Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Một Phen Lận Ðận

Nguyễn Tấn Hưng

     Vào tiết trời trở lạnh của một năm nào và trong ngày cưới của một người bạn... Ngay lúc giáp mặt tôi tại hành lang dẫn đến phòng dạ vũ, bỗng dưng ông Triệu đặt điều hỏi tôi một câu hết sức vớ vẩn:

     - Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục... Sao, ai đục ai trong đây cậu?

     Lẽ dĩ nhiên tôi hơi giựt mình và rất ngạc nhiên với câu hỏi hơi thiếu chảng vừng đó. Ngạc nhiên là vì lâu lắm rồi ổng và tôi chẳng hề gặp nhau, cả năm hơn có thể, lẽ ra ổng nên dành câu nói đầu môi cho một sự thăm hỏi về cái sức khỏe càng lúc càng hao mòn của tôi mới phải! Ai lại đi cắn đắng chuyện... không đâu! Còn giựt mình là tại vì ổng đã vô tình lập lại một trong bốn câu ca dao mà tôi đã dùng làm kết luận cho một truyện ngắn. Truyện Người Về Từ Cõi Chết đăng trên tạp chí Văn . Với những câu:

     Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục
     Chín mười người tục không có một người thanh
     Biết ai tâm sự như mình
     Chọn tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân.
*

     Tôi nhớ mang máng là đã đọc được bốn câu này trong một bài tập đọc nào đó, từ hồi còn nhỏ. Vậy mà mãi đến ba bốn chục năm sau mới có chỗ xài. Ðể nói lên cái tệ trang chung của xã hội tị nạn bên này. Thiệt tôi không ngờ ngòi bút của mình lại có tác dụng mạnh đến là như vậy. Cũng dám thay đổi lập trường và tư tưởng của những người khác chớ chẳng phải chơi! Tôi định trả lời ông Triệu rằng: "Ai trong ai đục thì tự người đó biết lấy, anh hỏi cắc cớ đàn em làm chi cho thêm lắm chuyện." Nhưng thôi. Tôi hỏi lại:

     - Mà tại làm sao anh biết được những câu thơ đó?

     Ổng cười cười, không trả lời trả vốn gì hết...

     Tôi biết là câu hỏi của tôi có hơi thừa và có phần ngớ ngẩn. Nhưng, tình thiệt, tôi có lý do riêng... Số là trước đây, lúc tập tễnh vào nghề, tôi có đem khoe với một người bạn làm cùng sở mấy số báo có bài của mình. Với nhã ý mời đọc, thế thôi. Không dè bị anh bạn thẳng thừng cho biết ý kiến, theo kiểu rất ư là "mất gốc": "Thời buổi này ai ở không đâu mà đọc sách báo chữ Việt nữa."

     Trời đất! Không khuyến khích một "tài năng" mới nổi thì thôi, ai lại đi nhẫn tâm dìm sâu xuống đáy! Sự kiện này có thể làm tôi tịt ngòi luôn! Bắt đầu từ đó trở về sau, hết dám phổ biến chữ nghĩa văn chương cho những kẻ bàng quang nữa. Ai thích đọc cứ để họ tự tìm mua lấy mà đọc. Công sức đâu mà mang đàn đi khảy tai trâu, tôi nghĩ vậy.

     Rồi tôi tự hỏi, chẳng lẽ mọi người xung quanh đây bây giờ đã để tâm theo dõi báo chí còn tường tận hơn cả tôi nữa hay sao? Nếu đúng như vậy thì là điều rất đáng mừng cho sự sống còn của nền văn hóa hải ngoại! Nhưng, vì cớ sự nào mà có sự thay đổi lớn lao trong cộng đồng của tôi?

     Không tìm ra được câu trả lời, tôi ngang nhiên tiếp tục cuộc vui. Trong đêm đó, đêm tân hôn hỗn hợp Việt-Mỹ đầu tiên của dân tị nạn trong vùng, số phần tôi như cá nằm trên thớt mà tôi không hay. Tôi tỉnh bơ, tự nhiên trò chuyện cùng những người tìm đến với mình và thỉnh thoảng cũng dìu partner ra sàn nhảy.

     Tôi đâu có ngờ là có một nhóm người đang âm thầm đưa tên tuổi tôi lên cao tận chín từng mây. Bằng cách bỏ công bỏ của, đi photocopy bài viết của tôi và phát không cho tất cả mọi người. Như phân phối một mớ truyền đơn chống Cộng vậy. Nói chớ, làm gì có chuyện "quảng cáo không công," họ đang cố tình "hạ bệ" tôi thì đúng hơn. Họ định rút thang! Bởi, họ không phổ biến cho bà con xóm giềng tất cả những gì tôi viết, mà chỉ hạn chế những bài, theo ý riêng của họ, là có sự "xúc phạm" đến những tai to mặt lớn trong cộng đồng mà thôi. Hèn chi, tôi thấy thiên hạ lần lần dồn về một góc. Xì xào bàn tán. Bạn bè đang ngồi chung bàn với tôi, lần lượt kẻ trước người sau, đều bị rỉ tai móc nối kéo đi. Thì ra trong đêm đó thân phận tôi là cùi hủi, là kẻ tử thù mà tôi nào có biết.

     Lúc biết được mới tá hỏa tam tinh! Cũng may là còn có một ít thương tình, sẵn sàng làm đồng minh, đã âm thầm lặng lẽ cho tôi hay mọi việc sau buổi tiệc tàn. Không tá hỏa tam tinh sao được khi tôi là kẻ đứng ngoài ánh sáng, còn họ là những người đang núp trong bóng tối, đang tìm mọi cách để trả thù...

     - Tụi nó như vậy đã là hiền. Không đến nỗi đem búa rìu ra để trả lời với ngòi bút như những nơi khác đã làm. Kể cũng là có lòng tốt.

     Thôi thì nơi đây cho tôi xin thành thật cám ơn những cái lòng tốt đó vậy.

     Phàm làm một người cầm bút hễ biết viết thì phải biết lách. Tại vì nếu lách không khéo thì có ngày dám vác chiếu ra tòa vì tội công khai mạ lị một mặt lớn mặt nhỏ nào đó chớ chẳng phải chơi. Phần tôi, tôi nghĩ mình lách cũng đâu có đến nỗi tệ lắm mà tại sao lại xảy ra cớ sự như vầy?

     Nói gì thì nói, kể từ giờ phút đó tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Mất tiêu sự an toàn. Sống mà cũng như đi trốn, lẫn tránh... đồng hương. Tự mình phải tách rời khỏi đám đông vì chẳng biết ai xem mình là bạn, ai coi mình là thù. Thử hỏi có ai mà không khổ tâm với cái cảnh sống còn như vậy? Nhưng thôi, nếu phải thời thế thì thế thời phải thế. Tôi bỗng dưng sớm tìm thấy được cái cảnh tập tành ở ẩn cho tôi:

     Thú thôn ổ: ao nghiên, ruộng chữ;
     Màu giang sơn: cơm sử, áo kinh.
     Pha hòa hai chữ trọc, thanh;
     Ðổi màu lữ khách, thay hình hàn nho
**

     * * *

     Bẵng đi một thời gian khá lâu. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi những cú điện thoại quấy phá ngày đêm. Muốn ngủ yên phải gỡ hết chốt cắm. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi những bức thư nặc danh không chữ ký mà lần hồi tôi cũng biết rõ là của ai. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi cái khoái cảm lâng lâng khó tả mỗi khi tôi tìm ra được một kẻ vô danh, à không, đúng ra là một thủ phạm. Một thời gian dài, đủ để cho tôi sanh tật lộng ngôn. Người xưa thường nói: "Kẻ nào khen ta là bạn ta, kẻ nào nịnh ta là thù ta, và kẻ nào chê ta là thầy ta." Nhưng tôi buộc phải nói thêm: "Còn kẻ nào chửi ta thì sẽ không là gì của ta cả." Và một thời gian dài, đủ để cho "tiếng tăm lừng lẫy" của tôi chìm xuống thật sâu, tận cùng trong lòng biển lạnh... Sau một thời gian dài như vậy có người tới điều đình với tôi:

     - Ðể nối lại tình xưa, thiên hạ đặt điều kiện với anh là anh nên bỏ những bài có ảnh hưởng không tốt với những người xung quanh đây. Ðừng in thành sách. Anh thấy sao? Anh cũng nên nhượng bộ một chút đi chớ. Anh nói xấu người ta mà người ta không làm gì anh hết kia mà.

     Không làm gì tôi hết? Nói xấu hay là nói thật đây? Rõ ràng cho đến bây giờ tôi mới thắm thía cái câu: "Biết ai tâm sự như mình!" Xét cho cùng, tôi chỉ làm nhiệm vụ của một người cầm bút mà thôi. Tôi ghi lại những gì tôi đã sống qua, trải qua, mắt thấy tai nghe. Tôi chép lại những gì cuộc đời, lắm khi ô trọc, này đã mang lại cho tôi. Những cơ hội đặc biệt đã cho phép tôi quay cuồng, hội nhập vào xã hội chung quanh.

     Nói cách khác, tôi muốn để lại trong tác phẩm của mình những phản ảnh của xã hội và thời đại mà tôi đang sống. Mặc dù lối trình bày diễn đạt của tôi đôi khi không thoát khỏi cặp mắt chủ quan, nhưng cũng nên hiểu rằng chuyện đời chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai . Hiển nhiên viết là đã chấp nhận và tôi hoàn toàn chấp nhận những hậu quả xảy ra do những gì mình viết. Mặc dù đôi khi tôi chỉ làm phận sự của mỗi một cái máy ghi đi nữa. Tôi bèn mạnh dạn trả lời với người điều đình:

     - Anh phải biết nếu đặt điều kiện như vậy chẳng khác nào kêu tôi bẻ cong ngòi bút của mình. Ðiều này nghe dễ vậy chớ khó làm lắm anh biết không? Thà là tôi mất xóm giềng hơn là mất cái quyền được viết trong tự do. Nguyễn Công Hoan có nói: "Truyện là bịa, anh nào bịa giỏi anh đó hay." Nhưng tôi xin nói thêm: "Là người cầm bút, anh nào cũng giỏi bịa hết, nhưng chẳng có anh nào dám nói láo cả." Cho nên làm một người cầm bút, tôi không thể nào nói ngược lại những gì tôi cảm nhận.

     - Nhưng tại sao anh cảm nhận toàn những điều xấu xa của thiên hạ không mà chẳng thấy điều nào tốt lành hết vậy?

     Cũng là một câu hỏi rất chí lý! Tuy nhiên, với một tấm lòng cao cả hơn một chút tôi nghĩ người đọc có thể sẽ suy ra và cảm nhận những cái tốt từ những cái xấu mà tôi đã đưa ra. Chỉ có những ai "đem bụng tiểu nhân đo lòng quân tử" mới thấy cái xấu đó chỉ có một mặt thôi. Nhưng, biết rất khó mà giải bày với người đương cuộc, tôi nói:

     - À, cái đó thì tùy ai hiểu sao hiểu. Trong cái xấu nó có cái tốt, và ngược lại. Cái giá trị của một bài viết đôi khi là ở chỗ đó.

     - Tại sao anh không chĩa mũi dùi của anh vào cái đám Cộng sản đê tiện kia kìa? Nhằm nhò gì với những kẻ vô danh tiểu tốt ở đây mà anh phải mất công đưa vào truyện!

     Rõ ràng lại là một ý kiến hay! Nhưng, làm được hay không thì là một chuyện khác. Và tôi tự biết tôi không có cái khả năng để làm những việc cao cả đó. Tôi cứ nghĩ thiển cận hơn, nếu có ai đó lỡ bị (hay được?) tôi đưa vào truyện thì người đó phải cám ơn tôi mới phải chớ! Ðâu ai dễ gì đi vào văn học sử mà không tốn một giọt mồ hôi hay một giọt nước mắt đâu... Tới đây, tôi bắt đầu thấy cuộc điều đình đã trở thành cuộc chất vấn thì đúng hơn. Tôi bèn gạt ngang:

     - Anh cũng hiểu nếu tôi viết được những gì tôi muốn viết, một tác phẩm lớn chẳng hạn, thì tôi đã thành nhà văn lớn và nổi tiếng từ lâu rồi. Ðằng này tôi chỉ viết nổi những gì tôi tự xét mình có khả năng viết tới mà thôi. Thành thử, tôi là một cây bút tầm thường. Những bài viết của tôi cũng rất tầm thường, các anh không cần phải để ý tới...

     * * *

     Rồi bẵng đi một thời gian khá lâu, lâu quá lâu, quả nhiên không ai thèm để ý đến tôi nữa. Tôi rất mừng. Vì tôi đã tìm lại được sự bình an cho chính tôi và gia đình tôi.

     Cho đến nay cả chục tác phẩm của tôi đã được hoàn tất và tuần tự ra đời, lên đường đến tay độc giả bốn phương. Mỗi tác phẩm đã mang một chủ đề riêng. Thứ tự theo thời gian sáng tác, đại khái có: Một Ðời Ðể Học , 1988, cho đời học trò, Một Thuở Làm "Trùm" , 1989, cho đời tình báo, Một Chuyến Ra Khơi , 1990, cho đời hải hồ, Một Kỷ Niệm Ðẹp , 1991, cho đời làm bạn với máy điện toán, Một Thoáng Trong Mơ , 1991, cho đời mơ mộng cùng thơ, Một Lần Xuống Núi , 1992, cho đời giao du, làm bạn với bằng hữu của tôi, Một Nỗi Buồn Riêng , 1992, cho đời tha hương, Một Cảnh Hai Quê , 1993, cho đời tị nạn, Một Trời Một Biển , 1994, cho đời sinh viên sĩ quan hải quân, Một Lần Ði, Anh Yêu , 1995, cho đời ca nhạc, Một Ðời Mỏi Mòn Trông , 1996, cho đời hát xướng, Một Thoáng Trong Thơ , 1997, cho đời thơ thẩn, Một Thoáng Hững Hờ , 1998, cho đời mơ mộng... Và bây giờ, MộT Phen Lận Ðận cho đôi dòng tùy bút, ký sự văn học. Rồi còn nữa, Một Thời Lênh Ðênh , tức Một Trời Một Biển 2 , cho đời ôm mộng hải hồ, Một Áng Mây Trôi , tức Một Trời Một Biển 3 , cho đời xẩy nghé tan đàn, Một Giấc Mơ Tiên , cho đời học sinh tỉnh lẻ, Một Ngày Ðẹp Trời , tức Một Giấc Mơ Tiên 2 , cho đời sinh viên đại học, Một Vợ Một Chồng , tức Một Giấc Mơ Tiên 3 , cho đời làm thầy giáo, Một Kiếp Nổi Trôi , tức Một Giấc Mơ Tiên 4 , cho đời động viên, nhập ngũ tòng chinh, Một Ðời Tiếp Nối , tức Một Giấc Mơ Tiên 5 , cho đời sống chung với CS...

     Nói cho ngay, độ vài tháng sau khi trình làng, Một Thuở Làm "Trùm" đã làm tôi hoang mang về ngòi bút của mình không ít. Vì có lắm kẻ chê cũng như có nhiều người khen. Chê là đại khái tại sao không "tốt khoe xấu che," mà lại đi "vạch lưng cho người xem thẹo." Còn khen thì cũng là "chê." Chê viết chưa hết, chưa đúng mức. Phải viết nhiều hơn nữa, phải vạch trần rõ ràng và chi tiết hơn nữa. Nhiều điều "lớn lao" đâu đã được nói tới đâu. Tuy nhiên, những lời chê hay khen đều chỉ giới hạn trong nội bộ của một số người đồng hội, đồng thuyền với tôi mà thôi.

     Không bằng Một Cảnh Hai Quê , đã thêm một lần nữa làm tôi điêu đứng. Chỉ điêu đứng thôi chớ thật ra cũng không có gì hãi hùng, đáng sợ lắm đâu. Chẳng qua chỉ là chuyện cũ dở ra mới! Vả lại, tôi đã có kinh nghiệm chịu đựng một lần ở thời gian trước rồi.

     Ở hải ngoại, đại khái, Thế Uyên có Nhà văn các ông là đồ nhiễu sự . Nguyễn Mộng Giác có Lời cuối cho một bộ trường thiên . Và lẽ dĩ nhiên còn nhiều người cầm bút khác có thể còn gặp nhiều thứ dữ dằn hơn nữa mà có lẽ họ không buồn viết ra. Riêng tôi, thiệt tình tôi có... một phen lận đận. Chỉ khác với Thế Uyên, Nguyễn Mộng Giác và nhiều người cầm bút khác là trong trường hợp của tôi, những người coi tôi là... kẻ thù không phải ở xa, mà ở sát nách, gần kề trong gang tấc. Thiệt là nguy hiểm, đáng ngại. Một bài học đáng giá cho tôi. Tuy nhiên, tôi không muốn nói mãi cái bất hạnh của mình. Còn phải để tâm tận hưởng hương vị cuộc đời này nữa chớ. Tôi bèn tạm kết luận suông cho những người trong cuộc, rằng:

     Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
     Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
.

     * * *

     Lại bẵng đi một thời gian khá lâu nữa. Cho đến mùa lạnh năm nay, tôi được hân hạnh viết lên những dòng chữ này. Trong thanh bình, thanh thản. Phải biết, ôi, thế nào là cái nhiệm mầu của thời gian. Nó huyền diệu như những giọt nước cam lồ từ bình bát tiên vậy. Cái kinh nghiệm "hơi đau thương" của tôi, cái một phen lận đận của tôi, đã trở thành đầu đề cho tác phẩm thứ tám. Thành thật cám ơn đời, cám ơn người, những người đã cho tôi cơ hội. Ðể viết lên đôi dòng tùy bút...

     ---------------------------------

     * Bình Nguyên Quân: Ngày xưa, vua nước Triệu là Triệu Vũ Vương lúc về già nhường ngôi cho con là Thái tử Hà rồi lên làm Thái thượng hoàng. Thái tử Hà là con của Mạnh Diêu thuộc dòng thứ được lập lên ngôi lấy hiệu là Triệu Huệ Vương. Trong một buổi họp đông đủ bá quan văn võ triều đình, Thái thượng hoàng nhận thấy con dòng lớn là Thái tử Chương nay lại phải đê đầu thần phục em mình thì lấy làm thương xót lắm. Sau buổi họp này, Thái thượng hoàng ngỏ ý với công tử Thắng định cắt đất Ðại, phong cho An Việt Quân tức Thái tử Chương lên làm vua, ngang hàng với Triệu Huệ Vương. Công tử Thắng cản ngăn cho rằng ngôi thứ nay đã định phân nếu thay đổi ắt có loạn. Thái tử Chương biết được sự tình đem lòng oán giận, cấu kết với gian thần âm mưu giết vua dành ngôi nhưng thất bại. Vì có công tiêu diệt bè lũ phản loạn của Chương nên Triệu Huệ Vương phong cho công tử Thắng làm Tướng quốc. Và phong đất Bình Nguyên, cho nên người đời thường gọi công tử Thắng là Bình Nguyên Quân. Cũng như Mạnh Thường Quân bên nước Yên, Bình Nguyên Quân hay chiêu hiền đãi sĩ, hằng ngày có hàng ngàn thực khách ở trong nhà.

     ** Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ, đoạn đem thân đi trốn quan lính triều đình của vua Tự Ðức.



Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp