Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Một Nơi Rất Thật

Nguyễn Tấn Hưng

     Tôi có cái tật hay... hệ thống hóa các bài viết của mình. Giờ ngẫm nghĩ lại, không biết bị ảnh hưởng bởi thầy hay cô nào đây? Số là mỗi khi tôi đặt bút viết một bài gì là tự dưng trong đầu có câu hỏi, đại khái, bài này sẽ nằm ở đâu, cuốn sách nào sẽ in trong tương lai! Vì tánh tôi hay... thương bài (nhưng không phải thương bài xì phé như các thầy Nguyễn Anh Bổn, Trần Văn Dinh... đâu nghen). Viết là để lại, biết đâu đời này không có người đọc thì đợi đời sau, chớ không có vụ viết rồi bỏ. Vậy mà lần này như phá lệ, bởi tôi không biết bài này thuộc về loại gì để có thể đi chung hay nằm chung với các bài khác trong một cuốn sách. Thôi thì hà hồi phân giải vì có lẽ tôi đang "tùy bút," có phải?

     Mặc dù học giả Lâm Ngữ Ðường có phán, đại để, "làm người cầm bút mà không dám viết về cái tôi thì không thể nào thành nhà văn lớn," nhưng hầu hết ai ai có kinh nghiệm cầm bút đều rất sợ khi viết về cái tôi, cái đáng ghét của mình! Bởi, thứ nhứt, không ăn khách! Thứ đến, không phải dễ viết! Chỉ cần có chút chút tự đánh bóng, khoe khoang là "tiêu tán thòng" ngay. Tuy nhiên lâu lâu cũng phải làm gan. "Có phước làm quan, có gan làm giàu" mà lị, nhưng giàu đây cũng là giàu chữ giàu nghĩa mà thôi... Cũng vui đời...

     Nhìn đi nhìn lại những người cầm bút, nổi tiếng hoặc được độc giả biết đến chút chút (như tôi chẳng hạn), xuất thân từ hai trường Lê Ngọc Hân - Nguyễn Ðình Chiểu có thể kể từ lớn đến nhỏ là Xuân Vũ, Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Lê Tấn Lộc, Phạm Công Thiện, Kiệt Tấn, Ngô Văn Thọ, Phùng Nhân..., Nguyễn Nguyệt Ánh..., vân vân, tôi và bà xã Hồng Lan. Riêng đối với các anh, tôi là người nhỏ nhứt nhưng lại là người may mắn nhứt. May mắn nhứt ở điểm tôi được học suốt bảy năm liền từ đệ thất đến đệ nhứt, còn mấy vị kia thì mỗi người chỉ một, hai, hay vài ba năm...

     Ngoài hình ảnh khá đậm nét là... người lính tàu trên khắp nẻo đường đất nước quê hương (tôi là dân "hai quần" mà), thì người học trò trai cũng như gái của xứ Mỹ nói chung đều lấp lánh đó đây trong toàn bộ sáng tác văn, thơ, nhạc, họa của tôi. Tuy nhiên, mải cho đến khi khởi sự dựng bộ trường thiên Một Giấc Mơ Tiên thì tôi mới phác họa, dành nguyên cuốn đầu để đi sâu vào đời sống tâm tình của những người học sinh tỉnh lẻ ở thị xã Mỹ Tho nói riêng và vùng lân cận Long An, Bến Tre, Gò Công... nói chung. Ậy mà... "mưu sự tại nhơn nhưng thành sự tại thiên," cho nên cũng mong rằng không đến nỗi làm phiền lòng hay làm thất vọng những người thân thương đã xuất thân từ hai trường xưa yêu quý Lê Ngọc Hân - Nguyễn Ðình Chiểu, khi các bạn có dịp tình cờ đọc qua tác phẩm này...

     Ô hay, nãy giờ lòng vòng tuồng như chỉ là chuyện... mèo khen mèo dài đuôi? Well , thì đây, tôi sẽ kể bạn nghe những gì tôi đã sống qua với thầy cô, bạn cũ, trường xưa. Có lẽ nó sẽ rất khác với những lần tôi xây truyện ngắn dựng truyện dài, thi vị hóa, tiểu thuyết hóa hay trần tục hóa cuộc đời.

     Tôi theo chị hai Kim, chị ba Cúc, anh tư Tân lên tỉnh đi học vào năm tôi 11 tuổi, sau khi thi rớt đệ thất trường công. Tôi học lớp tiếp liên của thầy Truyền ở trường Nam Tiểu Học, xéo xéo bên kia trường Nguyễn Ðình Chiểu. Năm này mới thực sự chính là năm đã tạo nền tảng cho cuộc đời tôi, cuộc đời người học trò, rẽ qua một khúc quanh... lịch sử. Vì bỗng dưng tôi ham học hơn ham chơi! Phần thì ở chung với anh chị, tối tối cứ cơm nước xong xuôi thì ai nấy tự động lo việc sách đèn. Khác với khi ở dưới quê, mỗi khi chiều xuống, thường hay tụm năm tụm ba câu cá hay lặn hụp dưới sông hoặc đá banh hay thả diều trên ruộng. Bởi vậy, khi thi xong đệ thất lần hai tôi tin chắc là tôi sẽ thành học trò trung học.

     Lúc đó trường chưa mở rộng ra đại lộ Hùng Vương mà phía sau còn nằm trong bức vòng thành xi măng tô nhám, sơn màu xanh lục, có gắn miểng chai trên đỉnh và có cổng sắt giống như cổng trước. Bức tường thành chạy dọc theo đường Paulus Huỳnh Tịnh Của chỉ trơ đá đất từ bên xóm nhà ngói Phan Hiến Ðạo đâm qua. Bởi vậy, ngày theo chân chị ba Cúc đi dò kết quả ở cổng sau trường, là tôi hí hửng trong lòng không chút gì sợ trợt vỏ chuối. Tôi còn nhớ cả lớp thầy Truyền là 63 đứa mà có tới 54 đứa đậu. Lấp ló ngoài cổng sắt, phía sau tấm bảng đen dán kết quả, tôi nhìn sâu vào khuôn viên trường thấy dãy lầu Dơi với hàng cây cao, hình như là cây dái ngựa, lòng thèm thuồng mong ngày tháng chóng qua để đến ngày tựu trường làm học sinh trung học. Mặc đồng phục quần tây xanh đậm, áo trắng, mang giày mủ hay giày bata , miệng túi có gắn phù hiệu đàng hoàng thay vì quần đùi, áo sơ mi, mang dép lèng xèng như ở trường Nam Tiểu Học.

     Nói chung, hầu hết thầy cô đều không ít thì nhiều, ở khía cạnh này hay bình diện kia, là thần tượng của mình trong những năm trung học. Nhưng, những thầy cô sau đây có thể có nhiều ảnh hưởng và kỷ niệm trong tôi. Về môn Việt Văn, một trong những môn tôi có cái khiếu trời ban chớ chẳng giỏi dang hay tài cán gì.

     Năm đệ thất tôi học với cô Dung, không nhớ họ. Cô nhỏ người, trẻ đẹp, duyên dáng quá nên đã làm tôi mê mẩn tâm thần. Mỗi lần trả bài đứng kế bên cô nghe mùi thơm không biết từ da thịt hay áo quần mà tôi có cái cảm giác lâng lâng hạnh phúc. Muốn được gọi lên trả bài hoài và muốn thời gian trả bài như dài ra mãi. Nhứt là giọng nói của cô, ôi ngọt ngào làm sao ấy. Nguyên lũ con gái học ban C (có lẽ vì bên Lê Ngọc Hân thiếu lớp nên gởi tạm qua Nguyễn Ðình Chiểu trong những năm đầu), tôi đâu có thèm để ý đứa nào. Vì yêu trộm thương thầm cô mà tôi cảm thấy bực bội khi những thằng to con lớn xác, nhiều đứa đứng cao hơn cô cả cái đầu, luôn ồn ào ở dưới xóm nhà lá cuối lớp, thỉnh thoảng buông lời bóng gió chọc ghẹo cô. "Vô lễ, thất học" vừa vừa phải phải thôi, tôi hay thầm dạy đời bọn nó trong lòng vì ghen tức. Rồi tuồng như... "thiên bất dung gian," ông trời biết tôi đa tình đa cảm hay sao đó mà bắt tôi suốt sáu năm trời còn lại chỉ học toàn với thầy, làm mất hứng sạch trơn!

     Năm đệ lục tôi học Việt Văn với thầy Hy, Nguyễn Ngọc Hy thì phải. Ổng người Trung, trắng trẻo, đẹp trai. Giọng nói véo von cũng không thua gì mấy cô, có điều hơi lợ lợ... "em nói" thành "em nọi", "về ngoại" thành "về ngọi"... nghe riết cũng quen tai. Ðặc biệt ngoài những bài giảng thầy còn bắt cả lớp làm... tập đọc sách riêng để thầy cho thêm điểm theo kiểu... extra credit bây giờ. Tập đọc sách chẳng có gì khác hơn là tập tóm lược cốt truyện những sách mình đã đọc, giống như... book reports bên này. Lẽ dĩ nhiên đứa nào đọc nhiều thì được nhiều điểm, nếu mình chịu khó. Nhưng từ cái chịu khó rất tình cờ ở buổi ban đầu đó mà tôi mê đọc luôn. Tối ngày chỉ dọ hỏi bạn bè có sách nào mới để chuyền tay nhau đọc. Ðọc hết Tự Lực Văn Ðoàn đọc qua sách dịch của La Fontain, Hector Malot... Rồi bên cạnh mỗi bài tóm lược cốt truyện tôi còn vẽ vời đủ thứ tranh ảnh, làm thơ con cóc (sau này tôi thường xem và sửa lại gởi tặng bồ cũng hữu lý) để được nhận những lời ban thưởng, khen tặng của thầy... Giờ nhớ lại thấy hay hay...

     Năm đệ tứ tôi học với thầy Hồ Thế Viên, thi sĩ Thế Viên. Thầy giảng hay lắm, nghe mê luôn. Lúc thầy diễn tả Don Juan, trong Le Cid của Pierre Corneil, bị đâm, thầy banh ngực... lỡ tay bị bức nút áo luôn mới vui. Cả bọn bỗng cười rần rần, thầy lấy cục phấn chọi thằng nào cười lớn nhứt. Nhưng liền sau đó thầy giảng tiếp và cả bọn lại nhập vào mê hồn trận, im phăng phắc lắng nghe. Có điều hồi xưa tôi đọc thơ thầy tôi không cảm. Gì mà Budapest, Varsovie... tôi bảo thầm trong bụng là thầy vọng ngoại. Có lẽ tuổi trẻ Việt Nam vẫn dễ dàng nhập hồn vào thơ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Ðà... hơn. Giờ có ra xứ người mở rộng tầm nhìn, mới thấy thầy buông xuôi cảm xúc cho người ngoài, nếu thầy có dịp xuất ngoại hiểu qua đời sống Tây phương, thì cũng đúng cũng hay thôi...

     Năm đệ nhứt tôi học triết với thầy Minh, Trần Quang Minh. Thầy hiền khô, dáng người trung trung, đặc biệt có bộ râu ít ai có. Tuy là môn học khó nhưng mà thầy giảng rất dễ hiểu nên bắt hấp dẫn từ đầu đến cuối. Cho những ai thích suy tư, như tôi là một. Ánh mắt nhìn đời bỗng dưng thay đổi hẳn, ngó học trò từ đệ nhị trở xuống sao mà non nớt, ngây thơ quá. Vì mình cứ tưởng mình là những triết gia không bằng. Trong đầu như muốn nghiệm ra một hệ thống triết mới nhằm thay thế những hệ thống triết của Aristotle, Plato, Descartes, Freud, Kant, Nietzsche, Kierkergaard... Bây giờ thì chắc chữ thầy đã trả cho thầy rồi nên chẳng hiểu triết gia khác với người thường ở chỗ nào, điểm nào... Song, ngoại trừ phần Ðạo Ðức Học, Tâm Lý Học những căn bản Luận Lý Học có lẽ giúp tôi nhiều nhứt. Ðể những năm lên đại học đi thi mướn Tú Tài I cho những ai cần hoãn dịch, lấy tiền bỏ túi xài chơi. Làm luận đề luân lý cho môn Việt Văn thì khỏi phải chê rồi. Còn các bài toán, vật lý, hóa học thì dân MPC ( Mathematics, Physics, Chemestry ) hay MG ( Mathematics General ) cũng vẫn còn đầy một bụng. Thi chơi chơi mà đậu toàn bình thứ trở lên, cho nó xứng danh với vai... ký giả, nhân viên Air Việt Nam như ghi trong thẻ thí sinh...

     Qua bên này gặp lại bạn bè, tụi nó hay thắc mắc... "mầy đi ban B mà cũng bày đặt viết lách, làm thơ..." Ý da, tại tụi nó hổng để ý nên không ngờ rằng trong 7 năm Nguyễn Ðình Chiểu tôi có 7 lần xướng danh về môn Việt Văn. Nhờ vậy mà cứ lãnh phần thưởng đều đều, hì hì. Cùng cấp, cùng lớp một thời với tôi mấy đứa giỏi có tiếng như Lâm Trí Minh, Quách Tinh Văn, Nguyễn Thành Châu (ba thằng này đi du học ở Pháp, Canada và Nhật sau khi đỗ phần hai), nhưng chỉ có Minh là giỏi về Việt Văn. Nó và tôi thay phiên nhau đứng nhứt hoặc nhì chớ hổng chịu đứng hàng thứ ba. Biết nó có tài nhưng xét kỹ ra tôi cũng lấy làm phiền hà mấy thầy dữ lắm, vì chữ viết của nó như cua bò còn chữ viết của tôi không đến nỗi tệ...

     Khoảng thời gian trung học tôi có dịp chơi thân với mấy đứa như Nguyễn Minh Ðức (thiếu tá tiểu đoàn trưởng, Sư Ðoàn 7, tử trận ở kinh xáng Long Ðịnh năm 74), Dương Văn Út (tiểu đoàn trưởng Biệt Cách Dù), Tô Kim Tiền (đại úy Không Quân), Nguyễn Gia Quyền (chuẩn úy mới ra trường tử trận ở Cai Lậy, sau Mậu Thân không lâu, năm 1969), Nguyễn Xuân Ðiệp (luật sư trực thuộc Bộ Kinh Tế Tài Chánh, Sài Gòn) và nhiều đứa nữa kể sao cho xiết... Nhưng tôi thân nhứt với hai thằng sau này, vì cả ba ngồi chung một bàn từ đệ thất đến đệ tam. Quyền bị đuổi vì vi phạm kỹ luật phải xin qua học bên Kiến Hòa, và Ðiệp di chuyển lên Sài Gòn, đổi tên Nguyễn Duy Tưởng đặng học nhảy. Ðiệp kể lại... "tới hồi vào lớp gặp lại thầy, Tôn Thất Trung Nghĩa, dạy Vạn Vật năm xưa." "Thôi, thầy bà gì, mình là anh em học cùng một lớp mà," thầy bảo vậy... Kể cũng vui...

     Ngoài việc ngồi chung bàn, bàn nhứt ngay dãy giữa, sở dĩ tôi thân với hai thằng Quyền và Ðiệp là vì tụi nó là dân ở tại thị xã Mỹ Tho, còn tôi ở dưới quê lên, từ làng Bình Phan quận Chợ Gạo. Gia đình Quyền thì có mấy mẫu vườn ở Gò Cát, xéo xéo chùa Vĩnh Tràng còn anh thứ ba của Ðiệp, Nguyễn Minh Tuấn, là chủ vựa lá Bến Tắm Ngựa, vựa lá lớn nhứt trong tỉnh. Giờ gẫm lại, dân dưới quê lên thành học thường có nhiều cơ hội để sống trong cảnh êm đềm xuôi chèo mát mái cũng như ngang trái lâm ly bi đát hơn là đám dân ở thành. Dân xa xứ trôi nổi thì dễ dàng thả tâm hồn lẫn thể xác đi hoang. Nhưng thường phải nhờ vào mấy thằng thổ công thổ địa mới có chỗ đóng đô ăn nhờ ở đậu, lập tổng hành dinh để bày binh bố trận. Và tôi may mắn có được mấy thằng bạn nối khố thật chí tình, biết mình con nhà nghèo lắm khi bọn nó cho mượn tiền mua vé xe về nhà mà trả hay hổng trả thì thôi chớ không bao giờ mở miệng đòi.

     Qua Quyền và Ðiệp, tôi chơi thân với đám bạn ở Chợ Cũ, như anh em Nguyễn Thành Kỉnh, Nguyễn Thành Năng (đại úy Không Quân, quê ở Tầm Vu, Long An), Quang đờn guitar tay trái (đại úy Bộ Binh)... cùng hai bà chị kết nghĩa Nguyễn Thị Thanh Dương, Nguyễn Thị Thanh Hoài..., đám bạn ở gần chùa Vĩnh Tràng như Trung (trung sĩ Hải Quân), Hiệp (trung úy Bộ Binh tiểu khu Vĩnh Long)... Còn tại địa phương tôi ở, khu Hàng Còng đổ lên Xóm Tre thì có Nguyễn Văn Châu (đại úy biên tập viên Cảnh Sát), Hồng, Lạc (đại úy Không Quân), Lữ (đại úy Bộ Binh), Háo Châu (đại úy Bộ Binh)... và một lô bạn của anh tư Tân (chuẩn úy mới ra trường chết trận ở Lấp Vò, Sa Ðéc), như Ðạt, Chữ, Ấu (chuẩn úy mới ra trường chết trận ở Sầm Giang, Ðịnh Tường), Lâm mập, vân vân... Nhìn lại, quả đúng là... "làm trai thời loạn," toàn đi lính. Cùng khóa 17 SQHQ Nha Trang với tôi, dân Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho cũng có Thái Văn A, La Xú, Võ Quốc Trị, Nguyễn Văn Sáu (từ trần sau 75), nhưng học trước hoặc sau chớ không đứa nào cùng cấp, cùng lớp... Kết cuộc rồi kẻ mất người còn, lưu lạc, tứ tán khắp mọi nơi. Ðời là vậy...

     Còn một người nữa mà tôi cũng có nhiều kỷ niệm là cô giám thị Tốt, Nguyễn Thị Tốt, học trò hay gọi là bà bảy Tốt. Có lẽ tôi ít "đụng" ông tổng giám thị Vạng, Trần Văn Vạng, học trò hay gọi là Cò Vạng hoặc bác ba Vạng, vì tôi thấy ổng xa xa là tôi lo né. Lần đầu tiên tôi được bà bảy Tốt "chăm sóc" là bữa bị cồng sin đầu tiên trong đời học trò. Hổng biết bị trễ học vì bác Mười gác cổng đóng cửa sớm hơn thường lệ hay là cúp cua đi chơi bị điểm danh bất tử mà hai thằng tôi bị... mời đi học ngày chúa nhật. Thằng Nguyễn Minh Ðức (dân Long Phụng, Trúc Giang, Kiến Hòa), lúc đó ở chung xóm Giếng Nước bờ trên với tôi (giữa Hàng Còng với Ðất Thánh Tây), mới sáng sớm mà lại nhà hỏi chị Ba tôi, rủ tôi... đi chơi. Bà chị cũng dễ tánh bảo... "ừa, hai đứa đi chơi vòng vòng đây thôi, đừng đi đâu xa nghen," chớ đâu biết tụi tôi phải đi xuống tận trường. Tôi nhớ... hầu như cả lớp ba bốn chục đứa trai có gái có bị cồng sin đều phải chép phạt 500 câu, đại khái, từ nay tôi chừa tội lỗi đó... Bà bảy Tốt chịu khó đi tới đi lui kiểm soát từng đứa cho đến khi tất cả nộp bài, kể như bị cồng sin chung với lũ "học trò có bộ giò ăn cướp" quậy phá không thua gì quỷ quái.

     Nhưng lần thứ hai bị bà bảy "chăm sóc" tôi thì tôi hơi run. Số là bữa trưa hôm đó bọn tôi đi học thêm lớp ban chiều ở dãy lầu Dơi. Giữa lúc trời bất thình lình nổi cơn giông gió, mưa rơi vi vút ngoài sân. Chẳng biết vì mấy ly đậu đỏ bánh lọt hay nước đá bào chế xi rô hay sao ấy mà bụng tôi căng cứng, mắc tè quá cỡ. Xin phép thầy đi ra ngoài xong xuôi tôi chạy từ giữa lầu đến cuối lầu (phía Lê Ðại Hành và ngó ra cổng trước) để xuống cầu thang, tìm phòng vệ sinh. Nhưng trời bỗng dưng nổi cơn thịnh nộ, sấm chớp ì đùng làm tôi bắt sợ quá, cầm lòng chẳng đậu, vạch quần tè ngay góc cột sắt đầy rỉ sét. Ðang thoải mái quá chừng chừng mà đằng sau lưng bị ai hỏi nhột... "trò này, trò tên gì..." Tôi ngó ngoái lại, hết hồn, trời đất... bà bảy Tốt, và đành đứng im chịu trận hết chạy chối phương nào...

     Lần thứ ba là lúc tôi đã lớn rồi, học đệ nhứt rồi, sắp sửa rời trường rồi mà bị mấy thằng bạn xúi... nên cũng làm gan. Phần ngay giữa trưa mà nghe tiếng con gái chót chét phía bên trong, chẳng chịu đi ngủ mà làm phiền hàng xóm, nên tôi cũng muốn nhào lên coi mắt coi mặt mũi có sáng nước hay không. Bèn xăng tay áo, trèo tường, đánh đu qua mấy nhánh ổi phía sau nhà ông hiệu trưởng, thầy Lê Ngọc Toản. Bọn con gái còn nhỏ nhít nín khe nhìn trân trối. Tôi lặt mấy trái lớn thảy xuống cho đám bạn... Bỗng từ xa bà bảy Tốt bang bang tới... "trò kia, trò tên gì, hãy mau xuống đây..." Lại bị ghi tên, lại bị giảng moral , lại bị phạt... Suy đi nghĩ lại, thấy bà hiền. Toàn là những tội đáng bị đưa ra hội đồng kỹ luật, đáng bị đuổi, mà rồi tôi cũng chỉ bị "hành tội" qua loa...

     Lúc thầy hiệu trưởng Toản về thay thì thầy hiệu trưởng cũ, thầy Phạm Văn Lược đã đổi đi rồi. Sau một màn lật đổ lan ra từ Sài Gòn khi tổng thống Ngô Ðình Diệm bị đảo chánh. Năm đó bọn tôi học đệ nhị nên không dính líu vào ban chủ mưu, giựt dây, điều động nên phần lớn chỉ đứng nhìn mấy nhóm quá khích nổi loạn... "Nhất tự vi sư bán tự vi sư," gì gì cũng là thầy của mình mà sao lại có vụ... rượt chạy có cờ như vậy. Nhứt là khi tôi thấy thầy giám thị Hoàng (thầy cũ dạy tôi lớp nhứt ở trường quận Chợ Gạo), bị đánh lổ đầu chảy máu thì, thiệt tình, tôi bất nhẫn hết ý kiến... Cũng may, trang sử máu của học đường đã... bạo phát bạo tàn, không mấy chốc trật tự được vãn hồi...

     "Không thầy đố mầy làm nên," quả thật người xưa nói đúng. Tôi nắm vững được căn bản trung học là nhờ công ơn của các thầy sau đây, đại cương vì không nhớ hết: thầy Bùi Văn Chi dạy Toán, thầy Nguyễn Văn Kiến, dạy Vật Lý, thầy Phạm Nguyễn Chu dạy Hóa Học, thầy Tôn Thất Trung Nghĩa dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn Anh Bổn dạy Pháp Văn, thầy Trần Ngọc Tế, thầy Lê Phú Thứ dạy Anh Văn, thầy Nguyễn An Ninh thầy Nguyễn Duy Tường dạy Nhạc, thầy Nguyễn Văn Dậu, thầy Nguyễn Nhật Tân dạy Vẽ (vẽ tượng Phật rất nhiều lần)... Các thầy Lê Văn Chí, Dương Văn Kính, Ðỗ Trung Ruyên, Phùng Văn Tài... cũng không còn nhớ dạy môn gì...

     Thêm một điều đáng nói là trong trường không có môn học và thầy dạy... viết văn. Mà tuồng như lúc ra đời chỉ phải tự mình đốt đuốt, tìm kiếm hướng đi riêng. Sau mấy quyển đầu gần như tự truyện, Một Chuyến Ra Khơi (phân nửa viết trước 75), Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Cảnh Hai Quê ..., tôi bắt đầu cạn đề tài bèn lại... "tầm sư học đạo," hỏi qua các bật đàn anh đi trước, và nghiệm ra... chân lý, viết tiếp Một Nổi Buồn Riêng , rồi phóng bút với hai bộ trường thiên Một Trời Một Biển (viết xong một quyển rưỡi, dự trù 3 quyển), Một Giấc Mơ Tiên (viết xong 4 quyển, dự trù 8 quyển)...

     Lạ lùng thay, trái đất này... không méo, cho nên trong chuyến về Montreal ra mắt sách vào năm 1992 cho cuốn Một Nỗi Buồn Riêng , do nhóm Nắng Mới của Vũ Ngọc Hiến và thân hữu bảo trợ, lại có người bất thình lình gọi phone cho tôi. Nhận phone từ Phan Thế Hậu, thằng bạn HQ 17 mà vợ chồng tôi đang tá túc tại nhà nó, tôi vẫn đinh ninh rằng người đầu dây bên kia có thể là một trong những độc giả "ế mộ" của tôi mà thôi. Ai dè... "phải mầy là Hưng ở Mỹ Tho hông, tao Ðiệp đây..." Trời đất, xa cách nhau đúng 30 năm, từ năm 1962, chưa một lần gặp lại mà tôi nghe tiếng nó với giọng cười hề hề là tôi nhận ra ngay... Ai dè... Vũ Ngọc Hiến bây giờ là em vợ nó... Ai dè... nó đưa gia đình đi vacation về thăm bên ngoại... Thật là bất ngờ, để rồi chẳng bao lâu sau đó dành cho thì giờ lái xe, hai đứa được dịp ôm nhau mừng mừng, tủi tủi... Nhắc lại chuyện xưa, thuở học trò...

     Tôi hỏi thăm anh Tuấn, một người anh có một không hai từ miền Trung, Ðà Nẵng, vào Nam lập nghiệp. Thương em, rồi thương luôn bạn em. Lo cho em, rồi lo luôn cho bạn em. Lo cho tôi từ Mỹ Tho tận đến Nha Trang. Vì sau khi sang lại vựa lá Bến Tắm Ngựa anh về Sài Gòn một thời gian, rồi ra Nha Trang lập nhà may Toàn Mới, đúng vào lúc tôi nhập trường Hải Quân. Anh gởi quà cáp vào trường và gần Tết, Tết 1967, còn cho tiền mua vé máy bay về Sài Gòn vì anh biết... "tiền lính tính liền..." Tôi hỏi thăm hai bà chị kết nghĩa Dương Châu và Hoài Hương... May quá, tất cả đã cùng gia đình nội ngoại vượt biên, vượt thoát được nanh vuốt cộng sản sau gần mười năm điêu đứng... Rồi từ đó, qua Ðiệp, tôi liên lạc được những bạn bè cũ như Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Sáng (đại úy Không Quân, biệt danh "Sáng ức cu" quê ở Ông Văn vì ngực nó không có bắp thịt mà chỉ nhô xương sườn ra ngay khoảng giữa)...

     Thêm một lần nữa, lần này trái đất... tròn, vừa mới xảy ra ở bên Cali cách đây không lâu... Nhân ngày lễ độc lập Mỹ, July 4th, bọn tôi hợp khóa, khóa 17 SQHQ Nha Trang, kỷ niệm 30 năm ra khơi... Ðêm tối thứ bảy, bọn tôi và gia đình có tiệc chung vui ở nhà hàng Paracel Sea Food. Ai dè... lúc đến nơi mới hay đêm nay không phải chỉ có riêng bọn tôi mà còn là đêm hội ngộ của liên đoàn Biệt Cách Dù. Ai dè... sau bao nhiêu năm trời, từ năm 1969, tôi gặp lại ông hạm trưởng cũ của tôi, cựu HQ trung tá Trần Ðức Cử, biệt danh "Cử ống cống" vì uống rượu lẹ như chớp không ai uống lẹ bằng. Ai dè... sau khi cụng ly với dân hải quân, ổng kêu tôi... "Hưng, theo anh qua bên này nhậu." Mới xà vô ngồi với đám rằn ri thì có người lên tiếng, chửi thề... "đù me, tao đọc mầy nhiều rồi, mầy nổi tiếng nhưng mà mầy có nhớ tao không." Trời đất, bỗng dưng có người không quen lại "mầy tao chi tớ." Tôi có hơi ngỡ ngàng ngó cái đầu tóc bạc trắng như bông, trên túi áo trận màu hoa dù có ghi 3 chữ lớn "Út Bạch Lan." Rồi tôi nhìn gương mặt hao hao giống..., à, tôi chợt nhớ ra liền... "đù me, phải mầy là Út không, Dương Văn Út." "Ðù me, mầy mà hổng nhận ra tao là tao giết mầy..." Hai đứa ôm nhau mừng quá trời, cười ra nước mắt trước sự ngẩn ngơ của mọi người, nhứt là ông hạm trưởng cũ của tôi. "Ủa, hai thằng mầy quen nhau hả? Thấy chưa Hưng, đi theo anh là có nhiều mục hấp dẫn." Một thời Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, một thời Khoa Học Ðại Học, Sài Gòn! Những khúc bánh mì thịt nguội ở vỉa hè đại lộ Hùng Vương được thay bằng những dĩa đu đủ ướp đá lạnh dưới chân cầu thang đại giảng đường MPC trong những bữa ăn sáng! Tình người Mỹ Tho, tình người học trò, tình người sinh viên được dịp bừng sống dậy trong nhau... Ðời là bể khổ mà đời cũng là bể hạnh phúc, với những cuộc hạnh ngộ vô chừng... Chẳng phải "tha hương ngộ cố tri" là một trong bốn hạnh phúc lớn? Qua Út, ở Houston, tôi được biết Tô Kim Tiền (đại úy Không Quân, bộ ba MPC cũ) đang ở Austin, cùng tiểu bang Texas. Gẫm lại, rất may, vì bạn bè tôi không một ai cầm súng theo phía bên kia...

     Mỗi người đều có đời sống riêng, cơ hội riêng, may mắn riêng, số phần riêng nhưng tôi và các bạn có cái chung là đã một thời cùng lớn lên trong một khoảng trời chung, Xứ Mỹ, cùng học một trường chung, Nguyễn Ðình Chiểu hay Lê Ngọc Hân, có những thầy cô chung... để cùng hưởng chung một gia tài văn hóa, và cũng cùng chung một phương trời lận đận với vận nước nổi trôi... Thôi thì hãy cùng tôi một lần nhìn chung về dĩ vãng xa xôi, nhưng là... một nơi rất thật, rất gần. Ðể như... một lần biết ơn các thầy cô dạy dỗ ở trường xưa, cũng như biết ơn bạn bè với những tấm chân tình...


Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp