Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Cũng Phải Qua Cầu

Nguyễn Tấn Hưng

     Rốt cuộc rồi cũng có ngày Hiếu phải lên Sài Gòn trọ học. Kể cũng lạ vì ba má chàng tuy quê mùa chất phác, lam lũ làm ăn nhưng ông bà lại muốn đứa con trai duy nhứt, kẻ nối dõi tông đường cho dòng họ Văn, Văn Trung Hiếu, phải có chút ít học thức và chức phận với người ta. Thời buổi này không còn cái cảnh thi Hương, thi Hội, thi Ðình, cũng không còn ông Nghè, ông Cử... cứ hễ đỗ cao thì được làm quan lớn hoặc giả đôi khi còn được kén làm phò mã, vinh qui phú quí về làng. Cái học bây giờ như thể chỉ để khỏi phải đi lính mà thôi, nếu không trong ngành chuyên môn thì phải đậu hằng năm ở chương trình phổ thông, chớ còn việc vinh thân phì gia thì phải dựa vào câu "nhứt thế, nhì thân, tam ngân, tứ chế" mới đúng.

     Bây giờ là buổi giao thời của nền Ðệ nhứt và Ðệ nhị Cộng Hòa. Không còn quân chủ chuyên chế với Nguyễn triều của Gia Long tẩu quốc hay quân chủ lập hiến với Quốc trưởng và Thủ tướng nữa. Tất cả đã lùi vào dĩ vãng tuy mới ràng ràng mà đã hóa xa xôi. Kể từ ngày đất nước chia đôi và sau đó không lâu, chỉ hai năm thôi, miền Nam không chịu thi hành hiệp định Genève, không chịu tổ chức tổng tuyển cử xáp nhập hai miền. Mà ngược lại, sau khi tiêu diệt các lực lượng tôn giáo như Bình Xuyên, Hòa Hão, Cao Ðài, Thủ tướng Ngô Ðình Diệm đã thừa thắng xông lên, củng cố quyền hành bằng cách vận động việc truất phế, hạ bệ Quốc trưởng Bảo Ðại qua một cuộc mệnh danh là trưng cầu dân ý. Ðể rồi, mọi người như bị bắt buộc phải "suy tôn Ngô Tổng Thống," qua lời ca: Ai bao năm vì sông núi quên thân mình ...

     Nhưng với đầu óc độc tài và bè phái, muốn thay trời làm vua ngồi mãi trên ngai vàng, nên nền Ðệ nhứt Cộng Hòa đã lần lần dẫn đến chỗ gia đình trị để cuối cùng Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm ... trong phút chốc bỗng không còn nữa. Vì phải chết thảm qua cuộc "đảo chánh" mệnh danh là "cách mạng" yểm trợ Phật giáo xuống đường của một nhóm tướng lãnh bộ hạ tay chân. Ðại khái, người dân đen thấp cổ bé miệng chỉ hiểu bập bõm như vậy chớ nội bộ bên trong gút mắc đến thế nào thì làm sao mà biết được. Âu cũng là một bài học lịch sử cho những ai tham quyền cố vị, muốn để lại một vết máu thay vì vết son.

     Nhớ lại thời gian đó Hiếu thấy sao mà chẳng ra một cái thể thống gì hết! Do ảnh hưởng của các phong trào xuống đường biểu tình, như một làn sóng thần từ Sài Gòn đột nhiên lan tràn đi khắp các tỉnh, học sinh trung học đâu đâu cũng bị giựt dây đứng lên tổng nổi dậy chống đối, đòi hỏi, quyết tâm lật đổ... hiệu trưởng và ban giám đốc. Học trò rượt thầy cô chạy có cờ, đánh giám thị sặc máu mũi! Cái gì kỳ vậy? Cách mạng? Trời đất! Rõ ràng hiếp dâm, bóp méo chữ nghĩa! May hồn là dạo ấy Hiếu đang ngồi lớp đệ nhị trường Nguyễn Ðình Chiểu, nên chàng chỉ biết lõ mắt nhìn đàn anh ở các lớp đệ nhứt hành động mà chẳng dám tham gia! Nghiệp trả chữ... "đấm, đá" cho thầy cô chàng chưa phải gánh!

     Rồi tiếp theo cái hình như phi lý của "cách mạng," của "đảo chánh" lại có chỉnh lý, bắt nhốt và tiếp đến bầu cử, gian lận kèm theo sự triệt hạ, trả thù... coi như không có một luật lệ giang hồ nào được đặt ra cả. Cái gì chớ Việt Nam ta mà dính líu với chính trị, xôi thịt thì nội bộ xào xáo không khác chi một nồi cháo heo, một đống hổ lốn xà bần. Ðể rốt cùng, liên danh Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ coi bộ được lòng quan thầy Mỹ cho nên được phép đứng ra giữ lấy giềng mối quốc gia. Thử hỏi lãnh đạo thời cơ, bợ đỡ như vậy thì làm sao đưa đất nước thoát khỏi vòng nô lệ của ngoại bang? Những thời đại tự chủ tự trị, tự túc tự cường của Ðinh, Lê, Lý, Trần biết bao giờ mới có cơ hội tái sinh?

     Trong khi ấy, kể từ năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Cộng Sản đã được thành lập và càng ngày càng lớn mạnh. Tranh nhau với chính phủ Cộng Hòa trong nhiệm vụ bắt lính và thu thuế. Dân quê bỗng rơi vào đường cùng không ngõ thoát, buộc phải sống đời trâu ngựa một cổ hai tròng. Với đường lối rỉ tai, dụ dỗ không mấy thành công, Việt Cộng đã chuyển qua giai đoạn sắt máu, chặt đầu mổ bụng để trấn áp dân lành. Sợ? Ðúng, phải biết sợ chớ! Bởi vậy, những ai không có cơ hội, phương tiện di tản về thành đều hầu hết phải cam tâm ở lại làm tôi mọi cho bọn giết người không gớm tay, vì bắt buộc chớ không vì nghĩa cả, tự nguyện, yêu mến quê hương...

     Sài Gòn, dạo trước, đối với Hiếu quả quá mông mênh, xa lạ. Một lần đi thi vấn đáp, ở trọ nhà một người bà con của bạn, cô Hai của Trịnh Quyền Tài, nằm trên đường Cống Quỳnh đã không cho chàng một khái niệm gì hết về nếp sống đua chen, xô bồ của chốn thành đô. Những buổi đến trường thi thì có con gái lớn còn độc thân của gia chủ, chị Minh Nguyệt, đưa rước cho khỏi lạc đường. Một vài câu trao đổi qua lại, thế thôi. Gia đình này thuộc hàng giàu sang, nhà lầu xe hơi, nên chàng cũng biết thân phận nghèo khó của mình, chẳng dám làm thân.

     Nhưng sau đó không lâu, hên quá, trong một bữa giỗ tại nhà của thằng bạn cùng lớp, Trần Hưng Phát, quê ở Chợ Gạo, Hiếu tình cờ gặp được người chị bà còn bên ngoại xa lắc xa lơ có nhà ở Sài Gòn. Chị Thảo, Trần thị Phương Thảo, quê ở xã Ông Văn, cũng thuộc quận Chợ Gạo. Nếu tính kỹ ra thì chị Thảo và Hiếu bà con đầu ông sơ, vì má chị và má chàng có cùng một ông cố. Ðặc biệt một điểm, chị là trưởng nữ trong một gia đình Nho giáo. Ba chị, một ông đồ biết nhiều chữ nho, đã không dựa vào đế hệ thi "Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh, Bảo Quý Ðịnh Long Trường..." của mình để đặt tên con cháu như vua Minh Mạng, mà lại dựa theo bài thơ bốn mùa, tứ quí thi, như sau:

     Xuân du phương thảo địa
     Hạ thưởng lục hà trì
     Thu ẩm hoàng hoa tửu
     Ðông ngâm bạch tuyết thi


     Rồi cũng chính chị Thảo có lần đã kể tiếp cho Hiếu nghe rằng ba chị nói đó là một bài ca dao rất xưa của Tàu, xưa đến độ vào thời ấy bên Tàu chưa có hoa sen chỉ có mỗi bông súng thôi, nên chẳng đề thơ "lục hà" tức "hoa súng xanh," là gì? Có lẽ đến đời người đẹp Tây Thi của Phạm Lãi đã bị Việt Câu Tiễn đem cống hiến cho Ngô Phù Sai... thì hoa sen mới thật sự du nhập vào Trung Hoa! Ba chị còn nói thêm là những đóa hoa sen tinh khiết đã từng nở ra dưới chân Phật tổ đó sỡ dĩ được lan truyền vào Việt Nam là do các tu sĩ đi hành hương, thỉnh kinh cầu phước lộc, đem về từ bên xứ huyền bí Ấn Ðộ! Nghe vậy thì hay vậy chớ chị nào có biết ất giáp gì đến nơi sản xuất lắm rắn hổ mang hay cái xứ chế tạo nhiều xì dầu!

     Sau chị Phương Thảo, tức Cỏ Thơm, thì hiển nhiên có thêm Lục Hà, Hoàng Hoa và Bạch Tuyết. Chẳng biết trong thâm tâm ba chị có mộng ước được tứ nương công chúa hay không, nhưng nếu ông có chủ tâm như vậy thì kể như mộng ước đã không thành, vì hai trong bốn cái tên được coi là rất đẹp cho bốn kiều nữ kia lại được tròng lên đầu hai cậu con trai giữa, Trần Lục Hà và Trần Hoàng Hoa. Mà cũng còn hên cho ông bởi đứa thứ tư, Trần thị Bạch Tuyết là đứa con gái, chớ nếu lỡ như con trai mà dếnh cái tên Trần Bạch Tuyết thì nghe coi bộ không ổn chút nào hết. Nhất là từ khi có hãng làm băng vệ sinh Bạch Tuyết ra đời. Có điều hơi lạ là sau khi sanh Bạch Tuyết, không biết ông hay bà đã âm thầm tuyên bố đình chiến dài hạn, cho nên mãi đến bây giờ Bạch Tuyết cô nương vẫn ngang nhiên làm cô út.

     Tuy tên tuổi có vẻ bay bướm, văn chương chữ nghĩa như vậy nhưng chị Thảo là người chất phác hiền lành, bải buôi vui vẻ. Trước khi lấy chồng chị cũng đã từng biết lo vườn tượt ruộng nương, công cày công cấy. Rồi đừng nói gần mực thì đen gần đèn thì sáng , mặc dầu di chuyển lên chốn thị thành những mấy năm qua mà nước da bánh ích đường hũ của chị cũng chưa chịu nhả nắng. Bên ngoài cũng tóc dợn lăn tăn, quần hàng áo nhiễu, cũng chưng diện ra phết theo kiểu văn minh tân tiến như ai, nhưng bên trong con người nết na, thùy mị của chị hình như cũng không bao giờ thay đổi. Trên khuôn mặt xương xương của chị, chỉ có cặp mắt to lúc nào cũng long lanh ươn ướt là hai điểm nổi bật, dễ nhìn, luôn làm người khác để ý. Chị không đẹp nhưng có duyên ngầm, không những ăn ở được lòng chồng mà còn với bà con láng giềng, chòm xóm xung quanh nữa. Chồng của chị cũng vậy, anh Ngô Hữu Phúc, một chân thợ hàn của hãng Ba Son, quê ở Cần Giuộc, là người quê mùa cục mịch, chí thú làm ăn. Hai vợ chồng chị mới có hai đứa con trai, lên ba và năm tuổi, hiện cư ngụ trong một xóm lao động dọc theo đường Phạm Thế Hiển, thuộc Quận 8 Sài Gòn.

     Mấy bận đi thi ngành vào các phân khoa, kể cả trường Ðại học sư phạm mà chàng đã đậu, Hiếu đều lên tá túc tại ngôi nhà xập xệ, vách ván mái tôn, có căn gác lửng của anh chị Phương Thảo-Hữu Phúc. Trong các ngày lang thang, vất vưởng ấy nếu muốn đi đâu xa thì chàng phải dùng xe buýt, còn nếu đi gần gần quanh xóm thì chàng mượn xe của chị Thảo. Sài Gòn rộng lớn, trống trải quá không mấy thích hợp cho những người... cuốc bộ. Vả lại, chàng cảm thấy rất e ngại khi phải nhảy lên ngồi xích lô đạp, xích lô máy hoặc giả chun vô xe taxi.

     Bây giờ khác hơn nhiều, ý chàng muốn nói có cái gì đó làm chân, vì Hiếu đã đem được chiếc Mobilette bình vuông của mình lên tận chốn phồn hoa đô thị. Bằng cách chịu khó chạy tà tà thẳng một mạch từ Mỹ Tho lên, khỏi phải chất trên mui xe đò, cột ràng chằng chịt tứ phía. Cho dù không ngang tàng phách lối so với Vespa, Lambretta, Goebels, Sachs... nhưng cũng khá hơn mấy chiếc Ve'lo-Solex, còi cọc không khác gì xe đạp. Lần đầu tiên vượt khỏi cầu Tân An bắc qua sông Vàm Cỏ Tây, đi lên cầu Bến Lức bắc qua sông Vàm Cỏ Ðông, rồi cầu Bình Ðiền thuộc khu Bình Chánh-An Lạc, để vào mũi dùi Phú Lâm bằng đường bộ kể cũng vui vẻ, thích thú lắm. Một khám phá mới đối với chàng. Rất khác với đi xe lô, xe đò chỉ chạy ngang cái vù là hết. Ðằng này, chàng có quyền ngắm nghía trời mây trong ánh nắng ban mai huy hoàng rực rỡ, cùng hít thở hương thơm ngào ngạt của ruộng đồng bát ngát ngút ngàn. Những con sông uốn khúc, những xóm nhà cheo leo đã vẽ lên bức tranh bình dị, mộc mạc, thanh thản của miền Nam những nét chấm phá sống động.

     Hiếu như đã thuộc lòng những con đường dẫn về nhà chị Thảo! Từ ngã Phú Lâm men theo đường Hùng Vương, được một đỗi thì rẽ qua đường Nguyễn Trãi, chạy riết tới ngã tư Trần Bình Trọng xéo xéo đằng kia là nhà thờ Chợ Quán, quẹo phải và chạy thẳng một mạch xuống bến Hàm Tử, rồi quẹo trái thì đụng chân cầu Chữ Y. Qua bên kia cầu Chữ Y, nhớ đừng rẽ xuống ngã Chánh Hưng ở giữa cầu, là đường Phạm Thế Hiển. Ðầu này chạy xuyên qua các xóm bình dân lao động trải dài hai bên lề, còn đầu kia chỉ được một đỗi rồi vắng vẻ hơn, dẫn về miệt cầu Rạch Ông, nối tiếp theo đường Trần Xuân Soạn chạy dọc theo kinh Tẻ ra cầu Hàng.

     Tương tự như vậy, chàng cũng đã thuộc lòng lộ trình đi đến trường hàng ngày. Dễ lắm, băng qua cầu Chữ Y, thẳng tới theo đường Nguyễn Biểu với bên phải là chợ Nancy thì đụng đại lộ Trần Hưng Ðạo, quẹo phải và xích tới một chút thì gặp ngã ba đại lộ Cộng Hòa. Con đường có đến ba trường nổi tiếng: Viện đại học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học, trường đại học Sư Phạm và trường trung học Pétrus Ký. Ðó là chưa kể Trung tâm Sinh ngữ chơ vơ một mình một góc, ở phía dưới kia ngã ba đường Thành Thái...

     - Bữa nay em có đi học không vậy, Hiếu?

     Nữa, chị Thảo lại hỏi chàng câu hỏi đó! Hình như sáng nào cũng vậy, với cùng một ý nghĩ trong đầu, chị muốn hỏi Hiếu một câu cho có chừng trước khi xách giỏ đi chợ! Chớ mỗi ngày như mọi ngày, chị đã biết quá rõ là bổn phận của anh Phúc thì từ sáng sớm đèn đường chưa tắt đã xách xe ra đường, chiếc Sachs bệnh hoạn cũ mèm, còn hai thằng nhóc, An và Bình, thì luôn luôn say sưa trong giấc ngủ muộn. Về phần chàng thì tuy có hơi trồi sụt, bữa thì dậy thiệt sớm để dò lại bài, bữa thì nằm nướng cho đã đến khi mặt trời mọc, nhưng không bữa nào chàng lại không đi đến lớp.

     Khác với sinh viên các phân khoa phổ thông như Văn Khoa, Luật Khoa, Khoa Học... giờ giấc thay đổi lia chia sáng trưa chiều tối, sinh viên trường sư phạm cứ như là học trò trung học, ngày hai buổi cắp sách đến trường. Chỉ khác ở chỗ ngày xưa thầy và cô giáo điểm danh, bây giờ tự tay mình ký vào sổ có mặt. Chuyện cúp cua đi chơi với bồ lại càng khó xảy ra, vì vừa sợ bị đuổi và vừa muốn giữ gìn thể diện mô phạm, nhà giáo của mình. Trong tương lai sẽ làm thầy làm cô lũ nhóc lớn đại mà, đâu có lôi thôi bê bối cho được. Còn chuyện gì chớ chuyện xuống đường, biểu tình thì xin miễn nói tới, nhường cho các tay muốn làm lãnh tụ chính trị. Ngẫm nghĩ lại, những kẻ tập tễnh làm nghề gõ đầu trẻ sao mà hiền ơi là hiền!

     Bà này kỳ, biết quá rồi mà còn hỏi, Hiếu nhủ thầm! Nhưng chàng cũng từ tốn đáp lại cho có lệ:

     - Ði chớ chị!

     Chị lại hỏi tiếp:

     - Trưa nay em có về ăn cơm không?

     Hiếu gãi đầu, tình thiệt:

     - Bữa nay có giờ thực tập, chắc em về trễ. Chị với An, Bình cứ việc ăn trước đi, đừng chờ. Chừng nào em về em sẽ xuống bếp em lục.

     - Thiệt hôn? Thực tập ở trường học hay là thực tập ở rạp hát Ðại Ðồng đây cậu?

     Cái gì, rạp chớp bóng Ðại Ðồng? Úi chà, bà này cũng rành dữ ha! Mà nói cho ngay, xung quanh khu Ðại học sư phạm cũng không có mấy rạp chớp bóng! Ở phía trên kia, góc Cao Thắng và Phan Thanh Giản, có rạp thường trực Ðại Ðồng, chiếu liên tục liền tù tì từ sáng đến khuya muốn vô coi lúc nào cũng được. Coi nửa đuôi rồi ráp lại nửa đầu cũng xong. Ở phía dưới này, góc Cống Quỳnh và Võ Tánh, có rạp Khải Hoàn đối diện bên kia đường là vòng thành Ô-Ma, thường chiếu phim theo xuất. Không kể gần đó có rạp hát Quốc Thanh quen thuộc, dành riêng cho những ai thích coi cải lương và đại nhạc hội. Hiện thời, đoàn Thanh Minh Thanh Nga đang đóng đô dài hạn ở đó. Tuy biết vị trí từng rạp một nhưng rất ít khi Hiếu đi coi hát hay xem phim. Rõ ràng chàng khai thiệt mà vô tình bị bà chị hiểu lầm!

     Chị Thảo lại không biết là trong những giờ thực tập các môn phụ như Vật Lý, Hóa Học và Toán, bọn chàng đều phải chạy sang trường Khoa Học, mượn đỡ phòng thí nghiệm của người ta xài tạm, cho nên việc đi tới đi lui cũng mất nhiều thì giờ, trễ nãy là chuyện thường. Rồi tuy trai gái cũng hay bắt cặp làm chung một nhóm, nhưng dĩ nhiên đó chỉ là chuyện học hành thi cử, tối tăm mặt mũi mà thôi. Sao chị đi nghỉ quấy cho em vậy chị? Em mà dám trốn học đi ciné hả chị? Nói vậy chớ, Hiếu nghĩ, có lẽ tại vì chị coi Hiếu như đứa em ruột trong nhà nên mới để tâm, thắc mắc mấy thứ lẩm cẩm đó. Chàng cười:

     - Chị nói, tụi em đâu có rảnh rỗi mà lo mấy chuyện tào lao đó! Nếu có dư thì giờ thì cùng lắm là hẹn nhau vào thư viện, trao đổi ý kiến, bài vở vậy thôi!

     Chị Thảo cười theo:

     - Thôi mà cậu Ba, đừng có làm bộ! Ở Sài Gòn nầy mấy cô mấy cậu đời nay tự do, tân tiến, văn minh lắm. Vậy chớ tuần rồi cô, cô... gì đó, tới thăm cậu và định rủ cậu đi Lái Thiêu chơi cho biết với cổ nữa, rồi sao? Bộ tính dấu chị hả? Sợ chị mét dì dượng Bảy hả?

     Trời đất, bà này làm như có linh tính, giác quan thứ sáu không bằng! Tại sao mấy cô bạn Hiếu ghé thăm trước đây bả không nhắc mà lại nhắc cô mới ghé tuần rồi? Hóa ra hễ ai có tịch thì hình như thường hay rục rịch để rồi cử chỉ và lời nói tuy dấu diếm nhưng chẳng thiếu thân mật kia đã không lọt khỏi đôi mắt dòm ngó của bà chị thì phải? À, mà có thể chàng cũng đã thật sự dành chút chút cảm tình riêng tư hướng về cô bạn gái ngồi trên mình một bàn? Nhà nàng ở gần bót Hoàng Hùng, bên kia đường Võ Tánh ngó xéo qua cửa thành Ô-Ma, như chàng vừa mới điều tra ra gia phả, tông tích. Còn mảnh vườn cây ăn trái trên Lái Thiêu chỉ là quê ngoại của người đẹp. Hiếu giả lả:

     - Mèn ơi, tưởng ai đâu xa lạ, chị định nói tới con nhỏ Mỹ Hạnh bạn học của em đó hả? Dân nhà giàu đó chị ơi, tụi nó chỉ ngó mình bằng nửa con mắt. Cổ mời cho có mời vậy thôi, mời lơi chớ không phải mời thiệt nên em hổng ham!

     Chị Thảo lại hiểu lầm một lần nữa:

     - Nói giỡn chớ chị biết tánh em ham học, biết lo trước tính sau! Có như vậy thì dì dượng Bảy ở dưới quê mới chịu khó làm lụng kiếm tiền, gởi sấp gởi ngửa lên đây cho em ăn học! Thôi thì ráng vài ba năm nữa đi rồi ra trường đi làm thầy thông ông phán, thầy giáo cô ký với người ta.

     Hiếu thở phào nhẹ nhỏm! Rồi tự hỏi, kể cũng lạ, mình đã tròm trèm hai mươi tuổi đầu rồi chớ bộ nhỏ nhít gì đâu mà sao cứ còn e dè, rụt rè khi có người đặt vấn đề gái trai với mình chớ? Có phải những ai đã sống qua cuộc đời tỉnh lẻ thì vẫn hay ngập ngừng, nhút nhát khi lên chốn thành đô? Dưới mắt chàng thì bọn con gái Sài Gòn có phần nào dạn dĩ và đanh đá hơn, nhưng bọn con trai thì nhiều đứa cũng bơ phờ ngơ ngác như Hiếu, những con vịt hãng lạc bầy, chớ có tài giỏi gì hơn ai?

     Nhún mình như thể nhún đu , Hiếu nhỏ nhẹ, khiêm nhường:

     - Dạ, chị đừng có khen em quá có ngày nó... té hen! Chừng nào mình cầm chắc trong tay hẵng hay chớ đừng nói trước sợ bước hổng qua, chị ơi!

     Bước hổng qua? Ở đây, ý của Hiếu muốn nói đến chuyện tình cảm hơn là chuyện học hành! Quả vậy, chuyện học hành đối với chàng như là chuyện chắc chắn đang nằm trong tầm tay, cứ với ra là nắm được. Tất cả mọi thứ đều đặt dưới sự kiểm soát của chính mình, không chóng thì chầy chàng sẽ đi lần đến đích. Còn chuyện yêu thương, nhung nhớ, tương tư thì lại là chuyện rất khác. Không mấy khi mình làm chủ được tình hình và cũng chẳng mấy lúc mình làm chủ được cả chính mình nữa. Tất cả mọi thứ đều như đặt dưới sự cảm thông, chia xẻ với tha nhân. Ðể rồi những người đa tình, đa cảm, đa sầu như chàng thường bị rơi vào hoàn cảnh lệ thuộc hơn là chủ động. Sống thì hay sống cho "người dưng" và vui thì lại vui theo niềm vui của những "kẻ khác họ." Ngày nào với Hồ Ðiệp, Tường Vi, Hoài Hương, Lệ Thủy ở quê nhà và bây giờ, nơi đây, cùng với những bạn mới Mỹ Hạnh, Thúy Nga...

     Hiếu đang mơ màng nghĩ đến chuyện đâu đâu thì tiếng giục giã của chị Thảo đã vô tình lôi chàng trở về với thực tại:

     - Thôi, để chị đi chợ kẻo trưa. Chừng nào em đi học nhớ đóng cửa, khóa hờ lại đó giùm cho chị nghen. Hai thằng nhỏ chắc còn say ngủ, chị sẽ đảo một vòng rồi lẹ lẹ về liền để không thôi tụi nó thức dậy bất tử.

     - Ừa, chị cứ đi đi, để đó em lo cho.

     Chị Thảo vội vã bước ra ngõ hẻm và Hiếu khép lại cánh cửa hàng rào cây bao quanh hàng ba trước nhà, tráng xi-măng sạch sẽ. Một vài người đi chợ sớm đã bươn bả xách giỏ trở về.

     Mặt trời vừa chồm qua mái lá của căn nhà cuối xóm, chiếu những tia nắng ngọc ngà rạng rỡ đầu ngày. Một mùi nửa ngay ngáy, nửa thơm tho xông lên từ lòng đất. Lắng đọng dưới màn sương mỏng chưa tan hết, con hẻm cụt như cũng vừa vượt qua những cơn ngáp dài và bắt đầu vươn vai trổi dậy. Có tiếng con nít khóc đâu đây hòa lẫn với tiếng chào thưa, từ giã cha mẹ của lũ trẻ trước khi đi đến trường. Ngoài kia, trên đường cái, tiếng máy nổ và còi xe xuôi ngược, tranh giành chen lấn nhau qua lại đã ồn ào, in ỏi từ lâu.

     Trong hân hoan chào đón bình mình, Hiếu hít thở một hơi dài cho căng đầy hai buồng phổi cái không khí trong lành, tươi mát như nước suối cam lồ chưa bị bụi trần làm vẫn đục mấy. Chàng khoan khoái tập một vài động tác thể dục thể thao, chim bay cò bay, ưỡn ẹo vặn người sang trái sang phải. Xương vai, xương sống và xương sườn trở mình nghe rôm rốp, răn rắc. Sướng thiệt!

     Chẳng mấy chốc đã đến giờ đi học. Hiếu bước vào trong thay đồ, gom mớ sách vở ràng vô bọt-ba-ga, đẩy chiếc Mobilette phóng ra đường. Không quên khóa trái cửa như chị Thảo đã dặn. Bữa nay thế nào An và Bình cũng sẽ thức dậy trước khi chị đi chợ về. Hiếu đoán chắc như vậy vì hồi hôm tụi nó đi ngủ sớm hơn thường lệ. Bảo đảm hai đứa sẽ bắc ghế ngồi cạnh cửa sổ dòm ra như mọi khi, những lúc phải ở nhà một mình. Tội nghiệp, qua chấn song, trông như hai tên tù tí hon. Chàng đã gặp nhiều lần như vậy. Ít khi tụi nó dám mở cửa đi ra ngoài, có lẽ vì rất sợ người lạ mặt nhất là mẹ mìn lẻn vô, nên cứ phải làm y theo lời hăm he, dọa nạt rất cẩn thận của người lớn.

     Vượt qua hàng hàng lớp lớp những khách bộ hành, xe đạp, xích lô đạp, xe Lam chạy chậm hơn, Hiếu vặn thêm tay ga, lạng qua lạng lại tiến lên dốc cầu. Một vài tiếng xẵng giọng ra tuồng phản đối. Mọi người như đang gấp rút, hối hả. Dưới ánh hào quang tỏa rạng của nắng ấm ban mai, hình như chưa khi nào chàng cảm thấy quang cảnh đoạn giữa cầu Chữ Y rộn rịp, náo nhiệt như hôm nay. Trên bộ, xe cộ như được phép chạy hết ga, ầm ĩ, rần rần. Dưới nước, đủ ba mặt giáp công từ sông Bến Nghé, kinh Tàu Hũ, kinh Ngang gì gì đó, ghe tàu như được phép xả máy, chạy nổi sóng trắng xóa trên màn nước xanh rêu, xẹt qua xẹt lại dưới dạ cầu như mắc cửi. Kèn xe lẫn còi tàu rộn rã vang lên tứ phía. Từ mạn Chánh Hưng đi lên, từng đoàn xe ba-gát tiếp tục nối đuôi nhau, chất đầy những thân heo sống cạo lông sạch sẽ, chẻ đôi gọn gàng để kịp thời phân phối cho các chợ thịt. Thỉnh thoảng có thêm dăm ba chiếc xích lô đạp hoặc xích lô máy, bỏ mui lột nệm cho khỏi dính máu, cũng được trưng dụng để chở heo thay người tranh thủ thời gian cho các mối ở xa.

     Ô hay, trong bất chợt Hiếu thiển nghĩ, có lẽ không riêng gì những vật vô tri vô giác như xe cộ, ghe tàu, không riêng gì những loài cầm thú, súc vật dù đã chết hay còn sống, không riêng gì những người chung quanh Hiếu bao gồm đủ thứ hạng như thầy thông thầy ký, cô giáo cô hầu, cha huynh sư sãi, dì phước bà vãi, du đảng cao bồi, đĩ điếm ma cô, công nhân tư chức, bác sĩ kỹ sư, vua chúa quần thần, tướng tá quan lính, chú thiếm cô dì, bác cậu dượng mợ, ông bà cháu chắt, cha mẹ con cái, anh em chị em..., vân vân và vân vân, mà ngay chính cả chàng cũng vậy, cho dù có "đoạn trường" hay "không đoạn trường" đi chăng nữa cũng không cần thiết, ai ai rồi... cũng phải qua cầu! Phải di chuyển không ngừng, phải sống với những phút giây mà cuộc đời này đã đem lại. Không ai có quyền, cũng không ai được phép dừng lại trên cầu. Trừ phi có những người thực tâm muốn đi tìm cái chết, vì đứng lại là đồng nghĩa với tự sát.

     Nhưng, qua cầu rồi để phải làm gì và đi về đâu? Tại sao mình không "Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Ðông ngâm bạch tuyết thi" như người xưa đã làm mà lại chui vô trường Ðại học sư phạm? Hiếu đổ dốc cầu men theo đường Nguyễn Biểu. Bên hông mình, chợ Nancy đã đông đúc kẻ bán người mua, tiếng chọn hàng, trả giá bén gót đuổi theo đinh tai, nhức óc...


Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp