Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Ðiểm sách Một Thoáng Hững Hờ
Phù Vân
Hơn một lần tôi đã giới thiệu thơ nhạc của Nguyễn Tấn
Hưng trên báo Viên Giác tại Ðức Quốc, nhưng chưa một lần
chúng tôi gặp nhau. Tuy nhiên, giữa Nguyễn Tấn Hưng và tôi
tương đối có nhiều liên lạc hơn so với các văn thi hữu
khác mà tôi quen ở bên kia bờ đại dương.
Với Nguyễn Tấn Hưng tôi gọi một cách rất thân thiết là
ông Một, bởi tựa những tác phẩm của anh (11 về văn và
3 về thơ nhạc) đều khởi đầu bằng chữ "Một".
Một
Thoáng Hững Hờ
là thi tập thứ ba của anh.
Nhìn chung thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng thuần về thơ tình,
quê hương và thân phận người lưu lạc. Tình - dù có những
đắm say dang dở, nhưng không đến độ tuyệt vọng thảm
sầu. Quê hương, dù đã xa biệt ngàn trùng khó có ngày trở
lại, nhưng không làm giảm khí thế đấu tranh. Thân phận
người lưu lạc - dù có nhiều nghiệt ngã, nhưng không đến
nỗi quằn quại bi thương.
Ngoại trừ một hai bài hoài niệm về quê cũ hoặc mang chở
chút ít tinh thần sắc-không của Phật Giáo, thì hầu như 88
bài thơ - có 12 bài được chính tác giả phổ nhạc, trong
tập
Một Thoáng Hững Hờ
là thơ nhạc về tình yêu.
Tình yêu với những vuốt ve nâng niu, với những ân cần dâng
hiến, với những đắm say cuồng nhiệt, với những chia ngọt
sẻ bùi, với mãi mãi những bước chân bên nhau... là những
mơ ước tuyệt vời của những kẻ yêu nhau.
Nhưng cuộc tình chẳng bao giờ phẳng lặng, chẳng bao giờ
trọn vẹn. Trời có khi mưa khi nắng, người có khi vui khi
buồn nên tình cũng có khi đầy khi vơi, khi phong ba bão tố,
khi êm ái dịu dàng. Nguyễn Tấn Hưng cũng rõ như vậy trong
bài
Tiễn Em
, trang 122:
Tình nào mà chẳng đầy vơi
Cớ sao vẫn thấy bồi hồi, xót xa
Tình nào mà chẳng phong ba
Cớ sao vẫn thấy buốt da, lạnh người.
...
Tình nào mà chẳng phù vân
Cớ sao cứ phải trông gần, nhìn xa
Tình nào mà chẳng phôi pha
Cớ sao cứ phải thiết tha, mong chờ...
Nhưng không có tình yêu thì khó có ai thành thi sĩ. Dù Nguyễn
Tấn Hưng khiêm nhượng không dám nhận mình là thi sĩ, nhưng
anh lại thì thầm với người yêu trong
Hãy Ðến Cùng Anh
(trang 17) rằng:
Nếu người đời tôn anh là thi sĩ
Thì em là tinh túy của hồn thơ...
Vâng chính em - chính tình yêu, mới là tinh thần lẫn thể
phách, là hương sắc lẫn phong vị của hồn thơ. Vâng, có
em, anh mới làm thơ. Có em, anh mới tập tành làm thi sĩ.
Hỡi người tình của ta ơi!
Nhưng người tình trong thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng là
ai? Có phải đó là người yêu dấu (
Trong Tình Yêu Anh
),
là người em cao nguyên (
Nhớ Thương Em, Hỏi
), là người
em sầu mộng (
Quà Tặng
), là người trong mộng (
Gian
Nhà Ðầy Thơ, Bến Mơ, Thương
), là người em bên kia
bờ đại dương (
Cám Ơn, Yêu Chơi Thương Thiệt
), là
người đã hoặc sẽ đi lấy chồng (
Sang Sông
), là
người chưa yêu (
Hãy Ðến Cùng Anh
)...
Vốn là kẻ "nòi tình", nên Nguyễn Tấn Hưng đã từng bôn ba
trốn chạy hay bương bả kiếm tìm những cuộc tình không
tưởng:
Nửa đời người vẫn còn đang tìm kiếm
Chút tình nồng sưởi ấm lại con tim...
(trong bài
Tàn Phai Ðợi Chờ
, trang 20)
Anh cũng chẳng quản khó nhọc:
Vì em ẩn chốn rừng xanh
Nên anh cứ phải quẩn quanh trên ngàn...
(trong bài
Hỏi
, trang 55)
Nhưng tình trong thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng là tình vô
vọng, dang dở, cách ngăn:
Thương nhớ em thật nhiều
Chẳng biết phải làm sao
Khi đời luôn ngăn cách
Hai đứa mình với nhau?
(trong bài
Có Bao Giờ
, trang 93)
Rồi có bao giờ anh phân vân tự hỏi:
Tình mình rồi sẽ ra sao?
Một khi ta đã thầm trao gởi lòng!
(trong bài
Hỏi
, trang 55)
Còn ra sao nữa khi người ta đã có chồng! Còn làm sao hơn khi
thi nhân thành kẻ thất tình. Hỡi ôi:
Em, từ đó đến nay bên chồng
Anh, từ đó đến nay phiêu bồng
Góp chút tình cùng em chẳng xong
Ði lang thang bên lề cuộc sống
Ðành vùi chôn vương vấn trong lòng...
(trong bài
Ðêm Cali, Khung Trời Thương Nhớ
, trang 18)
Ván đã đóng thuyền rồi. Cuộc đời đã đổi thay. Thi
nhân đành ôm nỗi niềm riêng - mối duyên tình dang dở,
vào chốn phong trần để:
Hỏi lại lòng, cuộc đời từ đây rồi đổi khác?
Mến yêu chi khi ván đã đóng thuyền?
Kiếp phong trần lỡ dở mối tơ duyên?
Bao mộng ước, nỗi niềm riêng, em có biết?
(trong bài
Tàn Phai Ðợi Chờ
, trang 20)
Này em hỡi, em còn nhớ:
Nhớ thuở bên nhau đôi ta cùng lối mộng
Bởi vì đâu, than ôi, em vội vã sang sông?
(trong bài
Lời Cuối
, trang 44)
Riêng về em, chẳng phải em quên những lời thề non hẹn biển
hay em không còn nhớ những mộng ước chung đôi! Nhưng nay em
đã có chồng con, mà tại sao lòng lại còn ray rứt bâng
khuâng? Than ôi, nửa đêm thức giấc bên chồng, càng muốn
chia xa thì càng níu kéo lại gần, càng muốn quên thì lại càng
thêm thương nhớ! Thôi cũng đành, chẳng còn thiết tha gì
nữa:
Phải chi chưa có chồng con
Nặng niềm ray rứt nên còn phân vân
Càng xa càng níu lại gần
Càng thương càng biết ai cần hơn ai!
Ðào nguyên lạc lối thiên thai
Mộng mơ chưa dứt đã hoài uổng công
Nửa đêm thức giấc bên chồng
Nửa quên, nửa nhớ, nửa không thiết gì!
(trong bài
Chiều Em
, trang 32)
Hoàn cảnh ngang trái này làm chúng ta liên tưởng đến nữ
sĩ T.T.K.H. với những lời thơ bi thiết não nùng:
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
Thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng trong
Một Thoáng Hững Hờ
còn là thơ tình phụ. Anh không làm thơ phụ tình, vì anh là
dân Hải Quân, vốn mang trong người dòng máu giang hồ lãng
tử. Anh đã trang trải tình yêu trên nhiều bến cảng, nhưng
anh nào có quên như con tàu bỏ lại bọt sóng sau lưng, mà hương
sắc đường xa càng làm tăng thêm phong vị mặn mà trên từng
dặm hải hành.
Tiếc thay, khi yêu anh không phân biệt đối tượng, không
chọn lựa hoàn cảnh, nên anh đã gặp rất nhiều cảnh oan
nghiệt trái ngang. Tuy vậy, anh vẫn yêu theo nhịp đập của
trái tim, dù anh biết rằng:
Rồi em cũng bỏ ta đi
Như bao người đã, có gì khác đâu?
Lời em nói từ ban đầu
"Không quay lưng lại" cho dầu phải xa!
Nhìn nhau qua giãi ngân hà?
Tìm nhau qua ánh trăng tà bên song?
Còn gì đâu nữa mà mong
Kẻ quyết bỏ cuộc, người không lối về...
(trong bài
Quên Em
, trang 30)
Rồi người yêu đã quyết từ bỏ cuộc tình, lạnh lùng ruồng
rẫy, ngoảnh mặt quay lưng. Dù anh có năn nì cách gì đi nữa,
người cũng chẳng còn một chút xót thương. Thế thôi:
Anh biết rồi đây sẽ có ngày này
Ngày em quay mặt đang tâm ruồng rẫy
Chẳng chút xót thương tận tình xô đẩy
Vùi dập hồn anh vào chốn lưu đày
...
Có nói gì hơn em vẫn lạnh lùng!
Thôi đành bỏ lửng một quãng đời chung!
(trong bài
Ðếm Bước Ðường Cùng
, trang 46)
Cuối cùng bị người yêu bỏ rơi, anh đành than oán:
Sao em nỡ đuổi anh về
Trong khi trời đất tứ bề mưa giăng?
(trong bài
Thương Ðau Một Ðời
, trang 86)
Và đành cam chịu số phận hẩm hiu, tuy nhiên anh cũng nói cho
em hay rằng:
Anh đã quen rồi chuyện khổ đau
Giết anh lần nữa cũng chẳng sao...
(trong bài
Trớ Trêu
, trang 92)
Cũng chẳng sao, nhưng anh lại dặn dò, một mai lỡ khi anh
chết thì:
Em đừng khóc, đừng buông lời sám hối
Tủi hồn anh và làm chậm bước luân hồi
Bao nguyện ước như ngọn đèn trước cơn gió thổi
Vụt tắt rồi... chờ đợi kiếp sau thôi...
(trong bài
Lời Cuối
, trang 44)
Người xưa thường bảo "tiên trách kỷ, hậu trách nhân." Anh
đã tự trách mình yêu cuồng sống vội, giờ anh có nên
trách người hay không? Trách người thế nào? Ðừng đùa
với lửa, đừng giỡn với tình! Cứ tưởng em chỉ giỡn nhau
chơi, chứ em yêu anh gì nữa khi anh đã ở vào lứa tuổi mây
trôi! Thế mà không ngờ... yêu chơi, ai dè em lại... thương
thiệt!
Anh biết rằng em chỉ giỡn chơi
Yêu anh gì nữa tuổi mây trôi!
(trong bài
Giữ Lấy Lời
, trang 24)
hoặc:
Anh cứ tưởng em... yêu chơi ai dè em... thương thiệt
Người tình nhỏ của anh ơi bây giờ anh mới biết...
(trong bài
Yêu Chơi, Thương Thiệt
, trang 65)
Rồi anh lại thương em, thương thiệt và càng ghét em, ghét
hờn. Thương ghét thật tình cuốn xoáy anh vào trong "cõi
buồn em trao." Ðã bảo thương nhau sao lại dửng dưng? Bởi
lòng dạ em dễ đổi thay, hay em lại tính gần tính xa, so đo
chữ tình chữ nghĩa, chữ phận chữ duyên... Hỡi ôi:
Thôi em đừng ác với anh
Tỏ lời yêu mến rồi đành bỏ ngang
...
Thôi em đừng tính gần, xa
Chữ tình chữ nghĩa đôi ta đã từng
Bây giờ giả bộ dửng dưng
Lui về cố quận nửa chừng buông xuôi...
(trong bài
Ðừng
, trang 81)
và:
Có người ở ác với tôi
Bảo "thương anh..." nhắn một lời bâng quơ
Ngọc ngà môi mắt cứ chờ
Phải chăng tình hững duyên hờ là đây?
(trong bài
Thương
, trang 77)
Dù là tình hững duyên hờ, nhưng:
Hỡi em có thấu tình này
Tình cho em vẫn... đong đầy nhớ thương...
(trong bài
Ðong Ðầy Nhớ Thương
, trang 124)
Người thơ Nguyễn Tấn Hưng thực sự đã "đong đầy nhớ
thương" vào thơ nhạc. Thương người, anh làm thơ. Yêu
người, anh viết nhạc. Thơ nhạc và yêu thương. Giai nhân
và ước mộng. Thế mà người nào có hay, hay người lại
cố tình làm ngơ? Hỡi người yêu dấu, sao người lại hững
hờ!
Vì thương em anh làm thơ
Bởi yêu em anh viết nhạc
Ðưa thương yêu vào mộng mơ
Bóng giai nhân thêm thẫn thờ!
Vậy mà em không hề biết!
Hay là em chẳng thèm ngờ?
Có bao giờ em hối tiếc?
Cho... một thoáng hững hờ!
(trong bài
Một Thoáng Hững Hờ
, trang 57)
Ðây là thi phẩm mang chở toàn bộ nội dung, nên được tác
giả dùng làm tựa đề cho tập thơ nhạc
Một Thoáng Hững
Hờ
.
Một Thoáng Hững Hờ
là thơ của người si tình vô vọng
khi yêu người đã thành gia thất, thơ của cuộc tình không
may - nếu không dở dang tự ban đầu thì cũng tan vỡ vào phút
cuối, thơ của người ôm mối tình đơn phương không có vọng
âm, thơ chẳng bao giờ có hạnh phúc khi người tình bỏ đi
không có ngày trở lại; thơ của hờn tủi than trách thân phận
bẻ bàng.
Tuy nhiên, xuyên suốt
Một Thoáng Hững Hờ
, ta không
tìm thấy những đớn đau vật vã đến độ tuyệt vọng như
Felix Arvers trong tuyệt tác Sonnet d'Arvers, được Khái Hưng
dịch thành
Tình Tuyệt Vọng
:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu
Tình tuyệt vọng, mối thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Hỡi ôi, người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày một thân
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi...
Ngoài thơ nhạc về những cuộc tình vô vọng - dang dở - không
may nêu trên,
Một Thoáng Hững Hờ
của Nguyễn Tấn
Hưng còn hai nét đặc thù - rất hiếm tìm thấy trong các thi
tập khác:
* Thơ táo bạo:
Không thể nói là thơ mỹ dục, vì Nguyễn Tấn Hưng, không
hề tả chân hình tượng của người mình yêu. Cũng không
thể nói là thơ mỹ tục, vì ta không tìm thấy những danh
từ trần tục, thiếu tao nhã.
Nhưng anh viết rất thực nên thơ anh gây cảm giác mạnh cho
người đọc về tượng thanh và tượng hình hoặc lẫn lộn
cả hai.
Mà không gọi tượng thanh sao được, khi đọc thơ, ta nghe rõ
những lời hối thúc bồng bột, những nũng nịu làm duyên
trách cứ giận hờn, những nuối tiếc bâng khuâng, những
phủ dụ ân cần...
Mà không gọi là tượng hình sao được, khi trong thơ anh hiện
hữu với những "xiết vòng ôm", "đưa em vào mộng", "ngụp
lặn đắm đuối môi hôn", "thịt da trinh nữ thỏa lòng đắm
say", "kẻ nuông chiều, người nâng niu", "nếm ngọt ngào ái
ân", "cứ lãng mạn đèo bồng với nhau", "leo mận, hái
đào"...
Ừa... ngủ đi, ngủ đi em
Tay anh em gối khép rèm mi cong
Ru anh thoang thoảng hương nồng
Thịt da trinh nữ thỏa lòng đắm say...
(trong bài
Ru Em, Ru Anh
, trang 90)
hoặc:
Hôn em, hôn đồi ngực trần
Lắng nghe tim nhịp xa gần tiếng yêu
Kẻ nuông chiều người nâng niu
Từ ngàn xưa vẫn mỹ miều, thần tiên
Hôn lên rốn, vốn làm duyên
Cõi nhân gian bỗng lặng yên, im lìm
Cội nguồn hương lửa đi tìm
Ơn cha nghĩa mẹ nổi chìm ba sinh
Hôn em, hôn lên nụ tình
Chốn hoang sơ ẩn giấu mình chờ, mong
Thẳm sâu, thầm kín đáy lòng
Hôn luôn cho... mãi bềnh bồng, mềm môi...
(trong bài
Hôn Em
, trang 108)
hoặc:
Chiều em, anh đã ra đi
Ðã mang theo mớ xuân thì em trao
Giờ đây gẫm tiếc đêm nào
Không cùng anh nếm ngọt ngào ái ân!
(trong bài
Chiều Em
, trang 32)
hoặc:
Bây giờ lỡ dở, chim đã vào lồng
Thôi thì cứ lãng mạn, đèo bồng với nhau
Ngày xưa kẻ vạch lỗ người chun rào
Thời nay người leo mận kẻ hái đào như không
Biết ra, eo ôi, những ngóng cùng trông!
Chừng nào bóng ngọc sẽ sổ lồng... bay sang?
(trong bài
Bay Sang
, trang 36)
hoặc:
Này em hỡi, một mai tâm ngả hồn xiêu
Hãy vì người phách lạc cùng liều một phen
Chồng con, ôi thôi, nên gát sang bên
Bởi quanh em rập rềnh ý nhạc, gập ghềnh tứ thơ
Hỏi em rằng đời người... có mấy giấc mơ...
Biến thành sự thật mà chẳng uổng công đợi chờ hở em?
(trong bài
Có Mấy Giấc Mơ
, trang 61)
* Thơ vui nhộn:
Trong
Một Thoáng Hững Hờ
của Nguyễn Tấn Hưng, người
ta cũng tìm được những nụ cười để khỏa lấp niềm đau
của kẻ si tình không may. Có vui, có tếu mới có những
giây phút an nhiên, có thêm nghị lực để sống, để vượt
qua những bất hạnh trong đời.
Với những ngôn từ đại chúng, với những tứ thơ thông
thường, nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Tấn Hưng đã trở
thành những dòng thơ có hấp lực tự nhiên để trao cho chúng
ta những nụ cười thoải mái:
Lạy chúa, cũng có lúc con muốn lên núi hành hương
Chẳng phải nhà thờ lớn mà vì cô bé dễ thương
...
Lạy chúa, chúa vẫn biết con là người ngoại đạo
Ði nhà thờ chẳng qua cũng chỉ theo cô bé đi dạo
...
Lạy chúa, suốt đời con vẫn theo đạo lòng vòng
Chỉ vì con chưa hẳn là người cô bé cầu mong...
(trong bài
Nên Ðạo Vợ Chồng
, trang 52)
hoặc:
Thôi em đừng cắt... "dây tình"
Ðể anh... "bắt gió" cho mình có nhau...
(trong bài
Cám Ơn
, trang 71)
hoặc qua phần đối đáp:
Vợ mình không nhớ, nhớ vợ người
Cái thói thơ văn, đáng ghét thôi
Thả dê bắt bóng, già cùng trẻ
Khóc mướn thương vay, cũng đáng đời!
...
Chồng mình chẳng "ghét", "ghét" chồng người
Cái thú thơ văn, dễ mến thôi
Bắt dê thả bóng, già lẫn trẻ
Cười thuê yêu mượn, cũng đã đời!
(trong bài
Xướng, Họa, Thơ Văn
, trang 51)
Trả lời cho ký giả Ðào Huy Ðán trong cuộc phỏng vấn do báo
Làng Văn
thực hiện số tháng 3, 1989, Nguyễn Tấn Hưng
cho rằng, ngôn ngữ thi ca qua các thời đại đối với anh là
những câu ca dao, phương ngôn tục ngữ.
Vả lại Nguyễn Tấn Hưng là dân Mỹ Tho nên thơ văn cũng bình
dị, đơn giản, hiền hòa như tâm hồn của anh. Qua đó thơ
nhạc của anh trở nên gần gũi với những điệu hò, câu hát
của dân miền Nam.
Từ đó, tình yêu trong thơ hay tình ca trong nhạc của Nguyễn
Tấn Hưng rất dễ thâm nhập vào tầng lớp tuổi trẻ đang
độ yêu đương, hoặc dễ gắn bó với quần chúng thường
thiết tha với quê cha đất tổ, với đồng ruộng nương dâu.
Vì vậy,
Một Thoáng Hững Hờ
của Nguyễn Tấn Hưng cũng
không đi ngoài khuynh hướng văn chương miệt vườn, để
thêm lần nữa đóng góp những thành công trên văn đàn người
Việt hải ngoại.
Ahrensburg - Ðức Quốc tháng 01, 1999
Phù Vân
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp