Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Giới thiệu thi tập Một Thoáng Hững Hờ
Mai Hiền Lương
Người ta biết nhiều về Nguyễn Tấn Hưng qua những
tác phẩm có tựa đề khởi đầu bằng chữ Một. Qua
văn chương, Nguyễn Tấn Hưng là một người bộc
trực. Anh nói thẳng những gì anh nghĩ. Anh được
đánh giá là người viết văn thành thực nhứt. Ðức
tính đáng quí này được anh đem vào thơ khiến âm vận
thơ anh thêm phần phóng khoáng, cởi mở.
Có nhiều cánh cửa để bước vào thế giới tâm tư của
người nghệ sĩ. Ngày xưa, Tử Kỳ đến với Bá Nha
không qua ngã bình phẩm, khen chê. Qua tiếng đàn, Tử
Kỳ "ngộ" được tâm hồn của người nghệ sĩ Bá Nha,
khi lâng lâng thanh thoát tận non cao, lúc cuồn cuộn bất
tận như dòng nước chảy. Tri kỷ cảm nhau, ngộ nhau chứ
không tâng bốc nhau. Phẩm bình để phân hạng, xếp loại
nhau là việc làm của những "thợ thơ", tự trói buộc mình
trong những qui luật do chính mình tạo ra. Không nên đến
với
Một Thoáng Hững Hờ
qua cánh cửa này.
Tình cảm, tâm tư con người được bộc lộ dưới nhiều
hình thức như thơ, văn, nhạc, họa... Mỗi loại có qui
luật riêng của nó. Trong khi họa đòi hỏi sự phối hợp
nhịp nhàng của màu sắc và đường nét, văn bị ràng buộc
bởi văn phạm và cú pháp, nhạc chịu qui luật hòa âm, thì
thơ tương đối ít bị ràng buộc hơn. Nói thế không có
nghĩa là thơ đứng ngoài khuôn phép của luật bằng trắc
cũng như âm vận. Nhưng so với các bộ môn khác, thơ
có phần phóng khoáng hơn. Nhà thơ có thể muợn bất cứ
phương tiện ngôn ngữ nào, miễn sao dòng thơ được tuôn
chảy tự do, không gượng ép. Ý nghĩa của văn tự không
giới hạn được hồn thơ của thi sĩ. Ví như hai chữ "yêu
em" của nhà thơ không nhất thiết là sự diễn tả tình cảm
trai gái. Với thi sĩ, chữ "em" ở đây có thể là thiên
nhiên, là hoa lá, là núi rừng, là quê hương v.v.. Người
nghệ sĩ sẽ không mấy thích thú khi thấy đứa con tinh thần
của mình bị mổ xẻ, phân tích, dù là để nêu lên những
ưu điểm. Ngược lại, nhà nghệ sĩ sẽ hài lòng với
những ai đó "cảm" được những gì mà tác giả muốn gửi
gấm. Ðem qui luật âm vận để phân loại thơ, ta đã
phụ lòng những nhà thơ. Bình thơ không phải là thưởng
thức thơ. Thơ là để cảm, để "ngộ" chứ không phải
để phân hạng, xếp loại!
Trong tinh thần đó, chúng ta thử cảm với lối dùng chữ
của nhà thơ Nguyễn Tấn Hưng:
Ðào nguyên lạc lối thiên thai,
Mộng mơ chưa dứt đã hoài uổng công
Nửa đêm thức giấc bên chồng,
Nửa quên, nửa nhớ, nửa không thiết gì.
(trong bài
Chiều Em
, trang 32)
Ba cái "nửa" trong câu cuối chắc chắn sẽ làm khó chịu
những ông thầy dạy toán, nhưng khi
Chiều Em
, Nguyễn
Tấn Hưng vẫn cảm được đầy đủ nỗi lòng của nàng thơ.
Cái tính ngang ngang, bộc trực của Nguyễn Tấn Hưng hiện
rõ trong bài
Dễ Ghét
, nơi trang 35:
...
Anh muốn theo em về thăm nội
Ðã nói không được...
Thôi thì, anh muốn theo em về nhà em
Lại càng không được...
Thí sinh thử năm keo đều trượt!
Vậy giữa hai đứa mình liên hệ nhau
cái giống gì
Ư, hình như có tí ti ràng buộc...
Thật không?
Nhớ đừng cho anh đi tàu suốt!
Ừa, được, được...
"Cái giống gì" của nhà thơ đủ để phác họa một Nguyễn
Tấn Hưng ngổ ngáo. Bài thơ chấm dứt một cách tức
tưởi qua ba chữ ngang trắc, nhưng lại diễn tả đầy đủ
sự vội vã, hối hả của nàng thơ, khi sợ vuột mất
"Ông Một"!
Phóng khoáng nhưng không phóng túng. Từng là sĩ quan Hải Quân,
Nguyễn Tấn Hưng biết thế nào là nề nếp, quân phong quân kỷ,
nhất là ở binh chủng có tiếng là "quan liêu", lễ nghi quân
cách. Trong tinh thần đó, Nguyễn Tấn Hưng đã biết cách
đem thơ vào nhạc, đem cái phóng khoáng, tự do của thơ vào nề
nếp, qui luật của thế giới âm thanh. Không như thơ, nhạc
đòi hỏi phải có khuôn phép nhất định. Luật trường canh
không cho phép hồn nhạc trào dâng tùy hứng. Phải biết chấm
câu đúng lúc và đúng luật. Một bản nhạc thường phải chấm
dứt bằng chủ âm; hoặc đôi khi có thể thay thế bằng âm
thanh quảng ba hay quảng năm chứ không thể tùy tiện chấm dứt
bằng âm thanh quảng sáu hay quảng bảy. Trong nhạc, không thể
Ừa, được, được...
một cách "vô trật tự" như
khi nhà thơ muốn
Chiều Em
. Trước những "ràng buộc"
này, Nguyễn Tấn Hưng vẫn thể hiện đầy đủ tình tự quê
hương, nơi đang chịu cảnh cơ hàn, ly tán dưới chế độ phi
nhân của Cộng Sản, trong khuôn khổ bài nhạc. Không lê thê,
ủy mị như nhạc thương mại, không hùng hục sắt máu gây căm
thù như nhạc của Bác và Ðảng, không nhuốm mùi tuyên truyền
có tính cách chính trị, tiết điệu Slow Rock trong bài
Ðuổi
Phường Bất Lương
đã dung hòa được khí phách tranh đấu
kiên cường trong tình yêu quê hương tha thiết:
Quê hương tang tóc điêu tàn,
Từ ngày Cộng Sản Việt gian
Ðọa đày toàn dân oán than
Ðói khát, cơ hàn, ly tán...
Còn nhớ không em ngày ấy lên đường
Từ giã quê hương vượt biển đêm trường
Lánh nạn làm thân vong quốc tha hương
Cùng nhau chung sức tranh đấu kiên cường
Dành lấy chiến thắng đuổi phường bất lương!
(trong bài
Ðuổi Phường Bất Lương
, trang 98)
Ðây chỉ là một bài điển hình trong số 12 bài nhạc trong
Một Thoáng Hững Hờ
.
Mỗi câu thơ, mỗi bài nhạc mang hương sắc riêng. Toàn
tập thơ-nhạc
Một Thoáng Hững Hờ
nói lên đầy đủ
từng ý tứ trong tâm tư của Nguyễn Tấn Hưng. Tâm hồn con
người, tự nguyên thủy, vẫn ung dung tự tại, không bị
bất cứ qui luật nào của thế gian trói buộc. Tinh thần
này thể hiện rõ ràng trong văn, thơ, nhạc của Nguyễn
Tấn Hưng.
Nguyễn Tấn Hưng đã cảm được, tuy chưa rõ nét, tính
chất hư ảo của cuộc đời:
Cuộc tình dìm dưới vực sâu
Chìm trong ký ức một màu thê lương
Mới hay thế sự vô thường
Thực hư rồi cũng như tuồng chiêm bao!
(trong bài
Chiều Em
, trang 32)
Ðể rồi một hôm, bất chợt nhà thơ nghiệm ra niềm vui
của đời sống không phải là cõi xa vời, huyễn mộng:
Thần tiên không khác gì trần thế
Bồng lai nào phải cõi xa xăm!
(trong bài
Quà Tặng
, trang 56)
Con người là một thành tố của vũ trụ, không thể đứng
ngoài sự sinh hóa của vạn hữu. Hạnh phúc, khổ đau là
những đóng góp không thể thiếu của cuộc sống, tựa như
sự xoay vần của thời tiết. Không ai có thể đứng bên
lề của cuộc đời:
Hạnh phúc, khổ đau tựa giấc mơ
Ưng không vẫn đến khỏi mong chờ
Ngày đêm, mưa nắng không gì khác
Giở lại từng trang chạm ý thơ...
(trong bài
Tứ Thơ, Ý Thơ
, trang 64)
Các vì sao đêm là những nét đẹp của vũ trụ, tiếc thay
lại ở ngoài tầm vói của con người. Nhà thơ của chúng
ta có khả năng nhận ra nét đẹp của những vì sao ngay trong
thực tại của đời sống. Những vì sao của nhà thơ mầu
nhiệm hơn những sao trời vì chúng vẫn hằng lấp lánh ngay
cả lúc ban ngày. Nguyễn Tấn Hưng biết dừng chân, quay
đầu lại để chợt thấy bờ hạnh phúc ngay nơi vì sao đất
mà tâm hồn mình đang ngưng đọng bên thềm với không gian
và thời gian:
Ðẹp biết mấy
khi ngoài sao trời còn có thêm sao đất
Hạnh phúc quá
khi có em ban ngày không phải đợi vào đêm
Giờ xa cách
niềm nhớ thương cuồng dâng, cao chất ngất
Phút gần nhau
không thời gian sẽ ngưng đọng ở bên thềm!
(trong bài
Những Vì Sao Ðất
, trang 102)
Giây phút cuối của
Một Thoáng Hững Hờ
, nhà thơ khám
phá thực trạng của cái gọi là Nguyễn Tấn Hưng trong bài
Ði Tìm
, trang 132:
Ta chẳng là ta của thuở nào
Từ vương đến sở bởi vì sao
Chẳng mê chẳng chấp mà chẳng thấy
Tình yêu nào khác giấc chiêm bao
Chiêm bao hay thật phút bên nhau
Thập nhị duyên sanh chẳng phải sao
Vạn pháp nối liền vòng huyễn, ảo
Ta đi tìm ta của thuở nào...
Nguyễn Tấn Hưng đã nhận ra cái tạm gọi là không chân
thật của cuộc đời này. Nhà thơ cảm được cái chiêm
bao mà đức Phật dạy trong kinh Kim Cang. Từ đó, "Ông
Một" bắt đầu xuôi theo dòng huyễn ảo của vạn pháp để
tìm lại cái ta chân thật của buổi vô thỉ vô chung. Cái
tâm chân thật đó bàng bạc cùng khắp trong văn, thơ của
Nguyễn Tấn Hưng. Tính bộc trực, nói thẳng những gì
mình muốn nói, không ấp a ấp úng như một số nhà văn
thường muợn lớp vỏ văn chương trí thức để ngụy trang
cả một chuỗi tâm sở xấu xa; đó chẳng là tâm vương
thì gọi là gì. Tính ngay thẳng và thành thực của Nguyễn
Tấn Hưng chính là chức năng phản chiếu của tâm không cố
chấp. Ở Nguyễn Tấn Hưng, tâm này tuy chưa hoàn nguyên
trạng thái toàn bích nhưng ít ra nhà thơ đã khởi ý đi
tìm lại cái ta của thuở nào. Ðó là dấu hiệu tốt của
kẻ sẽ ngộ lại bản lai diện mục, tuy còn biết bao thiên
nan vạn nan đang chờ sẳn. Mừng thay!
Xin mời đến với
Một Thoáng Hững Hờ
để cảm, để
ngộ tâm tư của Nguyễn Tấn Hưng qua hồn thơ, ý nhạc. Hãy
để lại sau lưng những thói quen phê phán, so đo phân biệt,
để biết đâu ta lại chẳng tìm thấy trong ta
Một Thoáng
Hững Hờ
?
Toronto, ngày 5 tháng 9, 1998
Mai Hiền Lương
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp