đã làm đi.

     - Dạ, đại úy yên tâm. Bảo đảm không có gì trở ngại.

     Việc quan trọng đối với tôi bây giờ không phải là chăm sóc phòng Nhì mà là chăm sóc nhà cửa, cư xá để đem vợ con theo. Nếu không phúc trình tình hình hàng ngày cho tư lệnh thì phòng Nhì đặt ra để làm cái quái gì? Rồi lâu ngày nếu không kiếm cớ để gặp nhau thì chúa đảo và quân sư quạt mo có lẽ sẽ trở thành mặt trời mặt trăng. Tôi sẽ mặc sức tung hoành. Tôi sẽ thảnh thơi mà lo chuyện riêng của tôi. Cũng hay. Ðộc đáo nữa là khác!

     Tôi băng qua căn cứ làm thủ tục xin nhà. Mới hay thằng bạn cùng khóa của mình nói trật lấc. Chỉ huy trưởng căn cứ, thiếu tá Nguyễn An Cường, không nể thằng người của tôi thiệt nhưng ít ra ông cũng nể chức vụ của tôi. Ông đã dành sẵn cho tôi một căn, căn bìa. Giấy tờ xong xuôi, tôi vội vã chạy đi thăm "căn nhà lý tưởng" của mình.

     Cư xá gia đình sĩ quan nằm phía ngoài vòng đai bộ tư lệnh, tiếp giáp với khu buôn bán, thị tứ. Không có hàng rào bao bọc, không có sự cách biệt giữa binh lính và dân chúng. Hai dãy dài cũng nền xi măng, tường gạch block. Trước thềm ba có nhà bỏ trống có nhà làm hàng rào cây. Tương đối khang trang, sạch sẽ.

     Mở cửa ra mới biết nhà chỉ có một phòng nối liền từ vách trước ra vách sau. Tệ hơn cư xá sĩ quan độc thân ở điểm nhà không có trần, ngó lên thấy mái tôn. Nóng. Nhưng có còn hơn không! Cốt chỉ cần che nắng che mưa? Tôi đi thẳng ra nhà sau. Một hồ nước rất lớn xây bằng gạch block nằm trong góc, ăn gian hai tấm vách tường. Một khoảng trống thấy trời cất theo kiểu nhà cầu, rồi mới đến nhà bếp. Ra cửa sau, cầu tiêu nằm phía bên ngoài. Tiếp theo là một vũng độn ngập bùn đen, cỏ ống đầy lông trắng mọc dày, tươi tốt. Ðâu đít nhà tôi có lẽ là một tiệm bán tạp hóa nào đó nằm trên con đường chính.

     Vòng quanh hè mới biết ở căn bìa chưa chắc đã ngon. Nhứt là căn bìa này thì thiên hạ phải chê vì bị nắng chiều chiếu cố. Thêm một tí nhiệt năng cho cái lò than luôn luôn hâm hấp nóng. Không sao. Với mớ thì giờ dư giả gần như tám tiếng mỗi ngày thì việc biến cái nhà trống trước hở sau này thành tổ uyên ương, biến tấm tường đầu song thành một cái chái chứa xe nhà cũng không có gì là khó. Ðám đệ tử của tôi lúc nào cũng rảnh rang. Phải biết sử dụng người cho đúng chỗ. Phải biết nhân hòa, địa lợi thiên thời.

     Trở về phòng Nhì thì cũng đến giờ đi ăn trưa. Sơn và tôi lại cùng đi cho có bạn. Vì tôi chân ướt chân ráo chẳng rành đường đi nước bước. Và chỉ có ai ở lâu như Sơn mới biết hết những quán ăn, quán nhậu bình dân không có bảng hiệu trong vùng An Thới này. Tuy bàn ghế có phần lổng chổng, nhưng món ăn lại không kém phần hương vị. Tôi để Sơn làm đầu tàu. Mặc tình chọn quán ăn vì khẩu vị, có lẽ cho tôi, hoặc vì bóng giai nhân, có lẽ cho chính Sơn... Sau bữa ăn trưa này tôi vẫn thật tình như buổi ban đầu:

     - Ðể tôi trả cho.

     - Ðâu được, đại úy. Ðại úy cứ để đó cho đàn em làm nhiệm vụ mà. Ðại úy về đây thì bảo đảm đại úy khỏi lo mấy chuyện lẻ tẻ này nữa.

     - Giỡn chơi hoài, Sơn.

     - Tôi nói thiệt mà. Ðại úy không tin thằng em sao?

     Tin làm sao được mà tin! Chuyện gì lạ vậy? Xưa nay đâu có ai tử tế hơn cha mẹ mình. Ðàn em mà, đâu có thể làm hơn cha mẹ được. Tôi không tin mà tôi lại nghi. Làm tình báo phải bắt chước Tào Tháo. Tại sao nó không nói thẳng cho mình biết là nó làm như vậy với dụng ý gì? Rõ ràng nó đang làm tài khôn, chịu mất con tép để bắt con tôm. Mình đang bị nó gài bẫy, lợi dụng mà mình không hay. Lợi dụng, lợi dụng! Nó lợi dụng mình cái gì đây?

     Chẳng đợi tôi nói thêm tiếng nào, Sơn đã đến quày tính tiền gạ gẫm vài câu với người đẹp. Con gái từ đất liền chở ra ngoài này chắc đắc, hiếm. Con gái địa phương nếu có cô nào coi được được một chút thì không chóng thì chầy, trước sau gì cũng bỏ đảo bỏ xứ đi Sài Gòn. Quán này sở dĩ đông là nhờ cháu bà chủ quán, thi rớt tú tài mấy bận đến nỗi phải trôi giạt về đây. Nhưng, đàn bà con gái đối với tôi giờ này như kể bỏ. Thời xuân xanh của mình như đã hết, mặc dù ba mươi mốt tôi chưa bước qua mà ba ba tôi cũng chưa bước lại. Bốn đứa năm một làm tôi thấy mình bỗng dưng già.

     Hai thầy trò lội bộ trở về phòng. Cửa vẫn khóa. Khỏi cần hỏi tôi cũng biết đám nhân viên của mình về nhà ăn cơm trưa với vợ con và còn lâu mới trở lại làm việc đúng giờ. Cũng chẳng màng, công việc của ai người ấy lo. Tôi bận công việc riêng của tôi. Tôi bảo Sơn:

     - Anh tiếp tục coi phòng. Tôi qua thủy xưởng.

     Mục đích chính của tôi bây giờ là cái trần nhà và cái chái. Phải xuống xưởng mộc để bắt áp phe. Trưởng xưởng mộc là ai? Là một người quen? Tôi cầu mong như vậy và thiệt trời chẳng phụ lòng người ngay:

     - Bố, bố. Bố đi đâu vậy bố?

     Tôi ngỡ ngàng nhận ra thằng khóa đàn em, con của tôi: Nguyễn Kim Ðạo. Thằng con quá sáng nước mà trở thành tối. Quá gian mà không ngoan nên bị đánh rớt, ra trường đeo cánh gà. Cái thằng con chẳng những làm mất hết gia phong gia phả mà còn làm luôn cả họ muôn đời tuyệt dòng tuyệt tự. Thiếu úy Ðạo? Chắc nó đã trở về trường học lại khóa sau. Phục hồi chức nghiệp, thể diện. Nhưng cha nào lại chẳng thương con? Tình phụ tử trong đời hải nghiệp cũng ví bằng biển Ðông lai láng, tôi niềm nở bắt tay thằng con tôi:

     - Làm xếp khu này hả? Khá quá! Tôi mới đổi ra đây được vài ngày. Hừ, hình như từ hồi ra trường cho đến bây giờ, tôi chưa gặp lại anh lần nào? Sáu bảy năm rồi thì phải...

     Ðạo tâm tình:

     - Tôi đi tàu ròng rã hai năm trời mới được trở về trường học lại, bố. Bị tụi nó đì dữ quá, hai năm cay đắng mùi đời. Bây giờ đỡ rồi bố à. Tôi coi được cái xưởng này thì thiên hạ cần tôi nhiều hơn tôi cần thiên hạ. Bố thuộc đơn vị nào? Vùng 4, Hải đội 4, hay Thủy Xưởng?

     Tôi đáp gọn:

     - Trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Vùng.

     Ðạo vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, kể lể:

     - Ồ, tôi nghe đám phòng Nhì ở đây làm ăn dữ lắm, bố. Bố nắm được đám đó thì đỡ rồi.

     Tôi phân bua:

     - Thiệt vậy à? Tôi mới ra chả biết tụi nó làm ăn về phương diện gì. Cũng đành phải từ từ mà nhận định tình thế. Dục tốc bất đạt. Công việc thiết yếu của tôi bây giờ là lo tu bổ sửa sang căn nhà mới nhận trong cư xá sĩ quan. Nói thiệt, tôi cần một mớ ván ép và một mớ đà ngang để đóng plafond. Anh có thể giúp giùm tôi một tay không?

     - Chuyện gì khác thì tôi không dám hứa, chớ chuyện cây ván đối với tôi thì dễ rồi. Xưởng mộc mà. Ðể tôi cho mấy thằng em cắt, xong rồi sẵn xe GMC đây tôi cho tụi nó chở qua nhà cho bố.

     - Bậy nè, ai đâu của cho mà còn lo mang tới. Hay là để mấy thằng em phòng Nhì của tôi sang đây lãnh phần chuyên chở, khuân vác đi.

     Hình như thằng con của tôi không muốn dính líu, đụng chạm với đám nhân viên phòng Nhì:

     - Ối, chuyện đó hạ hồi phân giải, bây giờ hai bố con mình tấp vô câu lạc bộ uống cà phê cái đã...

     Hàn huyên tâm sự một hồi tôi mới biết thằng con của mình đang là tay chân, cật ruột của chỉ huy trưởng thủy Xưởng, trung tá Thơ. Hèn chi mới móc lon thiếu úy mà nó được làm trưởng xưởng. Mặc dù biết rành tánh của thằng con ngay từ hồi còn ở trong trường, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên về những thành quả, tiến bộ của nó. Chẳng lẽ nó biết học khôn nhờ hai năm bị đì?

     Tôi trở về phòng mà lòng hân hoan phơi phới. Công việc ở đây giải quyết hết sức nhanh chóng, nhẹ nhàng. Hừ, nhớ hồi nào ở đất liền chạy áp phe một thùng sơn sơn nhà cũng đã khó... Cặp mắt tôi lướt sơ trên xấp công văn, công điện "trình đọc." Rồi hai chân gác tréo lên bàn, kéo thêm vài ba hơi thuốc, hồn tôi lâng lâng thả lần theo khói. Ngẫm nghĩ lại dưới thế gian biết bao nhiêu người đã cố tình làm chuyện "nhân định thắng thiên," để rốt cùng cũng chỉ ngửa mặt than trời: mưu sự tại nhơn mà thành sự tại thiên. Chỉ có tôi là rơi vào một hoàn cảnh hơi đặc biệt: mưu sự do thiên mà thành sự cũng do thiên. Tôi mỉm cười một mình... Giờ tan sở đã đến, tôi và Sơn về cư xá độc thân thay đồ civil tiếp tục đi ăn chung. Tôi bỗng nhiên quen dần với cảnh "để đàn em làm nhiệm vụ."

     Hai tuần lễ trôi qua, căn nhà đầu căn của tôi đã có một bộ mặt khác thường với sự biệt phái của Nhiều và Khương. Cũng chẳng phải là một biệt thự nguy nga tráng lệ gì, vì trong một cư xá dù sĩ quan hay lính thì nhà nào cũng giống nhà nào. Ðối với tôi, chẳng tốn một đồng xu mà có một chỗ ở tạm được như vầy đã là diễm phúc. Còn đòi hỏi gì nữa?

     Nhưng diễm phúc của tôi không bị bắt buộc phải dừng lại tại đó mà còn kéo dài lê thê... cho đến ngày tôi rời đảo mới thôi. Diễm phúc? Nói tới diễm phúc là phải nói cái gì như ơn mưa móc do trời cao ban xuống! Nói tới diễm phúc là phải nói đến một cái gì hết sức đột ngột, đã làm cho mình ngẩn ngơ, bàng hoàng vì sung sướng. Nói đến diễm phúc là phải nói đến một phong bì dày cộm mà Sơn đã trao cho tôi trước ngày tôi về đất liền để rước vợ con:

     - Ðây là phần của đại úy!

     Tôi vạch ra coi thoáng qua rồi khoan thai mở khuy áo bỏ vô bụng. Tiếp theo, tôi hỏi một câu hỏi mà tôi nghĩ nếu ai ở trong hoàn cảnh của tôi cũng đều hỏi như thế:

     - Ở đâu vậy Sơn?

     Sơn mỉm cười thay cho câu trả lời. Theo con số viết bên ngoài thì quá nhiều đối với tôi. Khi không được lãnh rappelle ba tháng lương mà không nhiều sao được. Tôi phải xử trí ra sao đây? Tại sao Sơn phải đưa cho tôi? Nếu Sơn cứ giữ lấy làm của riêng thì tôi cũng đâu làm gì biết được? Luật lệ giang hồ chắc chắn phải phân minh, chỉ tại mình chưa rõ đầu đuôi! Hèn chi bấy lâu nay Sơn vẫn xem chuyện bao ăn uống cho tôi là chuyện chẳng nhằm nhò gì. Như vậy thì Sơn phải làm theo chỉ thị của một nhân vật nào? Chỉ có vậy thôi! Sơn phải đứng đắn thi hành lệnh vì Sơn biết rõ rằng sẽ có sự kiểm chứng, dò xét của người ra lệnh. Mục đích chính của tôi bây giờ là phải tìm hiểu cái nhân từ đâu có và cái quả sẽ về đâu. Tôi đâm ra nghi ngờ lòng tốt của thằng đàn em mình. Chưa chắc nó đã đưa đủ số. Thôi, nó đã qua mặt mình vù vù rồi. Tôi xì nẹc:

     - Tôi thấy mấy anh làm cái gì, ăn cái gì thì cũng nên nói cho tôi biết trước chớ. Lỡ có gì trục trặc xảy ra tôi còn có cách chống đỡ. Mấy anh cứ âm thầm đi đêm điệu này hoài thì có ngày không riêng gì mấy anh mà cả tôi cũng vô tù cả đám.

     - Thì từ từ rồi đại úy cũng biết mà.

     Một tí tiền còm làm lộ phí. Một tí tiền còm cho vợ sắm chút áo quần. Một tí tiền còm mua sữa cho con. Và còn nhiều thứ nữa phải chi... Lấy? Chấp nhận đưa hai tay nhúng chàm? Hỏi, tức là trả lời! Nhưng, có lẽ tôi không bao giờ cảm thấy ân hận, kêu tiếng: than ôi. Vì tôi biết mình đang ở cái thế chẳng đặng đừng. Không còn chọn lựa. Không lấy không được và trong tương lai biết đâu chừng không làm cũng không được. Tưởng tượng sẽ là một hành động ác nhơn thất đức như thế nào đó mà chính tôi ngay giây phút đang tiếp nhận hồng ân này cũng còn chưa biết. Thôi thì thời thế thế thời phải thế. Một thuở làm "trùm" liêm chính trong đất liền coi như tôi vứt bỏ kể từ đây...

    

     (Ðể hiểu rõ thêm một thuở làm "trùm" liêm chính trong đất liền , xin mời độc giả tìm đọc bài Trăng Mật Bến Sông Cầu trong tác phẩm MỘT CHUYẾN RA KHƠI và bài Sợi Dây Ðịnh Mệnh trong tác phẩm MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC, cùng một tác giả.)

Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp