Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Truyện: Một Nỗi Buồn Riêng
Nguyễn Tấn Hưng
Ðại Nam xuất bản 1992
Mục Lục
00. Thay Lời Tựa
01. Một Nỗi Buồn Riêng
02. Ðưa Dĩ Vãng Vào Lãng Quên
03. Lòng Thương Người Của Tên Ðồ Tể
04. Tuyệt Lộ
05. Một Chiều Xuân Rộn Rã Men Say
06. Bên Dòng Suối Nhỏ
07. Hoa Hậu Xứ Dương Ðào
08. Ðường Lên Dốc Núi
09. Con người và Bút Pháp của Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền
back to top
00. THAY LỜI TỰA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau tác phẩm đầu tay,
Một Ðời Ðể Học
, do ông Mai
Thảo viết tựa, bấy lâu nay tôi vẫn hay nhờ các văn hữu
đi trước đề bạt cho tác phẩm mình. Với quan niệm nhằm
lưu lại một vài kỷ niệm trong niềm tâm giao cùng các văn
hữu thân quen ấy. Tuy nhiên, lần này có hơi khác!
Cũng qua một thân tình, mới đây một bạn văn cho biết, đại
khái, chưa chắc là độc giả đã hiểu rõ và đồng quan điểm
với ý định đó của tôi! Mà có thể lắm độc giả sẽ hiểu
lầm rằng tác giả đã chưa vững tin vào tài năng của mình
cho nên cần phải có một người đi kèm, viết lên vài lời
khen tặng mời mọc người đọc. Ðó là chưa nói đến những
bạn văn khác có thể sẽ dèm pha, ganh tị vì không có được
những cơ may quen biết, giao lưu thân mật với một số đông
những người cầm bút như tôi! Quả thật là chí lý! Ðến
nỗi, tôi phải viết ra đây những dòng này như để lưu lại
một kỷ niệm vui vui với một người bạn văn!
Rồi, càng chí lý hơn nữa khi tôi là người cũng đã có dăm
ba tác phẩm trình làng, với ít nhiều tiếng vang! Nhất là
trong thời gian gần đây có vài bằng hữu, kẻ đi trước
người theo sau, lại nhờ tôi viết bạt, bình thơ, điểm
sách! Thôi thì kể như giờ phút đã đến, từ nay, tôi
phải tự mình viết tựa cho mình vậy. Không kể những
trường hợp đặc biệt, dĩ nhiên.
Tựa hay bạt viết cho một người khác, với tôi, ngoài những
giao tình qua lại phải có, thông thường chỉ là những dòng phê
bình một chiều: khen. Người viết tựa hay bạt phải chịu khó
đọc kỹ tác phẩm, suy ngẫm và tìm ra những điểm hay theo ý
mình mà thổi phồng lên, trong khi phải lờ đi những điểm
dở. Lắm lúc chưa chắc đã nói lên được dụng ý, tâm
sự cùng nỗi lòng của tác giả gởi gấm trong đó, vì mỗi
người cầm bút đều có một cách viết riêng và một trình
độ thưởng ngoạn riêng!
Bảo đảm không ai có thể hiểu rõ một tác phẩm hơn là chính
tác giả! Song le, kẹt một điểm, tác giả không thể tự huênh
hoang, bốc thơm cho mình! Ngoại trừ những kẻ đã..., chớ ai
mà làm như vậy xem ra kỳ chết đi được! Bởi thế, tự
viết cho mình một vài điều là chuyện không thể và không nên
xem thường. Dễ dàng chăng là họa hoằn đối với những
người đang viết dưới dạng thức một chủ đề, vì có thể
dựa vào đó để nói thoáng qua những điều mình sẽ trình
bày, xây dựng, ước mơ!
Nhưng thử hỏi, có ai dám đặt bút viết khơi khơi mà không
nhắm vào một mục tiêu, một chủ đề, một hướng nhìn nào
chớ? Có hết! Ngay cả những người chuyên viết tiểu thuyết
mua vui, dã tưởng đi nữa! Chẳng qua là có người đã nêu
lên được một điều gì lớn lao và trong khi đó có người
lại chỉ vẽ ra một cái gì nho nhỏ!
Ở đây, với
Một Nỗi Buồn Riêng
, tôi cũng chỉ mong là
mình đã vẽ ra được một cái gì nho nhỏ mà thôi! Tại sao?
Tại vì,
quốc gia hưng vong thất phu hữu trách
! Ðiều
mà, không riêng gì tôi, tất cả những người chúng ta đang
sống ly hương nơi đất khách quê người đều hằng tâm nghĩ
tới! Có phải? Nhưng đặt vấn đề là một chuyện mà làm
được gì hay không là một chuyện khác! Với một người
cầm bút, nêu lên chủ đề là một chuyện mà viết được
gì hay không là một chuyện khác! Và tôi tự cảm thấy mình
đã hoàn toàn thất bại, bất lực!
Vì tôi đã để ngòi bút của tôi dẫn dắt tôi đi lang thang
khắp mọi chân trời, góc biển! Trong giông tố bão bùng khơi
lại bóng quê hương! Trong biển cả lắc lư con tàu đi vinh danh
người chiến sĩ! Trong lòng từ tâm của những người chuyên
môn lường gạt có pa-tăng! Trong hương say dục tình thấp thoáng
bóng liêu trai! Trong tình yêu giao hòa bất kể màu da phong
tục! Trong êm ả gia đình và thiên nhiên huyền thoại! Trong
những đua đòi bóng sắc của giới quần hồng! Trong nỗi chết
chưa rời tay trong tay cùng Chúa, Phật...
Ô hay, cái gì lạ thế! Một quái thai thời đại chăng? Thưa
rằng, không đâu, chỉ là tác phẩm mà tôi có phần nào ưng
ý thôi! Xin mời quý bạn đọc ghé mắt vào xem!
back to top
01. MỘT NỖI BUỒN RIÊNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Xế chiều hôm nay trời bỗng dưng oi ả lạ thường. Nắng
chang chang như mang mùi khét. Nực nội, bức rức, khó
chịu. Mới lội bộ một khoảng mà mồ hôi tươm ra như mật
trong người. Hầm hầm, rít chịt. Ðã vậy chẳng thấy
một chút gió, chẳng có một gợn mây. Bầu không khí như
đang đứng sững, chết lịm,
still
. Ngột ngạt, khó
thở. Có phải đây là những dấu hiệu của một cơn khủng
hoảng trầm trọng về... thời tiết sẽ xảy ra? Như một im
lặng đè nén từ bao nhiêu năm chợt đến lúc sắp vỡ
bờ? Như một quả bom nguyên tử sắp nổ?
Quốc mở cửa xe chui vào lò thiêu cá nhân. Chàng với tay
mở thêm cánh cửa phía bên kia chỗ ngồi cách tài xế, với
hi vọng có chút gió lòn vào. Nhưng nào có gió máy gì đâu.
Duy nhất chỉ có sự dẫn nhiệt từ từ,
heat transfe
r
,
từ điểm nóng đến điểm lạnh tựa hồ như những phân tử
không khí đã đặc lại thành chất cứng. Máy lạnh. Rõ
ràng chàng cần gấp một cái máy lạnh. Chàng đề máy, máy
nổ ngọt ngào. Gạt cần điều chỉnh air-conditioner từ vị trí
normal qua gạch maximum, chàng mở quạt ở tốc độ thiệt
lớn, high. Hơi nóng phả vào mặt thiếu điều muốn cháy
râu, phỏng trán.
- Damn it!
Chàng hậm hực chửi thề rồi đưa tay quạt túi bụi như phủi
bụi trên không. Trời mới giữa tháng năm mà sao nóng dữ
vậy cà? Thiệt là quái lạ, chàng không hiểu cái ông thần
indian summer
này ở đâu mà bang bang tới sớm như vậy.
Bãi đậu xe như bốc khói. Nhựa đường như đã chảy ra,
mềm xùi, dẽo nghẹo. Xung quanh chàng, một vài người đã vô
ga vụt chạy như cố thoát thân, tìm đường trốn nắng. Một
vài người khác vừa mới de xe ra khỏi hàng gạch phân ô. Ai
nấy đều đang bận rộn với chính mình. Giờ tan sở.
Ðợt nhứt, dành cho những người chuyên môn đi làm sớm,
về sớm. Thì giờ gia giảm,
flexible time
, kiểu Mỹ.
Ðằng xa kia, lố nhố một đám vừa ra khỏi cổng cũng đang
vội vã chạy đi tìm xe riêng của mình. Chạy, ai cũng hâm hở
chạy. Chiều thứ sáu thì ai mà lại không hối hả chớ.
Chạy một mạch về đến nhà chàng mới hay là có nguy cơ
đang chờ đợi.
- Ba à, bão tới, bão tới...
- Severe storm, bão lớn lắm đó ba.
Ðám con của Quốc nhao nhao trước cái tivi. Nhưng chàng không
tin:
- Hừ, làm gì có chuyện đó. Ở bên ngoài trời nóng như
lửa, đổ tháo mồ hôi hột. Mấy ông tiên đoán thời tiết
chỉ biết đoán bừa bãi thôi.
Quốc đáp hờ hững trong lúc lui cui cởi giày, vớ để lên
kệ giày. Ðám con chàng lại nhao nhao lên.
- Thiệt mà ba. Lần này the weatherman không đoán sai đâu.
- Ba coi kìa. Bão đang đi tới Hickory rồi đó, vài giờ
nữa thì sẽ tới mình.
- Gió mạnh lắm ba, trên 75 dặm một giờ. Sẽ có nhiều
tornado nữa. Nguy hiểm lắm.
Chàng thả người vào chiếc ghế phô-tơi độc nhất trong góc
phòng khách. Chiếc ghế mà người Mỹ điên khùng đặt cho
nó một cái tên quái đản: lazy boy chair, ghế thằng con trai
làm biếng. Chăm chú theo dõi hàng chữ chạy chậm phía
dưới màn ảnh một lúc, chàng cho ý kiến:
- Chỉ mới tornado watch thôi. Chừng nào có tornado warning
mới là nguy hiểm. Tornado warning có nghĩa là có người đã
phát hiện những
funnel clouds
, những cột mây đen hình
cái quặng.
Ðám con của Quốc như không để ý gì đến lời giải thích
của chàng. Trong phút chốc, tụi nó đã quên lửng sự nguy
hiểm mà chính tụi nó vừa hãnh diện phát hiện ban nãy. Cả
bọn chỉ còn biết dán mắt vào cuốn phim hoạt họa đang nhảy
múa đến hồi có phần kịch liệt. Hàng tornado watch như
đang chạy ngược chiều với con thỏ xám, vai chính trong
phim. Tiếng "bíp bíp, bíp bíp" ngắn hạn của con thỏ
thỉnh thoảng pha lẫn vào tiếng "bíp..., bíp..., bíp..."
dài thòng của ước hiệu báo động tình trạng emergency, ước
hiệu chung của các đài truyền hình. Ngưng một chút rồi
lại tự động "bíp..., bíp..., bíp..." trở lại. Và hàng
chữ hiện ra như một màn ảnh nhỏ trên màn ảnh lớn. Ở Mỹ
này, lẽ dĩ nhiên, tình trạng khẩn trương không có nghĩa
là máy bay địch đến dội bom. Không có vụ phải chui vô
trản-xê. Mỹ đâu có ngu đâu mà tự đem chiến tranh về
xứ mình. Không bao giờ. Tóm lại, chẳng có gì khác
hơn là giông gió, bão bùng.
Có lẽ ở Việt Nam không có, hoặc họa hoằn lắm mới có
tornado. Tornado, tô-nế-đồ phát âm theo tiếng Mỹ, thứ
thiệt. Những con trốt thứ thiệt. Thật ra hai chữ con
trốt dùng để dịch chữ tornado, như nhiều tự điển
Việt-Anh, Anh-Việt đã ghi, đã không đem lại một ý nghĩa
gì chính xác cho người mình hết. Con trốt ở Việt Nam thì
thiếu gì. Những đám bụi xoáy hình cái quặng lớn, nhỏ
ở Việt Nam mình thiếu gì. Ngay trên những bãi đất hoang,
ngay trên mặt lộ. Ngay trên những liếp cải tàu-xại chỉ
còn trơ lại đất cát và cỏ dại, sau khi được mấy bà Tàu
mua mão, mướn người nhổ tất. "A-chía, a-chía," có lần
Quốc thấy một bà Tàu vừa la bài hãi vừa xòe bàn tay trơn
chém lia lịa vào con trốt đang mang đầy bụi bậm lá lú tiến
nhanh về mình. Con trốt tan biến ngay. Cho đến bây giờ
Quốc cũng không hiểu hai tiếng "a-chía, a-chía" đó đã mang
một phép thần thông loại gì.
Con trốt ở Mỹ vĩ đại lắm. Cái gì của Mỹ mà lại không to
không lớn chớ? Ðộc ác nữa. Con trốt Mỹ đã từng giết
hại rất nhiều người. Không phải như con trốt Việt Nam
thổi không bay tà áo xẩm, vạt xường xám đen đúa mốc thít
mốc cời của mấy bà lái cải.
Con trốt của Mỹ hình thành khi có hai luồng không khí vĩ đại
nóng và lạnh gặp nhau trên một chiến tuyến dài, lắm lúc
hàng trăm dặm, gọi là đường
squall line
(đường gào thét
hãi hùng,
screaming line
!). Nói là gặp nhau chớ thật ra là
đụng nhau với một vận tốc khá mạnh. Tỉ như hàng triệu
chiếc máy bay đối đầu húc vào nhau trên không trung thì làm
gì chẳng kinh động một góc trời. Ðã vậy hai luồng không
khí nóng và lạnh cũng giống như hai khối điện dương và
âm, hễ đến gần nhau thì phải nổ, phải xẹt. Tuy nhiên,
trong cảnh hỗn âm hỗn dương đó, luật tuần hoàn của vũ
trụ vẫn được duy trì chặt chẻ: nóng bay lên, lạnh rơi
xuống. Dương luôn luôn đi lên và âm luôn luôn đi xuống;
bởi, ai nói âm thịnh dương suy ở chỗ này là hoàn toàn
sai bét.
Rồi để cho cái đi lên của mình càng lúc càng quyết liệt
hơn, cái dương đã vô tình (hay cố ý?) đè cái âm xuống,
đẩy mút vào tận cùng đáy thẳm. Muốn lên mà tìm
cách... đè người ta xuống thì thực sự cũng chẳng mấy
gì hay ho phải không? Nhưng trời đất cũng chưa đến nỗi
rung rinh hoặc giả sắp sập vì cái thói ăn gian, lợi dụng
tầm thường như củi mục đó.
Sập hay không là khi có sự xuất hiện của những cái dương
muốn lên bừa bãi. Hiển nhiên là có sự đồng lõa của
cái âm và cộng thêm vai trò xúc tác của lớp thượng tầng
khí quyển, jet streams, tạo thành một sức hút rất lớn từ
thinh không. Với những điều kiện cần và đủ đó, những
cái dương muốn lên bừa bãi đã không chịu lên ngay thẳng
đường hoàng như người ta mà lên theo đường trôn ốc,
xoắn xích. Ðít bé đầu to theo hình cái quặng. Giống như
những bọt nước sôi trong ấm, dưới nhỏ trên lớn. Thế
mới là ác đạn thảm sầu, thế mới là trời long đất
lỡ. Và thế mới là có cơ hội để... tornado được đẻ
ra. Lúc mà luồng âm hàn tự do rơi xuống trong lòng quặng
như rơi vào khoảng không, vacuum space, để trở thành những
cơn dập vùi hùng hổ, downbursts. Mà không phải một đâu,
cùng một lúc trên cái chiến tuyến dài giữa âm và dương
khí đó, có thể hàng loạt tornado sẽ được đẻ ra. Nhễu
nhão lòng thòng kèm theo những cơn mưa như thác đổ bên
rừng. Rõ mệt người, chết người, tai hại ơi là tai
hại. Nhưng dẫu có mệt người, chết người và tai hại
đến triệu triệu đồng tiền của gì gì đi nữa thì tất
cả mọi chuyện chẳng qua chỉ là ảnh hưởng quái ác của những
luồng âm hàn cực độc downbursts mà thôi. Những nhà khí
tượng học, meteologist hoặc gọi nôm na ra là the weatherman,
cho biết như vậy. Ðúng là
âm dương tương hợp có đôi,
tiếng đời dị nghị, than ôi, một mình
... âm lãnh đủ.
- Má đâu con?
- Má đi lại tiệm thực phẩm mua thức ăn rồi. Không còn
gì ăn được trong tủ lạnh hết.
Ðứa con út phàn nàn. Quốc hỏi lại:
- Chớ nguyên một ổ bánh mì chuối (banana bread) má mới
làm ngày hôm qua đâu?
- Ai ăn đâu mất tiêu, lúc con về chỉ còn một lát mỏng
dánh.
Quốc đành an ủi con:
- Thôi, phải chờ má đi chợ về vậy. Thế nào má cũng
có mua bánh kẹo. Chắc má không đi lâu lắm đâu...
Quốc uể oải đứng dậy đi về phòng riêng. Một tuần lễ
rồi cũng đã trôi qua. Bên này lẹ thiệt. Mắt nhắm mắt
mở là đã hết ngày. Giấc sớm giấc chiều là hết tuần.
Thời giờ đi như tên bay. Những ngày Tạ ơn, Noel, Giáng
sinh, Tết tây, Tết ta, Phục Sinh, Phật Ðản... thấy dài
dài. Hết ngày mẹ, mother day, lại đến ngày cha, father
day. Hết ngày người tình riêng, valentine day, thì đến
ngày dành độc lập chung, independent day. Ðó là chưa tính
ngày cách mạng, 1 tháng 11, ngày quân lực, 19 tháng 6, ngày
chạy loạn, 30 tháng 4, của quân dân ta. Sale, bán xôn, Mỹ
tìm cách đặt ra những ngày lễ đặc biệt để cố tình ban
ân huệ (hay là vét sạch túi?) cho mọi giới đồng bào. Bên
mình làm gì có được cái phong tục giàu có, tân tiến
này! Nghĩ cho cùng,
đáo giang tùy khúc nhập gia tùy tục
,
người mình rốt cuộc rồi cũng phải lọt vào quỹ đạo văn
hóa, tập quán của xứ tạm dung mà thôi. Bây giờ, bảo
đảm ai ai cũng nhớ ngày sinh nhật của mình nhiều hơn là
ngày cúng giỗ ông bà, cha mẹ.
Quốc thay đồ nhẹ leo lên giường nằm nghỉ. Ðịnh coi
tin tức qua loa nhưng chàng chợt nhớ là mình quên mở cái
tivi không có remote control nằm chình ình trên đầu tủ. Chỉ
có cái tivi ở phòng khách là có remote control mà thôi. Kể
cũng bất tiện. Làm biếng trổi dậy lần nữa, chàng với
lấy một tờ tập san trên chiếc bàn đêm bên cạnh giường.
Ðọc tin nhảm quanh cộng đồng người Việt hải ngoại cũng là
một phương thức giải trí lành mạnh vậy. Ðược một lúc,
cơn buồn ngủ bỗng dưng kéo về hồi nào không hay. Quốc
buông tờ báo lên mình, mơ màng nhắm mắt...
Chẳng biết được bao lâu, chàng bị đám con chạy vô phòng
lay dậy:
- Ba, ba. Má về rồi kìa, ba.
Chàng bừng tỉnh và chợt nhận ra xung quanh mình tối thui.
Bên ngoài, trời chắc đã chạng vạng. Chàng đưa tay vặn
công-tắc đèn, dụi dụi mắt:
- Ừa, để ba ra phụ má đem đồ vô.
Qua cửa sổ lớn ở phòng khách, Quốc thấy bầu trời bên
ngoài vần vũ, xám xịt. Cây cối lay động mạnh, cành quặt
quà quặt quại như muốn gãy. Chưa mở cửa mà đã nghe
tiếng gió rít... hịch, hịch,... hú, hú, hú... tạt
vào hàng hiên, lúc tắt lúc hiện. Thiệt là giống như ở
những xứ có mùa đông kinh niên không bằng. Quốc mở
cửa... rẹt, sợi dây xích bật căng ra và... bùng, cánh
cửa bị giựt giữ lại quá mạnh. Cái storm door bằng nhôm
mỏng tròng trành, lắc lư, chực bay con tàu đi. Luồng gió
lạnh phập vào nhà mang theo đầy lá xanh rơi tản mác. Trời
đất, cái ông đại thần phong nào đang thổi tới đây? Gió
kiểu gì lạ vậy! Nhìn ra đường, Quốc thấy vợ chàng
hình như đang cố gắng đóng lại cửa xe mà đóng không
được. Một luồng gió mạnh nữa quật tới. Lần này
Quốc thấy vợ mình rõ ràng không phải đóng mà là níu lấy
cánh cửa xe cho khỏi bay đi. Quần áo sát rạt về một phía
tạo nên những đường cong lồi lõm, bất thường. Chỗ
phùng ra vỗ lách bách, phất phới như đôi cánh thiên thần
của một tiên đồng trinh nữ. Quốc băng trên cỏ vụt chạy
ra lo tiếp cứu. Gió chém vào mặt vào tóc chàng rát rạt.
Chân chàng như bị dở hổng lên và thiếu chút nữa bị đẩy
tạt vào cành anh đào trước ngõ. Quốc hét lớn:
- Em chạy vô nhà đi để đó cho anh.
Vợ chàng vội vàng túm lấy hai túi giấy dầu đựng đồ
ăn, chạy nghiêng nghiêng một bên vào nhà. Quốc lôi gallon
sữa trong xe ra để xuống bên vệ đường rồi lấy hết sức
đẩy cánh cửa xe đóng lại. Từng loạt gió mạnh thổi qua
làm chiếc xe nhúc nhích, rung rinh y như có người ngồi bên
trong nhún lên nhún xuống. Vài giọt mưa to hột bắt đầu
rơi mạnh thành tiếng bạch bạch trên mặt đường. Một lằn
chớp cắt dọc phía trời tây và một tiếng nổ vang dội xa
xa. Quốc cặp nách hai túi giấy dầu còn lại và cúi người
xách luôn bình sữa vụt chạy vô hàng ba. Một cánh lá cắt
ngang vào mi mắt Quốc đau điếng, nổ đom đóm, muốn đui
không thấy đường đi.
- Damn it!
Quốc hay chửi trổng như vậy. Không như mọi khi Quốc vẫn
hay cần đám con mở và giữ cửa cho mình, lần này khác,
từ nãy giờ cánh storm door tự nó cứ phải mở tàng quạt.
Ðóng lại cũng không phải dễ. Ðể hai túi giấy và bình
sữa xuống sàn, chàng bước ra ngoài và vọt ra phía sau
cánh cửa, dang hai chân đứng tấn, đẩy tới. Khoảng
nửa chừng, chàng vụt lẻn vô trong trước khi... rầm, cánh
cửa tự đóng chặt. Hịch, hịch... hú, hú, hú... Kể
như thoát nạn.
- Ba, coi nè. Tornado warning!
- Thiệt hả?
Hỏi cho có hỏi vậy thôi chớ Quốc không lấy làm ngạc nhiên
cho lắm với tình hình hiện tại. Có thể tornado đã xuống,
đã touch down vòng vòng quanh đây vì chàng đã thấy nhiều
lằn xẹt ngay trước mặt và tiếp theo là mấy tiếng sấm nổ
lớn như ngay trên đỉnh đầu. Quốc đoán quả không sai.
Hàng chữ chạy chậm từ phải sang trái trên tivi cũng đã xác
nhận như vậy:
Tornado had been spotted at 2 miles west
of
... Bỗng nhiên... xịt, rắc rắc rắc... tivi mất
hình. Sụp điện.
Ðám nhỏ hốt hoảng:
- Oh no, hết thấy đường rồi.
- Phải chạy xuống hầm ba ơi, ở tầng trên này nguy hiểm
lắm. Cô giáo có dặn tụi con như vậy ba à.
- Má ơi, má. Ði xuống hầm má ơi...
Rồi tụi nhỏ không chần chờ gì nữa, đạp lẫn lên nhau tuôn
xuống cầu thang. Trời đất tối thui, sắp sập thiệt. Bên
ngoài tiếng gió lẫn tiếng mưa đã nghe rõ ràng hơn, trở
thành ào ào, rào rào mỗi lúc một lớn hơn. Sấm chớp cũng
vậy, nổ liên hồi, mỗi lúc một gần thêm, nhiều thêm.
Quốc réo vợ chàng còn đang lui cui xếp đồ vô tủ lạnh:
- Gió mạnh dữ quá má mầy ơi. Thôi bỏ đó đi, chạy
xuống hầm với lũ con cái đã. Ðể không thôi tụi nó sợ.
- Chưa nấu cơm nấu nước gì hết mà sụp điện như vầy
rồi biết làm sao đây.
- Kệ nó. Lát nữa rồi tính.
Quốc chụp vội cái đèn pin nằm trên kệ sách, bấm, rọi
đường cho vợ. Ấn vai đẩy vợ xuống trước rồi chàng
lẽo đẽo theo sau. Chàng bỗng quên mất là trong cơn giông
gió mình phải mở hay đóng cửa sổ quanh nhà. Ðến
cuối cầu thang, chàng chiếu đèn vào phòng chơi, play room,
thấy lũ con đang quây quần trên bộ salon kê sát vách tường
trong. Cả bọn tụm lại nói cười khúc khích trong bóng tối.
Tụi nhỏ mò đường kể cũng hay. Có lẽ nhờ ánh sáng chớp
tắt xanh dờn của mấy tia chớp. May quá, chàng thấy có mấy
cái dĩa nhôm cắm sẵn đèn cầy đốt dở lần trước nằm
trên mặt bàn con, coffee table. Chàng lại kéo ngăn tủ bàn
viết kê gần đó định tìm hộp quẹt, nhưng tìm không
ra. Một lằn chớp ngoằn ngoèo, dài thòng và những tiếng
nổ... ầm ầm ầm thật lớn, như ngay trên nóc nhà. Tiếng
sấm ngân dài thật lâu.
- Ba má lại đằng này với tụi con đi. Phải ngồi sát vào
vách tường, không nguy hiểm lắm.
Tiếng thằng con trai lớn đưa ý kiến và tiếng đứa con gái
nhắc chừng thêm:
- Không được đứng giữa nhà. Cũng không được đứng
gần cửa sổ nữa. Kiếng bể sẽ làm mình bị thương đó.
Má biết hôn?
- Hãy im coi nào. Ðể ba con nghe động tĩnh.
Quốc thấy tụi nhỏ rõ nhớ lời thầy cô dặn. Ðúng rồi,
với áp lực thật mạnh của sức gió cửa kiếng sẽ bể trước
khi tường nhà sập. Chàng vụt nhớ ra, chết cha, đúng là
phải mở cửa sổ thay vì đóng. Gió sẽ lòn qua nhà, ít nguy
hiểm hơn. Nhưng bây giờ chạy lên tầng trên mở cửa sổ
chắc không còn kịp nữa. Bất thình lình, trên trời như
có một đoàn chim sắt đang bay tới, rất đông: h... ùm, ùm
ùm... Dưới đất cũng vậy, một đoàn tàu đang chạy ngang
qua: h... ùm, ùm ùm... Mang theo những tiếng sét đồng loạt
nổ long trời, và những lằn chớp xanh ma trơi bủa vây tứ
phía. Có lẽ trời đang sập thiệt. Quốc thấy mình như
đang lạc vào chốn địa đàng của loài khủng long, với những
tiếng gào thét thất thanh trước khi lâm chiến, tử nạn.
Chàng chạy lại khung cửa kéo, slide door, rọi đèn pin ra ngoài.
Nhờ bóng tối bên trong mà chàng thấy rõ hết. Trời đất,
những hạt mưa nằm ngang dầy đặc, vùn vụt bay không ngớt
dưới sức mạnh của cuồng phong. Những thân cây to lớn ở
bìa rừng phía sau nhà cong vòng như những cây sào của các lực
sĩ điền kinh. Ngọn nhịp lên nhịp xuống như ngọn cần câu
cắm đang bị cá ăn. Những con đom đóm bay đêm đã bị đánh
rạt xuống lớp cỏ, đang nằm im một chỗ thoi thóp chớp.
- Ba ơi, ba. Ba đừng đứng gần cửa kiếng.
Quốc trấn an:
- Không sao đâu con.
Bất chợt, Quốc chỉ biết thầm van vái Phật trời phù
hộ cho gia đình mình được tai qua nạn khỏi. Giống như
mẹ chàng mỗi khi có giông gió sấm sét bên nhà. Nhưng chắc
chàng còn dở hơn mẹ nhiều điều. Chàng chưa nói thạo câu
Nam mô a di đà Phật mà chỉ biết bắt đầu bằng hai chữ: Lạy
trời... Tiếng h... ùm, ùm ùm... mỗi lúc một lớn và gần
hơn rồi đột nhiên biến thể ầ... m, ầm ầm... đ... ùng,
đùng đùng... loạn xạ. Ðệm thêm những tiếng kêu rất khẽ,
rất khô khan nhưng Quốc vẫn nghe rõ mồn một: rắc, rắc
rắc... Hàng loạt những thân cây liên tiếp thay nhau gãy
gục, tróc gốc trong ánh chớp lóe sáng không ngừng. Như
những đường gươm cắt hết sức gọn gàng, sắc bén, ngọt
lịm. Một mùi khét khét xông lên nồng mũi. Có lẽ từ những
thân cây nào đó bị sét đánh, bốc cháy phía trên gió. Tâm
bão là đây? Ðang lướt qua nhà Quốc trong tít-tắc, phút
giây này? Thôi thì trời kêu ai nấy dạ, mình đâu làm sao
thay đổi được thiên tai. Rõ ràng, Quốc thấy mình hình
như đang nắm tay đi đôi với tử thần trên một khoảng
đường chết nhiều hơn sống.
Nhưng, phàm cái gì
bạo phát thì phải bạo tàn
. Không
mấy chốc, cả hai, đoàn máy bay và đoàn tàu tốc hành,
đã được tuần tự thay thế bằng đám ong bầu, ong
ruồi. Những hạt mưa bay ngang vùn vụt như những đường
tên trắng cũng được thay thế bằng những giọt mưa lã chã
canh khuya. Một vài con đom đóm ngóc đầu lên được, bay
là đà mặt cỏ, e dè chớp chớp đèn đuôi. Mọi việc như
bình thường trở lại. Lạ thật.
Chờ hồi lâu không thấy động tĩnh gì nữa ngoài tiếng mưa
đêm chan hòa với tiếng côn trùng, đám con của Quốc kết
luận:
- Hết bão rồi ba má ơi!
- Mình đi lên được rồi phải không ba?
Vợ Quốc trả lời thay:
- Khoan đã con. Bão này đi coi chừng bão khác tới. Ngồi
đây thêm một chút nữa cho chắc ăn. Biết đâu mình vừa chui
lên thì lại chạy xuống không kịp thở. Nè, mỗi đứa chuẩn
bị cầm theo một cây đèn cầy để lát nữa xuống bếp mồi
lửa đốt cho có ánh sáng trong nhà nghe chưa. Trời đất gì
tối thui như mực.
Rồi chẳng bao lâu nàng quay sang Quốc:
- Chắc hết rồi ba mầy hả. Thôi để em đi lên coi đồ
ăn đồ uống ra sao. Nãy giờ không bỏ vô tủ lạnh chắc thịt
cá ươn sình hết trơn rồi.
- Ðiện có đâu mà tủ lạnh với không tủ lạnh.
- Coi vậy chớ hơi lạnh cũng còn nằm trong đó, anh nói.
- Ừa, thôi lên thì lên. Anh cũng muốn coi cửa nẻo có
cái nào bể, sập, hay bay mất không.
Quốc rọi đèn pin dẫn đầu đi trước, bước lên cầu thang.
Ðám con Quốc túa theo và vợ chàng đi sau rốt. Qua khỏi nấc
thang cuối, bước vào hành lang, Quốc mừng thầm trong bụng.
Không có gió, không có tiếng động bên ngoài lòn vào chứng
tỏ là tất cả các cửa sổ chưa bể kiếng, vách tường
chưa sập, và nóc nhà chưa bay. Vòng qua nhà bếp cho đám
nhóc mồi đèn xong, Quốc mở cửa cái bước ra hàng hiên.
Trời đất, cái gì nằm một đống đen thui thùi lùi trước
nhà đây? Ôi thôi rồi, cây sồi già trước nhà đã tróc
gốc. May là nó ngả ngang sân không đụng chi đến cái nhà.
Rõ Phật trời đã che chở và phước đức ông bà còn để
lại. Chỉ cần một nhánh lớn tấp lên nhà là nguy to. Mái
nhà sẽ lủng lỗ và nước mưa sẽ theo đó đổ trút vô nhà.
Ngập lụt. Hên ơi là hên. Vòng vòng mấy căn nhà láng
giềng, mấy căn nhà kế bên và đối diện phía bên kia
đường, cũng đã thấy ánh đèn pin nhấp nháy. Hình như
ai cũng muốn kiểm soát lại phần số của mình. Hình như
quanh nhà nào cũng có những thân cây bị bứng gốc, gãy ngọn
nằm vắt ngửa vắt nghiêng hết. Ngoài đường cũng vậy.
Cây cối ngổn ngang liệt địa khắp trên mặt đường.
Quốc chiếu đèn ngược vào tấm vách tường, chàng rất
đỗi ngạc nhiên réo vợ:
- Em ơi, ra đây mà coi.
Những đóa hoa màu xanh lá cây lớn nhỏ đủ cỡ như hoa giấy
confetti, đã bị dán chặc lên nguyên tấm vách sơn trắng dọc
theo phòng khách. Một bức tranh lập thể, kỳ dị. Làm
sao gió có thể xé rách nát những cánh lá ra từng mảnh vụn
ngần ấy? Quốc không thể hiểu nổi! Vậy mà căn nhà vẫn
đứng yên. Một mình chống chọi với cơn phong ba bão táp,
thập tử nhứt sinh. Thế mới là tài tình. Chẳng bù hồi
mới qua Mỹ, Quốc cứ chê nhà Mỹ như là đồ chơi, cất
toàn bằng ván ép và đóng đinh. Dầu mối không ăn, mọt
không gặm thì năm ba năm cũng sập vì mấy cây đinh rỉ sét
đó. Ðâu có được như nhà bên mình, phần lớn được
làm bằng gỗ cứng: thao lao, bằng lang, căm xe, cẩm
lai... Toàn là thứ mối chê mọt chạy. Ðã vậy cột, kèo,
xiên, lụi gì gì cũng được xẻ mọng, đóng chốt thì bắt
buộc phải đứng vững muôn đời, trơ gan cùng tuế nguyệt.
Ai dè. Thiệt, ai dè... Vợ chàng đã bước ra hồi nào
không hay. Nàng đến ôm ngang eo ếch Quốc, xiết nhẹ,
thủ thỉ:
- Số mình có Phật trời độ anh hả?
- Ừa. Chẳng biết trong đêm nay có ai chết vì cơn bão
rớt này không? Cây ngả, nhà sập, nóc bay thì hiển nhiên
phải có rồi. Lạy trời... Thôi, mình đi vô lo cơm nước
đi. Ðể sáng ngày hãy đi thăm chòm xóm.
Mưa vẫn tiếp tục rơi rỉ rả, lõm bõm trên lớp nước đọng
vũng ngoài sân. Nhiệt độ bỗng nhiên tụt xuống thấp rất
nhanh. Trời trở rét như đang giữa mùa đông. Quái lạ.
Quốc dùng mình. Chàng lật đật choàng tay ôm vợ đưa
vào nhà.
- Ngoài này lạnh quá, thôi đi vô em ơi.
Vợ chàng hỏi sang chuyện khác:
- Không có điện rồi làm sao nấu cơm?
Quốc sực nhớ:
- Hừ, kẹt dữ ha.
Vợ chàng tiếp:
- Phải chi như bên Việt Nam mình thì chạy ra sau vườn quơ
một mớ củi vụn lá khô vô đốt, tiện lợi biết mấy. Ừa,
mà hôm trước mình dọn vườn, tỉa cây... anh bỏ cái đống
chà ở đâu? Bên ngoài hàng rào phải hôn? Nhưng thôi, trời
mưa ướt nhẹp hết rồi, mang đống chà đó vô đây chỉ có
nước un khói. Nồi niêu, xoong chảo có dính lọ cũng không
hề gì, chỉ sợ cái trần nhà. Vả lại phía bìa rừng bây
giờ trời tối om như mực. Ghê thấy mồ. Ðừng nói ở
Mỹ này không có ma à nghen. Bảo đảm to lớn, dềnh dàng không
thua gì mấy con dã nhân thời trung cổ, mấy con bigfoot...
Ðám nhóc đốt đèn cầy tứ giăng. Phòng khách, nhà bếp
và luôn cả phòng ngủ, phòng tắm mỗi nơi một cái. Quốc
nghĩ là đám con của anh coi bộ... không thích bóng đêm cho
lắm. Không có cái tivi, nguồn giải trí chung, cả đám đang
tụm vào một phòng riêng chơi cờ monopoly là cái chắc. Quốc
nghe tiếng bàn cãi, cười giỡn ồn ào ở trong đó. Quốc
đề nghị với vợ:
- Hay là mình xài cái lò sưởi dầu lửa vậy. Sẵn trời
đang xuống lạnh, mình vừa nấu đồ ăn vừa sưởi nhà luôn
thể. Một công hai chuyện, vừa tiện vừa lợi. Ðể anh
đi lấy.
Quốc đoán là cái kerosene heater loại vuông, 7500 BTU, của mình
có thể dùng tạm như một cái lò nấu được vì có hai chỗ
thoát hơi nóng bên trên. Rất nóng, theo như Quốc biết.
Quốc chui vào nhà xe lôi nó ra, lau chùi sạch sẽ. Chàng
bảo vợ:
- Một bên em bắt ấm nước châm trà. Một bên em nấu
xoong nước luộc mấy cái hột vịt dầm nước mắm. Xong,
luộc thêm một mớ rau, đậu nữa là đủ bữa cho ngày hôm
nay. Khỏi phải thịt cá ê hề chi cho mất công. Kể như ăn
chay nằm đất một đêm vậy.
- Em sợ cái lò không đủ sức nóng.
Vợ Quốc vừa nói vừa đi lấy nước. Quốc phân trần:
- Bảo đảm đủ sức mà. Em cứ thử đi rồi biết.
Nhưng vợ chàng ngạc nhiên, la lên:
- Á, mà trong vòi có nước nóng anh ơi. Như vậy để
em lấy nước thiệt nóng rồi hãy bắt lên bếp.
Quốc định nói: "Nước nóng có sẵn trong bình dự trữ, một
lát nữa nó sẽ lạnh ngắt bây giờ, đừng có ham." Nhưng
chàng sực nhớ khu của chàng xài gas chớ không phải điện.
Bình nước nóng được nấu bằng gas là cái chắc. Chàng
mừng thầm:
- Vậy là còn hên cho lũ nhỏ. Còn lâu tụi nó mới chịu tắm
nước lạnh. Mùa này nước lạnh trong vòi còn lạnh như nước
đá. À, còn cái điện thoại nữa. Ðể anh thử coi nó còn
work không đây... Hê, còn chạy ngon lành nè. Chắc hãng
téléphone đang xài máy điện riêng.
Ðộ mười, mười lăm phút sau, ấm nước kêu siêu. Có lẽ
nhờ vợ Quốc lấy nước thiệt nóng trong vòi. Nhưng bên xoong
nước luộc hột vịt không thấy động tĩnh gì ráo trọi.
Sao kỳ vậy? Vợ chàng cũng lấy nước thiệt nóng trong vòi
kia mà! Nấu nước không sôi thì làm sao nấu cơm cho được.
Quốc lấy làm phân vân cho điều mình vừa nói như quả
quyết: "Bảo đảm đủ sức mà."
Vợ Quốc như đọc được ý nghĩ trong đầu chàng. Nàng
ngừng tay lặt đậu, ngước nhìn chàng thăm dò một chập,
cười cười:
- Anh không lấy nắp đậy xoong nước lại thì đến Tết
Congo nó mới chịu sôi.
Quốc làm theo lời vợ và không mấy chốc xoong nước bốc
khói, sôi bùng lên. Thiệt là một kinh nghiệm để đời
cho Quốc. Nếu không lâm vào hoàn cảnh bão bùng mưa gió
này thì không cách gì chàng biết được. Kể ra việc bếp
núc tạm thời kiểu Mỹ như vầy cũng sạch sẽ chán. Không
thua gì những bếp than hồng bên nhà, loại đốt bằng than
đước, than miểng gáo. Không đến nỗi đen nồi, lọ chảo
như Quốc tưởng.
Sau bữa cơm đạm bạc hai vợ chồng uống trà thức nói chuyện
đến khuya. Ðám nhỏ cũng vậy, mê chơi hơn mê ngủ, quây
quần bên bàn ăn để nghe chuyện. Vì không mấy khi gặp cảnh
tối lửa tắt đèn, phải thắp đèn cầy như đêm nay. Bày
trò chơi hà tiện, lũ nhỏ gỡ lớp sáp chảy xuống chân đèn
bỏ lại lên trên. Những cây tăm xỉa răng dùng làm cuốc xẽng
bị cháy xém một đầu. Cụt dần. Rồi bị thảy luôn vào
ngọn lửa. Mùi nhựa thông thơm thơm tỏa ra theo làn khói mỏng.
Quá khuya, vợ Quốc phải nhắc chừng nhiều lần...
đi ngủ,
đi ngủ đi
... lũ nhỏ mới chịu tan hàng. Ðến lượt hai
vợ chồng nhỏm dậy, cùng nhau thu dọn bãi chiến trường,
mọi thứ lỉnh kỉnh trước khi về phòng. Với niềm hi vọng
mong manh, Quốc nghĩ tới ngày mai sau cơn mưa trời lại sáng.
Ðiện sẽ được nối, và cuộc sống sẽ trở lại bình thường
như mọi ngày. Mọi ngày như một ngày buồn tẻ, nhạt nhẽo
của đời tỵ nạn. Vật chất đôi khi dư thừa, nhưng ngược
lại, tinh thần lắm khi trống rổng. Quốc bá vai hôn lên cổ
vợ, một người cùng cảnh ngộ. Chàng biết mình rồi
sẽ đi vào giấc ngủ đêm nay với nhiều nỗi bâng khuâng...
Sáng ngày, tiếng cưa máy thay cho tiếng chim hót vang rền
khắp mọi nơi đã đánh Quốc thức dậy sớm hơn chàng
dự tính. Sao bữa nay tụi Mỹ làm siêng dữ vậy cà? Tuy
hỏi vậy nhưng Quốc cũng thấy mặt trời đã lên rất cao
rồi, những mấy sào lận. Tại vì
tháng năm chưa nằm
thì sáng
đó thôi. Một vài tia nắng chói chang xuyên qua kẽ
hở của màn cửa sổ dọi xuống phòng, cắt một đường
dài trên thảm. Ngặt một nỗi, trời vẫn còn lạnh quá chừng
chừng. Ảnh hưởng của cơn bão kéo dài đến như thế này
sao? Vừa tốc mền ra chàng đã vội vàng muốn chui vô lại.
Nhưng biết không thể nằm nướng được nữa vì chàng sực
nhớ mình còn phải lo châm dầu cho cái lò sưởi còn để cháy
qua đêm ngoài nhà bếp, phòng ăn. Chàng với lấy chiếc áo
len mặc lên người, xỏ chân vào đôi giày hàm ếch đi vào
phòng tắm làm vệ sinh. Như thường lệ, chàng bật công
tắc. Oh no, điện vẫn còn cúp? Ðiệu này chắc nguyên cả
thành phố bị mất điện! Vợ chàng cũng vừa tỉnh giấc,
trở mình. Nàng ngồi dậy, ngước đầu cuốn lại mớ tóc
lòa xòa phía trước ra sau gáy.
Lúc trở ra kitchen, vừa bước qua cửa, Quốc khựng lại.
Chàng không dám bước thêm bước nữa, lõ mắt nhìn xuống
chân mình, rất đỗi ngạc nhiên: nước. Thôi rồi, hai cái
tủ lạnh và tủ đá đã bị ông nhà đèn ra lịnh, bắt buộc
phải tự động xả đá trong đêm. Nước chảy ra tràn lan
khắp sàn nhà. May là khu này được trải bằng lớp gạch
nhựa, vinyl, loại nguyên miếng lớn chớ không phải ráp từng
miếng nhỏ, nên nước không chảy thoát đi đâu hết. Không
thấm vào sàn cây. Kể cũng hên. Cây kim dầu của cái lò
sưởi đang chỉ mức một phần tư. Kể cũng đúng lúc. Công
việc nào ưu tiên? Lau nước trước rồi bơm thêm dầu sau
vậy. Nhưng trước tiên chàng phải đi tìm đôi giày lội
tuyết, snow boots. Nước thắm vào giày lạnh như nước
đá. Chàng dợm chân nhảy tháo trở lại. Gặp lúc vợ chàng
cũng vừa đi tới. Nàng hỏi:
- Sao dữ vầy nè?
Quốc cười khang:
- Chớ trái tim của nó ngừng đập cả đêm mà em. Tội
nghiệp trái tim của nó còn thương mình nên mới rỉ ra ba cái
nước lã thôi, chớ phải rỉ ra máu là mình mệt đó. Bây
giờ thế này, hay là em đi lựa cho anh một mớ quần áo cũ
đi, để anh làm nùi lau. Mớ vải vụn, khăn khiếu ở trong
thùng nùi giẻ anh đã xài cho ba cái vụ sửa xe hết rồi.
- Chắc ba cái thịt cá ở trong tủ lạnh hư hết.
- Kệ nó, không sao đâu. Ăn được thì ăn, ăn không
được thì vứt bỏ. Bề gì tụi nhà đèn hoặc tụi bảo hiểm
nhà cửa cũng sẽ bồi hoàn tiền hư hao tổn thất cho mình mà.
- Ối, có đáng giá bao nhiêu đâu mà bắt người ta phải
bồi thường.
- Tại nó ghi trong sách vở, contract như vậy. Mình không
khai tụi nó buồn.
Trong khi Quốc đi lục mấy đôi giày lội tuyết, vợ chàng
tìm bưng ra một thùng đồ nửa sạt, đồ dùng để mặc ở
nhà mà nàng đã lựa sẵn từ lâu. Hai vợ chồng tra móng
cao su vào, lui cui thanh toán bãi trận địa ướt át, chèm
nhẹp. Thấm nước vào giẻ lau, rồi vắt ráo vô thau. Từng
chút một, làm đi làm lại nhiều lần. Bây giờ phải tập
ngồi chồm hỗm. Lâu ngày như quên đi cái thói "thấp hèn"
của mình (bọn Mỹ không ngồi kiểu này được mới là kỳ).
Ngồi một chút mà đã thấy mỏi, thấy thốn. Bây giờ
thử tưởng tượng có dịp nào nằm lại giường gỗ, chõng
tre, chắc hẳn là đau thương cho cái lưng dữ lắm. Nằm
nệm lò xo, nệm mút quen rồi. Thân xác con người ấy vậy
mà cũng dễ dàng đổi thay.
Quốc không quên cái lò sưởi. Chàng vừa bơm thêm dầu
vừa dặn vợ:
- Khi nào em muốn nấu nướng gì thì cứ vặn cái tim cao
lên nghen. Anh định chạy quanh chòm xóm một vòng coi tình hình
ra sao. Lũ nhỏ cứ để tụi nó ngủ đến khi nào tụi nó muốn
thức thì thức. À, hay là em nấu cho cha con anh một nồi
cháo trắng đi. Không có hột vịt muối thì mình chiên "ham"
ăn tạm cũng ngon vậy.
- Chớ anh không chờ em đi chung với anh sao.
- Ối, một mình anh đi cũng được mà. Ðể anh đi
cho lẹ rồi về anh kể lại em nghe. Thôi anh đi nghen.
Bước chân ra khỏi cửa, Quốc không khỏi giựt mình trước
cảnh tượng ngổn ngang, lạ mắt. Ngoài cây sồi tróc gốc
trước sân như chàng đã nhận dạng lờ mờ trong đêm, đâu
đâu cũng thấy những thân cây gục ngả, gãy ngang. Trên mái
nhà ông láng giềng đối diện, một nửa thân trên của một
cây thông to lớn, không biết từ đâu bay đến, nằm nguyên
con gọn lỏn ngay giữa nóc. Cây đòn dông khuỵu xuống làm thành
một lỗ hổng lớn. Nhà phía bên trái của Quốc còn hên, chỉ
bị mỗi một cây sweet gum, cây kẹo ngọt, tróc gốc dựa mình
lên mái hiên trước. Máng xối nhôm bị bứt ngang, thòng xuống
đụng đất. Ðỡ một điều là hắn khỏi phải lo cái vụ nước
trút vô nhà như ông kia. Còn ông chủ nhà phía bên phải thì
chắc có kinh nghiệm về giông bão từ đời kiếp trước nên
trồng toàn cây nhỏ trước sân. Bởi vậy chuyến này hắn
tỉnh bơ, không hề hấn gì cả. Nhìn xa hơn, Quốc thấy hình
như hai bên đường hễ có một nhà không thì đến một nhà
có tì vết, xen kẽ nhau cái hỉ hê, cái bầm dập. Ðặc biệt
một điểm là khắp mặt đất như được trải lên một lớp
lá mùa Thu... còn xanh biếc. Quốc đưa tay vẫy vẫy mấy ông
bà bạn láng giềng, ông Smith, thằng Craig và ông bà Moon. Hình
như tất cả mọi người xung quanh ai ai cũng túa ra đường làm
việc. Tiếng máy cưa cầm tay, loại máy xăng chạy xích, nổ
đều trời, lúc xa lúc gần.
Quốc lấy xe chạy vòng vòng. Mặt đường được trát hoa lá
cành trông như một mặt thảm màu xanh. Còn ẩm ướt vì nước
mưa đêm qua đọng lại. Nhưng, chỉ năm ba block khuất qua ngã
quẹo thì Quốc bị bít lối đi. Một thân cây to nằm sóng soài
từ bên này vắt qua bên kia đường, chưa ai thanh toán. Chắc
phải cần một cái cưa thiệt lớn. Quốc de xe lại và rẽ sang
ngã khác. Ðược một đỗi, Quốc gặp người bạn Mỹ làm
chung sở. Hắn đang cưa củi cái cây maple, cây phong, vẫn
thường đứng sừng sững trước nhà của hắn từ bao năm
qua. Hắn vui vẻ phát biểu:
- Ðỡ cho tao quá, nó biết lựa chỗ trống mà nằm xuống
cho êm thắm. Tụi mày đằng đó ra sao?
- Cũng giống như mầy thôi. Ở phía trước, tao có một
cây oak (sồi) nằm dài theo sân. Còn ở phía sau, đâu bốn
năm cây white pines (bạch dương) gì đó ngả rạp qua bìa rừng.
Thiệt là hên. Thôi, để cho mầy tiếp tục làm việc đi,
tao đánh một vòng cái đã.
Quốc đạp ga, vọt tới. Tiếng máy cưa của thằng bạn lại
nổ dòn tan như muốn đuổi theo phía sau. Chàng rẽ xuống
sườn đồi. Khoảng này gió từ trên thổi xuống, cây cối
gãy rạp một chiều. Thỉnh thoảng có một vài cây lớn tróc
gốc, đưa nguyên cái bàn tọa dính đầy đất đỏ về phía
Quốc, bự tổ chảng như nửa mảnh mặt trời vừa mới mọc.
Dám chắc những cây to này đã sống lâu trên một thế kỷ.
Thế mà trong phút chốc bỗng rùng mình, xuôi tay. Sự nghiệp
trăm năm của một đời dày công xây dựng đành tiêu tan.
Dây điện nữa, bị cây lẫn cành đè đứt sạch trơn, nằm
lăn lóc ngổn ngang trăm mối. Quốc tự hỏi có nên cho xe chạy
lên dây điện không đây? Nó giựt một phát là rồi đời,
điện cao thế mà! Cái điệu này ông nhà đèn sửa biết
đến bao giờ mới xong? Quốc phải lộn về nhà "báo động"
cho vợ chàng hay!
- Cây cối ngoài đường ngả lạng đã chi khê, em ơi. Mấy
cột điện không biết đi cũng bị giựt ngả dài dài, chắc
là còn lâu mình mới có điện trở lại.
- Có nghe ai chết hay bị thương gì hôn?
- Hình như không, không nghe ai nói gì hết. Nhưng phải
liệu đi mua gấp mấy cái đèn dầu lửa má mầy ơi. Ba
cây đèn cầy của mình không thể nào "trường kỳ kháng chiến"
với cúp điện dài hạn được. Anh nghĩ phải nhanh lên, chậm
chân là hết đó.
- Nếu có bão như vầy ở bên nhà chắc là vui. Chòm xóm
láng giềng được dịp sống gần nhau hơn, thương mến nhau
hơn. Cùng chia xẻ những nỗi đoạn trường. Bên này có quen
thân cho lắm rồi cũng qua đường, nhà ai nấy ở.
- Ý, đừng có tưởng bậy. Chuyện sập nhà đứt điện
mà vui sao được?
Quốc tả oán với vợ thêm một vài câu nữa rồi mới hối
hả lên đường. Rời vùng dân cư băng qua khu thị tứ. Tình
hình bên này cũng không khá gì hơn. Nguyên một khu thương
xá trong đó có tiệm bán thực phẩm hiệu con sư tử, Food
Lions, không còn cái nóc để che mưa nắng. Chỉ còn cái sườn
cây trơ trọi không khác gì bộ xương cách trí của con khủng
long. Ðám nhân viên của hãng đang mang đồ đông lạnh chất
vào thùng xe hàng, loại có máy điều hòa không khí cho khỏi
tan nước đá. Xa hơn một chút, cây ăn-ten của một đài
radio hát nhạc rock and roll đã ngả ngang, nằm vắt qua văn
phòng đài, qua cây cối, lùm bụi. Trông như cái xương cá
khổng lồ.
Những dụng cụ cần thiết như đèn măng-sông, đèn dầu lửa,
rề-sô nấu bếp, cưa máy, v.v. đều bị bán tất, sold out,
trong nháy mắt. Mới đó mà không tiệm nào còn. Bộ tụi này
định đầu cơ tích trữ, để vài ngày nữa đem ra bán giá
chợ đen, bán noir hay sao? Quốc không nghĩ như vậy. Với
tình thế này ai cũng cần ai cũng mua. Vả lại ở đây không có
bọn ba tàu. Thiệt là xui cho những ai vừa mới đến, thấy
món hàng cuối cùng cũng vừa trao tay cho ông khách tới trước
hơn mình một bước.
Ði vòng vo năm ba tiệm mà Quốc không mua được cái mình
muốn mua: đèn dầu lửa. Thôi thì phải tìm thứ khác. Rồi
tính chuyện ăn chắc mặc bền, Quốc mua mấy cái sô thiếc
chứa đầy sáp thay cho những cây đèn cầy thông thường loại
cầm tay. Mấy cái sô này có cái quay xách bằng kẽm hình
vòng cung cũng tiện cho việc xách tới xách lui. Vậy là chàng
có được loại vũ khí mới để trường kỳ kháng chiến với
bóng đêm...
Xế chiều ngày hôm đó, trời kéo mây đen trở lại. Chút
nắng vất vưởng sau cơn mưa, cơn bão rớt, đã vụt tan biến
hồi nào không hay. Nhường chỗ cho âm u, lạnh lẽo. Hàn thử
biểu vẫn giữ ở mức độ dưới 50 độ F một cách kỳ lạ.
Một màn sương mỏng thay cho khói cơm chiều tỏa ra trong không
gian, quyện lấy khung trời tĩnh mịch. Xóm làng bỗng trở
nên hoang vắng như một bãi tha ma. Vì hình như chỉ còn lại
mỗi một gia đình Quốc nơi đây. Tất cả bọn Mỹ như đã
kéo nhau di tản về những nơi khác, những vùng có điện. Về
nội hay về ngoại cũng không biết chừng. Quốc cảm thấy
thân phận mình lẻ loi, cô đơn hơn bao giờ hết. Chàng nào
còn đâu nội ngoại để về. Ðể viếng thăm trong những khi
rỗi rảnh hay để tá túc trong những khi hoạn nạn. Nội ngoại
của chàng giờ ở xa lắm, mút tận bên kia bờ đại dương.
Cái cơn bão ngoài đời dẫu có chợt đến rồi cũng chợt
đi, nhưng những cơn bão trong lòng Quốc thì hình như mãi mãi
không bao giờ tắt lịm. Ngày nào còn Cộng sản ngự trị trên
miền đất nước thân yêu thì ngày về lại cố hương, tìm
gặp những người thân thương của Quốc như mãi mãi còn xa.
- Nè, đi tắm hết đi mấy con, để lát nữa tối hù
không thấy đường đi bây giờ.
Quốc nghe vợ chàng giục lũ nhỏ như vậy. Chàng chợt thấy
ngay trước mắt mình lu nước mát sau hè. Và đất trời nhá
nhem tối. Chàng phải vâng lời mẹ vội chạy đi tắm cho kịp
bóng đêm đang tràn tới. Hình như cái lối sống vô vi, thuận
theo đất trời, không cần phải đẻ thêm việc để làm của
một dân tộc hiền hòa vẫn còn lẩn quẩn đâu đó trong tâm
tư Quốc. Một người dân buộc lòng phải bỏ nước ra đi
trong đau đớn, ngậm ngùi. Như những trăm ngàn người dân
vô tội khác. Trong lòng Quốc bỗng dâng lên một nỗi buồn
riêng. Bâng khuâng khó tả. Chàng ngửa mặt thì thầm trong
bóng đêm:
- Ôi, không có cảnh biệt ly nhưng sao mà buồn vậy!
back to top
02. ÐƯA DĨ VÃNG VÀO LÃNG QUÊN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Cuốn catalog bán đồ quân đội, cuốn Brigade Quartermaster,
bất ngờ đến tay Gia. Nó tự động chui vào thùng thư mà
không cần đợi ai mời mọc. Lật bìa sau, tên người nhận
rõ ràng là tên của một người Mỹ, James J. Osborn, xa lạ nào
đó. Có lẽ hắn là một trong những người đã có lần cư
ngụ ở căn nhà này trước đây. Nhưng chẳng hề gì, có
hàng chữ rất là thông thường đi kèm theo,
or resident
of...
thay cho tên chàng, Trương Kỳ Gia. Trương Kỳ
Gia? Một cái tên, rất tiếc, hãng quảng cáo chưa hề quen
biết tới. Một tên tị nạn.
Thôi cũng được, trước lạ sau quen. Bề gì chàng cũng là
dân cựu lính, lính tàu. Hay nói nôm na ra là dân gõ sét,
bao năm gõ sét đau lòng lính
. Hoặc chín chắn hơn là
lớp thủy quân. Loại thủy quân chính tông, không hề có
lục chiến. Bởi vậy, hơn nửa cái gọi là đời lính của
chàng đã được kết hợp bằng những cuộc hải hành dài
người, có gió lộng biển khơi, có trùng trùng sóng nước.
Nhưng, có một điều ít ai biết là mặc dù giữa cái gió
lộng biển khơi, trùng trùng sóng nước đó thủy quân ta vẫn
hay trình diễn màn
show time
của mình: chạy rùa, gõ sét,
sơn tàu. Một màn hát, tuyệt nhiên, không có tiếng vỗ
tay hoan hô từ phía khán thính giả.
Công tác này, theo Gia nghĩ, thực ra cũng không phải là một
cực hình gì hết. Mà lắm khi đó là một công tác rất cần
thiết cho bọn đồ đệ của Long Vương. Có dịp được cử
động những bắp thịt dễ xuôi chiều trở nên làm biếng.
Trong những ngày tuần dương, lênh đênh quanh quẩn trên con
tàu, không có chuyện gì làm ngoài việc đi ca. Dãn gân dãn
cốt. Hít thở cái không khí trong lành ngoài trời thay vì cái
không khí dơ bẩn trong cabin. Có nắng mai rơi trên biển thay
cho... rơi trong vườn nhà em. Có hải âu thay cho chim chóc. Có
sóng gợn lăn tăn thay cho mặt nước hồ thu.
Ðẹp? Quả thật, đẹp! Ðẹp vì lòng người bỗng nhiên hân
hoan chìm đắm trong nỗi niềm thanh bình an lạc. Ðẹp vì, thứ
đến, cảnh gió êm sóng lặn là chuyện đương nhiên. Ðâu
có khi nào hạm trưởng nhà ta lại bắt thủy thủ đoàn của mình
chạy rùa, gõ sét, sơn tàu..., nói chung là làm công tác
bảo trì, trong những cơn giông gió bão bùng đâu? Gia bỗng
nhớ cái nghiệp gia bảo của mình nay như đã thất truyền cho
hàng con cháu. Nhớ, như ông thợ mộc nhớ cái bào. Nhớ,
như mẹ nhớ con. Nhất là lồng trong đó biết bao tình đồng
ngũ, tình huynh đệ chi binh, keo sơn gắn bó!
Gia lật qua những trang trong xem có những thứ gì bày bán trong
đó. Ôi thôi, đủ hết. Từ cái gà-mèn thật tiện dụng
cho đến cái xẻng đào hố cá nhân. Từ đôi giày bốt-đờ-sô
cho đến cái nón sắt. Từ tấm poncho trùm đầu cho đến cái
ba-lô vác vai, từ những huy hiệu nhỏ (insignia) cho đến những
phù hiệu lớn (patches). Bảng tên (nameplate), thẻ bài kim khí
(dog tag) nữa... Và nhất là có tất cả các loại huy chương
cuốn, huy chương thòng có hình lá cờ màu vàng ba sọc đỏ.
Mặc dù chỉ là hình in trên giấy, những vật dụng cần thiết
dành cho đời lính này đã gợi lại cho Gia biết bao nhiêu kỷ
niệm thân thương.
Ðừng quên anh là lính... chiến. Bốn
phương là nhà. Ðường xa nhưng mà vui... Sống với nắng
gió tuyết sương, mà lòng anh không hề thấy chán... đời hải
hồ
. Ôi, cái đời hải hồ sao mà nó thơ mộng làm sao! Gia
đưa ngón tay mân mê, sờ mó bộ quân phục màu xanh nước
biển, cái dợt cái đậm, và cái nón bánh tiêu, cái polo
màu trắng, của mình. Trong cảm giác lâng lâng bồi hồi xúc
động.
Lật tiếp những trang kế và Gia bỗng khựng lại, bất chợt
reo vui:
- A, cái võng!
Ðúng vậy, Gia không khỏi giựt mình khi nhìn thấy những cái
võng. Ðủ kiểu, đủ cỡ. Loại mắt cáo, loại vải dù.
Loại chỉ sợi, loại dây nylon. Có lẽ ai cũng cho rằng lính
tàu không thương cái võng bằng những người lính bộ binh.
Những người mệnh danh là những tay trấn thủ lưu đồn, băng
rừng vượt núi, và thường hay dừng chân đóng quân nơi
ruộng vườn thôn dã. Thiệt, ít người chịu hiểu như Gia,
là người lính tàu xưa nay rất quý chuộng cái võng, bởi vì
con tàu, con tàu... chính ra là một cái võng. Một cái
võng... lật ngược.
Bởi cái lật ngược đó mà cái võng của người đi biển lắm
lúc hành tội những người nằm võng. Mặc dù thủy thủ ta
lúc nào cũng đầy đủ nệm ấm chăn êm, và mặc dù thủy thủ
ta cũng đã quen dần với cảnh lắc lư con tàu đi, nhưng với
một số thủy quân không mấy nhà nghề, như Gia đây chẳng
hạn, vẫn luôn luôn chới với, nếu có "ai đó" cắc cớ lỡ
đua võng quá mạnh. Làm cho Gia ói mữa đến mật xanh mật
vàng. Và phải nói, phải có ói mữa đến mật xanh mật vàng
thì mới biết người lính tàu quý chuộng cái võng lật xuôi
đến mức độ nào. Nói cho ngay, cái võng lật xuôi thật ra
đã cho Gia nhiều hơn nữa: nào là tình gia đình, nào là tình
vợ chồng, nào là tình phụ tử, v.v. Những cái tình ấm
cúng đó hình như đã lần lần hơi khó kiếm ở xứ người,
Gia nghĩ.
Chàng cuộn tròn tờ báo dấu sau đít và réo vợ:
- Em ơi, ra đây anh chỉ cho cái này hay lắm.
Ðợi vợ từ trong buồng đi ra, mon men đến gần, chàng bỗng
ra điều kiện:
- Em nhắm mắt lại đi. Anh sẽ tặng em một món quà quý giá
nhất trần gian.
Vợ chàng nghi ngờ:
- Xí, gì mà dữ vậy!
Tuy nhiên, nàng vẫn làm theo lời Gia nói. Chàng dặn thêm:
- Bao giờ anh kêu em mở mắt thì em mới mở nghen. Ðừng có
ăn gian, nhắm kín lại.
Chàng mở tung trang báo chìa ra trước mặt vợ, la lên:
- Mở mắt đi. Anh tặng em món này!
- Cái võng?
- Ừa, cái võng nhà binh. Em có thấy cái võng bằng vải dù
màu xanh lá cây này giống giống cái võng hồi xưa mình xài
ở Năm Căn không? Em có nhớ lúc mình di chuyển về Ðồng
Tâm anh gửi nó lại cho thằng Sơn Nhái không?
Dạo đó Gia đã rời hạm đội, đổi về bờ. Giang đoàn 71
Thủy Bộ. Lần này chàng không còn phải theo tàu hay theo chiến
đĩnh nữa. Mà nằm lại hậu cứ, giữ một chân trong ban tiếp
liệu. Chàng thích được như vậy vì chàng mới cưới vợ.
Thiệt tình mà nói, mấy tên có vợ và nhất là mấy tên vừa
mới lỡ bước sang ngang, không tên nào muốn nếm mùi
bước
chân xuống... tàu nước mắt như mưa
hết. Thân nổi trôi
bềnh bồng sóng nước mà cộng thêm cái để vợ con ở lại
trên bờ, phải nói là nguy hiểm lắm chớ. Không một thủy
thủ nào chịu lâm vào cảnh
nuôi con hàng xóm
, phải
hiểu như vậy. Bài học này đã thuộc nằm lòng. Thà là
để
hàng xóm nuôi con mình
như lời thầy đã dặn.
Lúc đổi về Năm Căn, may phước, Gia có được một căn nhà
nhỏ trong khu gia binh. Do một anh bạn thân cùng khóa để lại.
Một trong những cái hộp xây bằng gạch block, lợp mái tôn
thì đúng hơn. Phòng khách của hai vợ chồng chàng không có
bàn ghế gì ráo trọi mà độc nhất chỉ có mỗi một cái võng.
Cái võng đó rất là đa dụng. Có khi làm bàn ăn, mỗi đầu
mỗi đứa bưng một tô. Có khi làm giường ngủ, hai đứa nằm
đâu đít lại như trẻ đưa em. Có khi làm sân khấu, nhạc sĩ
nằm đàn cho thính giả ngồi nghe. Có khi làm bàn pinic và Gia
nhớ nhất là những lần ăn bưởi. Vợ chàng hay bóc vỏ,
gỡ từng múi bưởi trong trong thơm mát đút cho chàng. Hương
vị Thanh trà đắt tiền chở xuống từ Biên Hòa. Những giây
phút của thời mới cưới sao mà thần tiên!
Có lẽ chính vì những giây phút thần tiên đó mà sang đây
vợ chàng cứ hay nhắc chàng mua cho nàng cái võng. Nhưng Gia
vẫn còn phân vân. Ở bên nhà, nếu không có giá võng thì
cũng có thể buộc chéo vào hai góc cột. Ôi, những cái
võng ở bên nhà! Những cái võng đánh bằng dây chuối, dây
lạt dừa, chỉ sợi, hay hoặc giả bằng cái bao bố tời, nằm
đến lên nước, êm êm với muôn vàn kỷ niệm. Ôi, những
bài hát đưa em chân tình mộc mạc ở đâu bỗng vọng về,
ví dầu mà cầu ván thì đóng đinh, cầu tre mà lắc lẻo
thì gập ghình khó đi
. Và những câu hò ru con đầy dịu
hiền, thương yêu của mẹ,
hò ơ, con ơi đừng khóc mà
mẹ rầu, chớ mà, bữa mai bữa mốt thì ghe bầu tới nơi
.
Còn bên này, muốn mắc võng thì mắc vào đâu? Liệu cái
sườn nhà bằng cây thông mềm xùi này có chịu nổi một cái
móc võng làm bằng cây đinh hai tấc? Hay là mới nằm lên thì
bị tuột móc, té trẹo bảng họng? Vả lại Gia cũng không biết
tìm mua cái võng ở xứ nào nữa! Bây giờ sẵn dịp có tờ
báo này chàng sẽ gửi order mua cái võng trước, việc giăng
võng sẽ từ từ tính sau.
Nhưng vợ chàng than phiền:
- Hình như bề ngang cái võng này coi bộ nhỏ quá. Không đủ
đâu vào đâu hết!
Gia mỉm cười. Vợ chàng nói câu này chắc có... ngụ ý gì
đây? Gia sực nhớ cái võng mà chàng để lại cho thằng Sơn
Nhái rất rộng. Rộng đến nổi hai vợ chồng Gia vẫn
thường nằm quay đầu về một phía, ôm nhau ngủ. Và chắc
nữa, bao nhiêu lần chàng trổi dậy đóng cửa sổ để hai
đứa hè nhau làm tình giữa ban ngày ban mặt mà nào đã đứt
đâu. Cái lưng cong vòng, nhún nhẩy bực bực trên ấy mà
chẳng hề hấn gì. Thì ra cái võng quả tình đã đa dụng hơn
chàng tưởng. Ðó là chưa nói đến những cái võng võng
người thương binh nơi chiến trận. Ðó là chưa nói đến
những cái võng võng đàn bà đẻ đi thăm bà mụ. Ðó là chưa
nói đến những cái võng
võng anh đi trước võng nàng theo
sau
... Nhưng đối với Gia, cái võng mà lần đó chàng đã
mua ở chợ Cồn, chợ trời ngoài Ðà Nẵng, quả là một cái
võng có một không hai. Không cách gì tìm lại được. Ôi,
cái võng đã lên nước, bay mùi mà chàng đã tặng cho thằng
Sơn Nhái!
Gia đưa ra một vài con số:
- Bề ngang 2 feet 8 inches, vị chi là 32 inches, bằng bề ngang
cái cửa sổ nhỏ này thì kể ra cũng hơi hẹp thiệt. Chỉ vừa
đủ cho mỗi một người. Hay là mình mua hai cái rồi về mình
nối lại!
Vợ chàng nói phân hai:
- Cũng được. Chỉ sợ chỉ may của mình không chắc bằng của
nó. Thôi, cứ mua một cái về xem thử rộng hẹp ra sao đã,
rồi hãy tính...
* * *
Khi ba nước tranh... ơ... ơ... cường
...
Mùi ơi là mùi, tận mạng mùi. Nhưng, có lẽ cái mùi tận
mạng này chỉ đến với mỗi một mình Gia thôi, người đã
từng biết qua thế nào là cổ nhạc. Nhịp tám Sáu Lầu mà,
đâu phải nhịp ba mươi hai hay nhịp sáu mươi tư đâu mà nhiều
lời lắm lẽ. Cũng chẳng cần phải nói lối dong dong dài dài
hay làm một hơi tràng giang đại hải như... vọng cổ hoài lang,
rồi mới chịu xuống cái hò. Với nhịp tám này tuy cái hò
xuống có hơi ngang xương một chút, nhưng nếu ai chịu khó
hiểu nó thì mới biết thế nào là... thấm đòn.
Nói nào ngay, là một tay đờn kìm trứ danh, vang bóng một
thời ở miệt Năm Căn, cho nên Gia rất am tường điều đó.
Hiển nhiên ai cũng biết cây đờn kìm là cây đờn chính của
ban cổ nhạc và người thủ đờn kìm thường hay thủ luôn cái
xông-lang. Mặc dù đã từng nhịp xông-lang "chóc chóc" cho
không biết bao buổi đờn ca, đình đám trong xóm dân chài
nước mặn, nhưng chủ yếu không phải tại vì Gia nắm cây
đờn kìm mà chính ra là ngón đờn điêu luyện của Gia kia.
Phải, Gia rất ít khi đờn cái ngón thông thường "hò ba" như
mọi người. Ðánh đờn kìm phải khảy "hò năm," và phải là
"hò năm của ông Ba Sa Ðéc sáng chế ra" kìa thì nghe mới đã.
Thì các bậc cao minh có phê bình nên tứ đại kỳ thơ,
ơ..., ơ...
Gia thả chân xuống nệm, ngoéo vào người, khều, đẩy cái
võng đong đưa. Tiếng ơ..., ơ... như còn đang vang đi vọng
lại từ bốn bức vách. Ôi, có gì sướng cho bằng cái thú
nằm võng đưa con. Không riêng gì những người làm mẹ mà
luôn cả cho những kẻ làm cha. Ðã từng ru con ngủ như vầy
ở Việt Nam cho những đứa lớn thì Gia tự nghĩ, chàng cũng
không nên thiếu sót bổn phận với đứa con... có thể là út
của mình, vừa mới thôi nôi, sanh sau đẻ muộn ở bên
này. Bây giờ phòng nào trong nhà Gia cũng đều có móc giăng
võng hết. Phòng khách, phòng ăn, phòng chơi (play room),
phòng gia đình (den), và chính ngay đây, phòng ngủ, cũng có
cái võng thả là xà bên trên mặt nệm. Chàng lần tay trở
thằng nhóc cho nó nằm sấp nguyên con lên ngực mình.
Khổng Minh kỳ trí, Tào Tháo kỳ mưu, Lữ Bố kỳ tài, còn
Quan Công thì kỳ... trung nghĩa, ơ..., ơ... Gẫm lẫm liệt
như Quan Vân Trường, tài cắt đầu thượng tướng như lấy
đồ trong túi, thì oai danh ngài... như sấm chớp bão bùng...
Chẳng hiểu vì lý do gì mà trong bao nhiêu năm qua, Gia vẫn
thường khoái ca có mỗi bài hát này. Rõ ràng, chẳng có
gì lãng bạc giang hồ, non thề biển hẹn, hay em ơi em hởi gì
hết trơn. Thiệt chẳng có gì lâm ly, ai oán. Nhưng, à,
phải chăng đó là những gì còn sót lại của một thời mới
lớn, thời bể tiếng của Gia? Ôi, phải rồi, cái thuở mà
chàng chỉ biết mê đờn chớ chưa biết mê gái! Chàng mỉm
cười với chính mình. Hồi đó sao mà ngượng miệng quá
chừng mỗi khi cất tiếng ca: "... em Lan ơi làm sao mà em nỡ
đọa... đày." Trời đất thánh thần ma quỉ ơi, sao nó mắc
cở cái gì đâu. Em ơi em hởi cái nỗi gì với thằng con
nít đẻn. Thì ca cho có bài bản vậy thôi chớ nào có mảy may
rúng động tâm cang. Bởi thế Gia vẫn khoái tập hát các
tuồng Phong Thần, Tam Quốc chí diễn nghĩa.
Cho đến khi có hội dương đao thì một mình ông bảo
vệ Lưu sứ quân, lướt dọc về ngang, để tiếng anh hùng
rền rỉ khắp giang san, ợ..., ơ..., ơ...
Trong giấc ngủ nằm nôi của đám con Gia, gái cũng như trai,
hình như không đứa nào không nghe đến hội "dương đao lập
oai" của các anh hùng thời chiến quốc. Thiệt tình chàng
không mong gì bọn nó sẽ trở thành một trong những trang "đại
kỳ thơ." Trong thâm tâm Gia, chàng chỉ mong rằng đám con chàng
khi lớn lên cũng nên biết qua, và nếu có thể được, giữ
lại chút ít đạo lý của thánh hiền mà chàng biết chắc đã
trở nên rất lỗi thời cho cái xứ văn minh tột đỉnh này.
Gia ngoéo chân đạp võng lần nữa. Tiếng móc sắt bị khô mỡ
bò kêu lên kẽo kít.
Nhưng đời của kẻ làm tướng thì đến giờ phút cuối cùng
cũng phải tử qui đao kiếm. Bởi thế cho nên khi ông xuất
chinh thì có lệnh của Khổng Minh khuyên ông mau hãy đình
binh, ơ..., ơ...
Ðời làm tướng ngày xưa thì vậy, giờ phút cuối cùng cũng
phải tử qui đao kiếm, còn đời làm tướng đời nay thì sao
đây? Có thiệt phải đời làm tướng đời nay thì phải tử
vong nơi chiến trận, lấy thiết giáp bọc thây? Hay là tham
sống sợ chết, nã súng lên đầu hàng binh mà chạy thoát
thân? Câu chuyện này phải chăng cũng đã được nhiều người
nói đến? Riêng thân phận lính tàu gõ sét như Gia vì chưa
một lần làm tướng nên chàng chưa biết!
Nhưng ông nói rằng: Ðấng anh hùng sanh ký tử qui, ai lại
đi húy tử tham sanh mà làm cho mất cái nhuệ khí của hùng
anh, ơ..., ơ...
Ðó đó, cái loại tướng húy tử tham sanh đó Gia đã thấy
nhan nhãn ở thời buổi cận kim này. Ôi, những thiên tướng,
địa tướng, nhân tướng, uy tướng, dũng tướng của ngày
xưa đâu có dễ gì tìm gặp nữa. Nhất là ở hải ngoại ngày
hôm nay, thiếu gì tướng múa gậy vườn hoang, thì thử hỏi
có ai lại muốn phí công tốn sức đi kiếm tướng tàn, chưa
đánh đã chạy, để "dương ba tấc lưỡi lập oai" đây chớ?
Thấy ông cương quyết ra đi thì Khổng Minh có dặn rằng:
Ngài ơi, nếu có đi thì đi đại lộ phải về tiểu lộ,
chớ có đơn sai mà lâm lụy uổng mình...
Gia chẳng màng phải suy ngẫm thêm điều gì nữa hết, cứ
dở giọng hùng hổ như gằn từng tiếng một, ca tiếp:
Nhưng ông lại nghĩ rằng: Ðấng anh hùng ta phải đi ngay
về thẳng, sanh vi tướng thác vi thần...
Ý cha, cái điểm sanh vi tướng thác vi thần này nghe coi
bộ nó mới thiêng liêng cao quý làm sao. Cũng chính vì cái
trung dũng, nghĩa khí đó mà người đời thờ Quan Công chớ
mấy ai thờ Lưu Bị. Quan Công hiển thánh Huê dung
đạo... Thình lình, mắt Gia bỗng hoa lên với cảnh vó câu.
Rập rình chiến mã, gươm đao. Bất giác, chàng không còn
nhớ gì nữa, lắp bắp hát luôn câu kết, như cố tình
muốn đưa cái dĩ vãng không mấy vàng son của thời đại mình,
thật nhanh chóng, vào lãng quên:
Rồi đành cam thọ tử vì mắc kế của Lữ Mông...
back to top
03. LÒNG THƯƠNG NGƯỜI CỦA TÊN ÐỒ TỂ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Hưng, tên thật Nguyễn Phước Hưng, thuộc dòng dõi Nguyễn
Phước tộc, nhưng sinh ra và lớn lên tại vùng Nha Trang, quê
quán ở Thành.
Tại sao không là cái gì khác, mà là Thành? Thành, quê hương
của Hưng, có phải chăng là cái gì còn sót lại của một thành
quách cổ xưa? Một bức tường hay một nền móng xây cất
cùng thời với Tháp Chàm, Tháp Bà rải rác ở miền
Trung? Nhưng lạ một điều là quê hương Nha Trang, nói rộng
hơn một chút, không đọng lại trong tâm trí Hưng bằng những
hình ảnh nổi tiếng, được nhiều người nhắc tới. Như
cầu Xóm Bóng, hòn Chồng, bãi biển Nha Trang, hay ở đầu kia,
Cầu Ðá, Hải Học Viện... Mà chỉ là dòng sông nhỏ bé uốn
quanh Thành và món bánh tráng dẽo (giống như bánh phòng mềm
trong Nam) cuộn tròn chấm nước mắm tỏi ớt thiệt cay. Bãi
cát vàng hai bên bờ sông và những cồn cát trắng giữa dòng
tự động nổi lên, phơi bày thân xác trong mùa nước cạn.
Hưng nhớ hoài những trò chơi hấp dẫn của một thời mới
lớn diễn ra trên đó. Và đời sống dung dị hiền hòa, cũng
trên vùng đất đó, của những con còng xanh đỏ và những con
dã tràng xe cát biển Ðông
xám ngắt một màu.
Cái địa danh Thành mới nghe qua hơi chõi tai một chút vì có
mỗi một chữ. Thông thường tên làng xã hay quận tỉnh
lỵ đều là tiếng đôi. Như Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn,
Gia Ðịnh trong câu sấm quái gỡ
Hà Nội Hải Phòng sa biển
mạc, Sài Gòn Gia Ðịnh nát như tương
chẳng hạn. Hoặc là
tiếng ba như Gò Dầu Hạ, Giồng Ông Tố, Bình Phục Nhứt,
Tân Niên Ðông, Hóc Bà Tó... đều dễ nghe có phải? Nhưng,
cũng với mỗi một chữ, ấy vậy mà
ai ra xứ Huế thì
ra
thì lại nghe êm tai hơn mới chết. Rồi hoặc giả
ai
muốn vào Vinh thì vào
cũng chẳng thấy gì là trở ngại. Mà
thử hỏi Vinh hay Huế nào có khác chi... Thành. Chỉ cần thêm
vài chữ ơ ơ... ở trước chữ Thành thì chỗ này xuống sáu
câu vọng cổ nghe cũng mùi rệu. Rõ ràng âm hưởng của ngôn
ngữ Việt phong phú đến là như thế.
Với cái may mắn của một số ít dân mình, một triệu trong
sáu chục triệu, Hưng đã tìm được tự do trên đất Mỹ sau
một cuộc vượt biên xuất phát từ Nha Trang, chạy sang
Philippines. Anh mang theo đầy đủ gia đình gồm một vợ và
năm con. Mặc dù không gặp hải tặc Thái Lan nhưng cũng giống
như số phần của phần lớn dân đi chui, cuộc vượt biên của
anh và gia đình anh là một truyện phiêu lưu đầy cam go trắc
trở. Nhưng, sau những tháng năm dài trên đất tạm dung, tất
cả rồi cũng qua đi. Những nỗi nhọc nhằn và niềm bất hạnh
dạo đó đã thật sự rơi vào quên lãng, đã trở thành kỷ
niệm. Bây giờ, hai vợ chồng Hưng đã tương đối bằng
lòng với công ăn việc làm có phần nhẹ nhàng của mình ở City
Hall. Làm cho chính phủ Mỹ thì cũng giống như làm cho các tòa
tỉnh ngày xưa...
- Em muốn có một chiếc xe nhỏ, em không thích lái xe Van nữa.
Cái gì nữa đây bà? Hưng thầm hỏi như vậy khi nghe lời
phàn nàn của vợ. Phải biết chiếc xe Van là chiếc xe mới,
anh định nói thêm, nhưng thôi. Không ai không biết rằng ở
bên này xe mới, xe đẹp là dành cho mấy bà. Xe cũ, xe xấu
thì xí phần cho đám đàn ông là chuyện đương nhiên. Hưng
cũng đâu thoát khỏi cái "định luật" bầm dập đó. Bởi vậy
chiếc Van mà hai vợ chồng mới sắm hai năm rồi là chiếc xe một
đời chủ, nước sơn màu đỏ ối còn bóng lộn. Toyota Van,
chiếc Van có hình dáng giống như con heo chạy rong ngoài đường.
Người bạn Mỹ cùng phòng với anh, thằng Gary, người đã dám
thề suốt đời sẽ không bao giờ xài xe Nhật, đã thích thú
diễn tả như vậy.
Sở dĩ Hưng mua xe Van là tại vì anh tính chuyện ăn chắc mặc
bền. Ðám con của anh rồi sẽ thành teenagers trong nay mai. Ăn
chắc mặc bền? Phải. Bởi có sống với cộng sản nên anh
hiểu rất rõ điều căn bản này của toàn dân Việt. Ăn ngon
mặc đẹp thì chỉ dành cho những ai biết dựa vào Bác và Ðảng,
cậy thế ỷ quyền, nhảy ra ăn hối lộ mà thôi. Khỏi cần nói
ai cũng biết những người đó thuộc vào những thành phần
nào và có bao nhiêu tuổi đảng.
Có lẽ chiếc xe Van có phần nào hơi to lớn dềnh dàng cho một
người đàn bà Việt Nam, một người luôn cố giữ thân mình
mình mảnh mai ốm yếu, Hưng nghĩ vậy. Anh giải bày với vợ:
- Nếu em thích xe nhỏ thì anh mua cho em xe nhỏ. Nhưng lần này
chắc anh phải mua xe cũ, xe nửa sạt, xài đỡ thôi. Em cũng
biết hai đứa mình đâu có dư giả tiền của gì. Vả lại em
nào có đi đâu xa, chỉ chạy vòng vòng trong thành phố.
- Cũ thì cũ, nhưng vóc dáng cũng phải coi cho được được
chớ. Bộ anh định mua cho em chiếc xe cà tàng, cũ mèm hay sao
đây?
Hưng định nói với vợ
quần áo mặc cốt che thân, xe
cộ mua cốt... lăn bánh là ăn tiền
, nhưng lại thôi. Ðàn
bà đâu có chịu hiểu theo cái ý đó. Trong ruột trong gan dù
có nát bét cũng không cần biết đến, miễn bên ngoài phải
đẹp. Ðẹp? Ðúng vậy, phải tô son giồi phấn. Phải plastic
surgery. Tối thiểu phải đi mỹ viện cắt mắt xâm chưn mày.
Trời ơi, sao mà phí phạm chi cái vốn liếng riêng tư của mình
như vầy nè? Cha mẹ sanh sao hãy để vậy có phải là có hiếu
hay không chớ? Vả lại, phải biết rằng ở bên này gái thiếu
trai thừa, không thằng chồng nào dám bỏ vợ bỏ con đâu mà
sợ! Ý, nói vậy chớ không phải vậy. Không đẹp hả, chỉ
sợ ba ngày sau là thằng chồng làm hai ba jobs nó bỏ cả job ba
job hai mà theo con khác? Ôi, bên tình bên hiếu biết sống sao
cho vẹn toàn đôi ngã đây?
Trường hợp của Hưng khác, vợ anh không se sua, lòe loẹt.
Bởi vậy Hưng rất cưng vợ, anh phân trần:
- Có bao giờ anh mua sắm món gì mà không có sự đồng ý của
em đâu. Anh sẽ dẫn em đi coi xe dài dài. Coi cho đến khi
nào em tìm được một chiếc mà em thích mới thôi. Nhưng với
một điều kiện...
- Ðiều kiện gì nữa? Không được mua Mercedes phải hôn? Ði
mua xe mà làm như đi hỏi vợ không bằng!
- Gì mà Mercedes. Mua một chiếc Mercedes bằng mua một cái
nhà, em cũng hiểu chớ. Anh chỉ nói với một điều kiện
là... anh sẽ mua với giá từ vài ba ngàn trở lại thôi.
- Sao cũng được, miễn chạy tốt là được rồi. Nếu có
hư thì anh sửa cho em, anh cũng rành về máy móc lắm mà.
Rõ đàn bà, nói đi nói lại rồi cũng không che dấu được
lòng tham. Vừa muốn xe "coi được được" mà "miễn chạy
tốt" và với cái giá Hưng mới vừa đề ra thì thiệt tình,
chỉ có nước đi ăn cướp thiên hạ. Nói theo kiểu Mỹ, steal,
đi ăn trộm, ăn cắp. Steal? Cũng có lý! Vì thực ra steal
ở đây chỉ có nghĩa là mua được với giá rẻ mà thôi. Rẻ
tàn rẻ mạt như cho không vậy. Hưng sẽ bỏ công dò báo hằng
ngày, báo chuyên môn đăng quảng cáo bán xe, trading post, thrifty
neckel... thì làm gì không tìm được một mối steal trong vài
ba tuần lễ.
Quả không sai, chỉ trong vòng hai tuần thôi, Hưng đã tìm được
một chiếc Honda Accord trang bị đủ mọi thứ, full loaded, với
giá thấp hơn giá ghi trong blue book rất nhiều. Anh gọi điện
thoại tiếp xúc với khổ chủ và hẹn giờ dẫn vợ đến coi
xe. Sau khi cho địa chỉ và chỉ dẫn đường lối, người đàn
ông ở đầu kia giây nói còn giải thích thêm:
- Ðó là nhà của cô bạn gái của tao, tên nó là Jill. Xe đang
nằm ở đằng đó. Mầy cứ tới gặp Jill và tùy tiện xách
xe chạy thử. Jill có bộ chìa khóa riêng. Tao sẽ điện thoại
cho Jill ngay bây giờ, thông báo nó rằng mầy sẽ tới trong vòng
nửa tiếng.
Không gì trở ngại hết. Vợ chồng Hưng đến đúng địa
điểm phải tìm trong một thời gian ngắn. Có điều hơi ngạc
nhiên một chút là vợ Hưng nhận ra Jill là một trong những cô
y tá ở phòng mạch bác sĩ gia đình Hưng. Tưởng là lạ ai dè
hóa ra quen. Nhưng Hưng không mấy làm vui khi nghe Jill nói:
- Jack, thằng bồ tao, là một chủ hãng bán xe độc lập,
một independent dealer. Nó có giấy phép, licence, của tiểu bang
và chuyên môn về các xe nhỏ như Honda, Toyota. Jack làm ăn đâu
cũng mấy năm rồi chớ không phải mới nhảy ra.
Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa
, Hưng đã chạy mặt mấy ông
dealer lớn lại gặp mấy ông dealer nhỏ. Có dealer nào mà lại
không gian xảo, mánh mung? Thì ra đã có nhiều dealers giả dạng
thường dân, đăng quảng cáo bán nhiều loại xe cùng một lúc
trên các báo địa phương hằng ngày. Hưng chỉ mong gặp một
người làm ruộng rẫy, trong một cái farm xa xôi nào đó, cần
bán chiếc xe làm vốn cho con cái vào trường đại học mà... xui
quá, không được như ý. Anh băn khoăn, định bỏ mối hàng
này ngay từ phút ban đầu. Nhưng chẳng hiểu sao cớ sự lại
xảy ra theo chiều hướng khác. Lại cứ phải thèm ra coi xe, chạy
thử xe? Có lẽ vậy,
đi không há lẽ trở về không
! Hưng
cắt ngang cuộc đàm thoại giữa Jill và vợ anh đã đến hồi
thân mật, bằng cách ngỏ ý mượn xâu chìa khóa. OK, Jill đưa
cho Hưng ngay. Vợ Hưng rồi cũng đành chạy theo anh bén gót ra
sân mà thôi.
Phải công nhận dáng vóc bề ngoài chiếc Honda Accord màu cream
này không chỗ chê. Bên trong nữa, băng nệm cùng màu cũng còn
mới tinh. Sạch sẽ như được thường xuyên lau chùi, hút
bụi. Người chủ trước đúng là người biết qua máy móc,
biết chạy và giữ gìn xe. Như vậy thì Hưng chỉ cần coi cái
máy nữa thôi. Hưng đề xe, máy nổ ngọt lịm. Ngoài điểm
ga-răn-ti để hơi cao, tuyệt nhiên không có tiếng khua, không
có noise, không có kêu lạch cạch như mấy đầu máy dầu cặn.
Hưng đề nghị với vợ:
- Mình chạy thử một vòng ra xa lộ nghen?
- Ai biết gì anh, tùy anh hà!
Gì chớ tùy anh thì dễ rồi, Hưng tìm đường ra highway. Anh
định bụng phải chạy đường trường một đoạn với một
vận tốc khá cao, tối thiểu cũng sáu mươi lăm bảy chục dặm
một giờ, coi máy móc phản ứng như thế nào. Không nhứt
thiết phải cần mười, mười lăm giây từ zéro lên đến
sáu bảy chục cây số giờ gì hết, miễn vọt ngon trớn, không
cà giựt cà giựt là được rồi. Mọi chuyện êm xuôi.
Ðược một đỗi, Hưng rẽ vào exit, đậu xe bên lề cỏ, dở
ca-pô (front hood) xem máy. Vẫn nổ mạnh, đều đều. Cánh
quạt vẫn tiếp tục quay tít mù như chong chóng phi cơ. Không
nhễu nhớt chảy dầu ở đâu hết, trông sạch sẽ chán. Tóm
lại, Hưng rất lấy làm hài lòng.
Thật ra không đúng như lời vợ anh giới thiệu,
anh cũng
rành về máy móc lắm mà
, Hưng không rành về máy móc lắm
đâu. Thì cũng biết quọt quẹt với người ta đâu là
cạc-bu-ra-tưa (carburetor), đy-na-mô (starter), pốt-đờ-sạc
(generator), đầu đen-cô (distributor), bình nước giải nhiệt
(radiator), lốc lạnh (air-conditioner), hộp số (transmission),
bu-gi (spark plug), v.v. vậy thôi. Hoặc giả, chỗ nào là chỗ
thăm dầu, chỗ nào là chỗ thay nhớt. Hay rắc rối hơn tí
nữa là anh có biết qua đôi chút về việc canh lữa sớm
(advance) hoặc chậm (retard) và chỉnh gió cho xăng xuống ít (lean)
hoặc nhiều (rich), đại khái như vậy. Công việc được coi
là hệ trọng nhứt về máy móc mà Hưng có dịp nhúng tay vào,
hand on experience, là ngày xưa hồi còn ở Nha Trang, anh đã rã
ra và ráp lại chiếc Lambretta Italy hai bánh của mình, sau khi thay
mấy vòng bạc séc-măn (piston rings). Với mớ kinh nghiệm đó
bảo sao Hưng không hài lòng với chiếc Honda màu cream này cho
được. Anh đinh ninh chuyện mua xe lần này chắc ăn như hai
với hai là bốn, không cần biết cộng hay nhơn.
Lúc đem xe trở lại nhà Jill, vợ chồng Hưng kỳ kèo thêm được
vài ba trăm bạc nữa và sau cùng đồng ý mua với giá rất là
phải chăng, rất là steal. Vội vã viết cái check năm mươi
đồng đặt tiền cọc để sợ rủi người khác mua mất nữa
chớ. Và hẹn thứ hai tới kẻ bán và người mua sẽ dắt nhau
ra nhà băng, credit union nơi chỗ Hưng làm, làm giấy tờ.
Tiền sẽ trao và cháo sẽ múc tại nơi đó. Mọi việc kể như
xong đâu vào đấy. Vợ chồng Hưng hớn hở ra về.
Sáng ngày thứ hai, tại lobby của credit union, thằng Jack hiển
nhiên đến rất đúng giờ. Tuy không phải là người xem tướng
giỏi, nhưng Hưng có cảm tưởng thằng dealer lóc chóc, loi choi
này coi bộ điếm đàng quá cỡ. Con người thiếu thước tấc
là một, con mắt láo liên là hai, và bước đi như muốn chạy
là ba. Quần áo xốc xếch như dân làm đất ở đâu mới
về. Tay bắt nhưng mặt quên mừng. Lạnh tanh, xa cách. Ðã
vậy nhìn tấm giấy giao kèo ghi rõ ràng tình trạng chiếc xe,
có sao bán vậy,
as it is
, Hưng muốn bặt ngửa. Anh định
bụng muốn bỏ luôn năm chục đồng tiền cọc cho rồi, khỏi phải
lãnh về cái của nợ cũng không biết chừng. Nhưng trong giấy
phút phân vân tấn thối lưỡng nan đó, trời bất dung nhơn
đảng, bà chuyên viên lo thủ tục giấy tờ bước ra:
- Mời vào, mời vào.
Biết đã lọt vô thế chẳng đặng đừng, Hưng signal cho bác
tài tới luôn, chìa tay ra mời ông bạn... chẳng mấy hiền
của mình bước vào trước. Ba người như đồng loạt ngồi
xuống ghế. Xem xét qua loa mớ giấy tờ, bà đại diện nhà
băng khen Hưng một tiếng:
- Xe đời 80 này mà mầy mua với giá đó thì tốt lắm
rồi. Rẻ.
Rẻ thì có rẻ, nhưng tốt hay không thì còn phải xài năm ngày
ba tháng mới biết được nghen bà, Hưng thầm nói như vậy.
Ðiều làm Hưng hơi bất bình một chút là tiền coi như đã
trao ngay giờ phút đó mà cháo nào đã múc đâu. Thằng Jack
nào đã mang chiếc xe Honda tới. Viện cớ là không ai đưa nó
về và nó đang bận công ăn việc làm của nó ở ngoài farm.
Lại ngoài farm? Nó tới một mình ên với chiếc truck. Ðã
vậy nó còn cho biết thêm, chiếc Honda của Hưng (đã làm chủ
trên nguyên tắc rồi kia mà!) không có để ở nhà con Jill nữa,
mà đã dời về nhà nó ở tuốt trong đồng sâu. Thiệt là
đễu cán. Thôi thì nước cùng đành chịu vậy, chiều tan
sở về đi lấy cũng chẳng muộn màng gì. Chỉ mong thằng cốt
đột này nó đừng gỡ máy tháo bánh xe là được rồi. Giấy
tờ bây giờ đã ký xong xuôi, "ván" kể như đã bị "đóng
thuyền," không còn tháo gỡ đi đâu được nữa hết. Nhưng
trước khi chia tay, Hưng thật tình muốn tìm hiểu căn nguyên:
- Tao biết mầy mua đi bán lại, nhưng tao hỏi thật mầy một
điều, mầy giữ chiếc xe này trong bao lâu.
- Có một tuần lễ thôi. Tao mua nó từ một ông già hưu
trí ở tận trên núi.
- Mày thiệt không biết gì về máy móc hết sao?
- Không.
Hưng cảm thấy yên tâm hơn với tiếng "không" gãy gọn đó. Như
vậy ít ra nó không có chủ tâm lợi dụng sự khù khờ của Hưng,
chỉ để bán cho anh một chiếc xe... hư,
as it is
.
Chiều ngày đó trời bỗng dưng vần vũ lạ thường rồi đổ
mưa tầm tã. Theo bản đồ chỉ dẫn hai vợ chồng Hưng phải
chạy tuốt ra ngoài ngoại ô thành phố, và len lỏi vô farm hàng
cả chục dặm. Hai bên con đường mòn đất cát đỏ xa tít mù
giờ chỉ toàn là ruộng, mênh mông cò bay thẳng cánh, thỉnh
thoảng nhô lên một chòm cây hay một căn nhà xưa cũ trơ trọi
giữa trời. Cái hình ảnh quá quen thuộc của miền Nam nước
Mỹ? Cuối cùng Hưng cũng tìm được nhà. Ngôi nhà một từng
trệt loại range, vuông vức bốn cạnh hình chữ nhật, có vẻ
như vừa mới cất. Và tìm thấy luôn chiếc Honda Accord nằm
lủi đầu vô một bụi rậm. Hưng gõ cửa:
- Oh, vô đây, vô đây. Mầy thiệt là đúng hẹn. Có ai
đi với mầy không?
- Có, vợ tao.
- Tốt lắm, để tao đi lấy xâu chìa khóa cho mầy.
Hưng rất đỗi ngạc nhiên với cảnh trí bày biện bên trong
căn nhà. Một cái xưởng thì đúng hơn vì không thấy ngăn
phòng, trống trơn bốn phía vách. Trên đó, treo lễnh nghễnh
đầu cọp rằn, đầu gấu đen, đầu heo rừng, đầu nai có
chà có gạc, ngơ ngác... như còn sống. Ôi thôi, đủ hết
mọi thứ súc vật thường thấy chưng bày ở phòng khách các
nhà cổ xưa. Rồi ngỗng trời, vịt trời, le le, chằng
ngịt... đầy đủ lông cánh, nằm bay nguyên con thành đàn trên
tường nữa. Taxidermy, nghề dồn bông, độn gỗ. Trên
chiếc bàn lớn kê giữa phòng, những khúc cây được gọt
dũa theo mô hình đầu thú, những mannequin chưa được tròng
lên lớp áo súc vật, nằm ngổn ngang lăn lóc. Hưng cảm thấy
sợ sệt với những cặp mắt dán trên tường đang chăm chăm
ngó về mình, những con ngươi trong vắt của những linh hồn
cầm thú. Bên ngoài mưa vẫn gõ lộp độp đều đều trên
mái nhà, Hưng vội vã:
- Ðưa chìa khóa cho tao.
- Mầy có thích những con vật quen thuộc này không? Mua đi,
tao bán rẻ cho. Ðầu nai lớn hai trăm, chim trích đuôi dài
(pheasant) một trăm.
- Không, tao không thích lắm đâu. Tao chỉ có mục đích
tới đây lấy xe mà thôi.
Hưng để vợ lái chiếc xe Van về nhà, còn minh đi xe mới. Anh
gấp rút đến nỗi quên để ý coi thằng Jack có tháo máy đổi
bánh xe hay không nữa...
Trưa ngày sau ở sở, Hưng rủ thằng bạn không ưa xe Nhật,
thằng Gary, ra ngoài bãi đậu xe coi chiếc Honda Accord mới mua
của mình. Luôn thể nhờ nó xem qua máy móc vì thằng này rất
thiện nghệ về nghề máy. Hưng đề máy chạy một lúc cho
ấm áp mọi thứ. Và Gary thành thật góp ý:
- Tao thấy nó để ga-răn-ti (idling speed) quá lớn, chắc có
dụng ý gì đây. Sao mầy không thử vặn nó nhỏ lại coi.
- Cái máy này lạ quá, tao không biết đường nào đâu mà
mò. Không tìm ra con ốc chỉnh ga-răn-ti.
- Hừm, gì mà tìm không ra mậy! Thằng bạn gần nhà tao
cũng có một chiếc giống giống như vầy. Ðể tao mò, hình
như nó ở phía dưới này. Ðây, đây...
Tiếng máy nhỏ dần, nhỏ dần và bắt đầu... khịt khịt vài
tiếng rồi tắt ngũm. Gary tiếp thêm:
- Ga-răn-ti nổ không đều như vầy thì có thể sút-báp
(valve) bị kẹt, bị rỗ mặt, hay bị mẻ. Bởi vậy, nếu
để cao lên một chút thì máy sẽ chạy tròn tua, trơn lu (smooth)
như thường. Cứ để vậy chạy vài ngày thử xem sao. Tao e
rằng cái máy này không xài được lâu. Mua xe cũ điều cần
nhất là xem ga-răn-ti có êm không, nếu chạy đều đều
như... bàn may máy thì mới được. Mầy dư biết điều
này chớ?
- Không.
- Không? Vậy thì mầy chắc phải trả một cái giá rất
đắc cho bài học này.
Một cái giá rất đắc? Ðúng vậy! Vì chỉ vài tuần sau,
ngay trên đường đi làm về, chiếc Honda màu cream bỗng nhiên
nóng máy, bốc khói lên nghi ngút phủ mờ cả mặt kính trước.
Hưng tấp vội vào lề đường, tắt máy. Rồi trong lúc
chờ đợi cho nó nguội bớt, Hưng dở nắp ca-pô xem xét. Ôi
thôi rồi, không phải nước mà là nhớt, nhớt ở đâu không
biết xịt ra văng tứ phía xung quanh máy. Sao kỳ vậy? Hưng
ân hận là mình đã tiếc, đã không chịu để mất khơi khơi
50 tiền cọc. Dám chắc thằng Jack trời đánh kia đã lươn
lẹo thế nào đây để bán cho Hưng chiếc xe cà-tàng này. Có
thể thằng Jack đã âm mưu đổ nhớt thiệt đặc vào máy và
vặn ga thiệt lớn để che mắt mấy tay mơ. Mấy tay hoàng
tộc, vua chúa lơ tơ mơ như Hưng. Ai nói người Mỹ không gian
xảo, điếm đàng? Thôi, biết vậy là đã muộn rồi. Bây
giờ Hưng đâu có thưa kiện gì thằng Jack được với điều
kiện buôn bán
as it is
mà nó đã tính trước, đã ghi
rất phân minh trên giấy trắng mực đen.
Chờ độ nửa giờ hơn, máy có phần đã nguội lại, Hưng
cố đề máy và chạy rút về nhà trước khi nó dám nổ như
trái bom nổ chậm. May phước là chỗ con nhà Honda ăn vạ cách
nhà không xa. Số phần của Hưng rõ ràng là không bịnh hoạn chi
hết, vậy mà bỗng dưng lại phải lâm vào cảnh "tiền mất
tật mang."
Nói nào ngay, trong cái xui thường đã có tiềm tàng cái hên,
chẳng khác nào như chuyện "phú ông mất ngựa." Hên ở chỗ
là độ một tuần nặm ụ không nhúc nhích cục cựa, chiếc
Honda màu cream lại được một ông bạn... chí thân đến hỏi
thăm sức khỏe. Ông bạn chí thân đó là Thịnh, thợ máy chính
tông, mới qua từ Việt Nam theo lối đoàn tụ gia đình. Hưng
quen Thịnh trong một buổi tiệc thân mật ở nhà một người
bạn. Cũng là người Nha Trang với nhau vì nhà Thịnh nằm trong
khu chợ Xóm Mới, cho nên Hưng và Thịnh dễ dàng kết làm anh
em. Hưng làm anh vì tuổi Hưng lớn hơn Thịnh nhiều, đến gần
một con giáp. Cuối tuần, Thịnh hứa sẽ đến coi xe giúp
Hưng, một cử chỉ thâm tình chỉ dành riêng cho những người
đồng hương.
Sau khi thăm dầu, check nước qua loa, Thịnh hỏi như bác sĩ
hỏi bệnh nhân:
- Sao nhớt máy gì mà đục đục như sữa vầy nè? Bị như
vầy bao lâu rồi hả anh?
- Có biết đâu. Từ hôm bị xịt nhớt về tới nay nó nằm
yên một chỗ, đâu có chạy được nữa. Ðề hết hơi bình
mà nó chẳng chịu... khẹt cho một tiếng làm phước.
- Xe này chắc có lần bị nóng máy phải không?
- Ðúng rồi, trước khi nằm ụ nó có bốc khói một lần.
- Vậy là cái máy này bị "thổi ron, lòn nước, lòn nhớt"
rồi!
Cái gì? Thổi ron, lòn nước, lòn nhớt? Mặc dù không rành
lắm, nhưng Hưng đoán biết bệnh này là bệnh rất nặng,
thập tử nhứt sinh, chớ không phải nhẹ. Anh phân vân:
- Em muốn nói là miếng "ron nắp cu-lát" bị bể phải không
Thịnh?
- Ðúng đó. Không biết miếng ron nắp cu-lát tiếng Mỹ
kêu là gì anh hả?
-
Cylinder head gasket
. Mà có chắc cái
gasket
đó
bị
blown off
không? Nếu như vậy thì mình tính sửa nó
ra sao đây?
- Chỉ cần tháo nắp cu-lát ra, thay miếng ron đó thôi.
Dễ mà. Ở bên nhà tụi em làm cái vụ này điều chi. Tháo
cái dàn cạc-bu-ra-tưa chằng chịt ở bên trên, rồi tháo cái
ống bô séc-măn lòng thòng ở phía dưới là coi như xong được
nửa đường. Ðẩy vô garage đi, em sẽ làm xong nội trong
ngày nay, mai anh có xe mới chạy.
- Chắc ăn hôn đó. Gì mà dây nhợ tùm lum tùm la, anh thấy
coi bộ nguy hiểm quá.
- Không sao đâu anh, hễ mình tháo ra được là mình ráp lại
được. Tụi thợ máy coi vậy chớ nó cũng biết chế lắm,
nó có làm dấu cho mình đâu vào đó đủ hết mọi thứ. Tại
anh không thử, không để ý nên anh không biết đó thôi.
- Nhắm được hay không đặng anh đi mua đồ, mua cái ron,
cái gasket?
- Em chưa tháo máy Honda loại này lần nào, nhưng bảo đảm
mà. À, mà anh phải mua ba cái ron lận, ron nắp cu-lát, ron
cạc-bu-ra-tưa, và ron bô séc-măn.
Nói được là làm được, bởi vậy cho dù có khó khăn, cực
nhọc cách mấy đi nữa Thịnh cũng phải gánh gồng làm cho xong.
Thợ cái mà. Thợ phụ thì có Hưng, lo chạy vòng vòng giúp một
tay, luôn tiện học thêm nghề máy. Một vài danh từ rất là
chuyên môn, rất là Việt Nam, đã vượt trùng dương ngàn
dặm len lỏi đi vào tâm hồn Hưng. Cái "ác-gô" chẳng hạn.
Một alignment pin dùng để bắc hai phần dính liền nhau cho ăn
khớp, không sai chạy một ly. "Bù-loong, con tán" thay cho "bolt"
và "nut." À, còn cái bệnh "thổi ron, lòn nhớt, lòn nước"
nữa chi? Và đặc biệt hơn, cái tánh cần cù nhẫn nại cố
hữu của người Việt đã thể hiện qua Thịnh. Không phải gấp
gáp chi hết, xem xét cẩn thận moi thứ trước khi lấp ráp vào
một món gì. Cẩn thận đến nỗi phải lau sạch mồ hôi, hơi
nước bên trong các khía răng vặn bù long nắp "cu-lát" nằm sâu
trong block máy. Khi máy nóng, sự dãn nở của hơi nước hay
của dầu nhớt đọng lại trong lòng kín đó không thoát đi đâu
được cũng dễ làm nứt máy lắm, Thịnh cho biết như vậy.
Cánh tay vặn chìa khóa của mình cũng phải "cân," phải đúng
tầm mức đồng đều cho mỗi con bù-loong, mà không cần chìa
khóa số (torque wrench). Phải chăng vì thiếu thốn đủ mọi thứ
mà dân mình thường hay biết lấy "cái khó bó cái khôn?"
Trước khi trở về appartment của mình, cũng gần nửa đêm,
Thịnh cùng Hưng làm lai rai món thịt bò xào mà vợ Hưng đã
ướp sẵn, chờ đợi từ lúc ban chiều. Mùi tỏi, hành cháy
trên chảo nóng bay lên thơm phức. Thêm chút nước sauce
chua chua, ngọt ngọt rồi rưới đều trên mớ xà-lách-son đã
sắp sẵn ra dĩa. Tuyệt. Thật là thú vị cho những buổi
nhậu khuya, Hưng thấy vậy. Bia bên Mỹ này thì làm gì thiếu
được, rẻ rề.
Từ khi Hưng gặp được Thịnh thì kể như... trời còn ngó
lại. Sau khi thay miếng ron nắp cu-lát, anh mơ màng thấy mình
sẽ còn tiếp tục sử dụng chiếc xe Honda cà tàng thêm một thời
gian nữa. Nhưng, rất tiếc, thời gian đó cũng rất ngắn.
Quá ngắn. Ðộ một hai tháng thôi.
Phước bất trùng lai
họa vô đơn chí
, họa không đến chỉ mỗi một lần. Trò
"phú ông mất ngựa" lại tái diễn. Chỉ khác một điều là
lần này "phú ông" không mất con ngựa bằng xương bằng thịt,
mà là mất con ngựa sắt. Con ngựa sắt không giống như con
ngựa sắt của Phù Ðổng Thiên Vương, con ngựa sắt gì mà
chỉ biết phun khói, nhưng khổ ơi... không biết chạy.
- Ðúng là trời bất dung gian, em muốn sửa tạm cho anh chạy
đỡ mà cũng không xong. Lúc tháo ra em định nói với anh là
máy số 3 đã bị "đâm" rồi. "Pít-tông" cạ khuyết một bên
thành "xy-lanh." Cái điệu này thì chắc bạc "séc-măn" vừa
mới bị bể, cho nên sức nén mới dội xuống lòng máy mạnh
dữ như vậy. Rồi sức nén này lại theo đường nhớt đi
ngược trở lên trên, chui vào "nắp đậy cam," kéo theo nhớt
và khói. Bởi, nhớt và khói xịt ra mịt trời là vậy. Với
bệnh này thì chỉ có nước rã hết máy ra làm lại thôi.
Rõ phần số của Hưng đen như mực tàu, nhưng anh cảm thấy
không nên than phiền hay oán giận ai hết. Vả lại còn nước
thì còn tát, cho nên anh ôn tồn giải thích cho Thịnh:
- Ở bên này đâu có vụ "làm máy." Cùng lắm thì chạy ra
ngoài nghĩa địa xe (junkyard), mua cái máy cũ về thay vô chạy
tiếp.
- À, được đó. Bên này có bán máy cũ hả?
- Thiếu gì. Chỉ tốn công mình phải cực khổ tháo ráp
thôi.
- Ối, nói chuyện gì chớ công với cán thì có cái gì
phải lo. Toàn là công nhà của hai anh em mình mà. Lao động
tốt là nghĩa vụ của..., cha nó, Bác và Ðảng.
- Làm nữa hén? Vậy thì để anh tìm mua cái máy cũ. Bao
giờ có anh sẽ gọi cho Thịnh hay, anh em mình hè nhau làm rụp rụp
một cuối tuần là xong. Cái cây đà ngang đội trần garage
kia anh nghĩ chắc cũng đủ sức chịu đựng để câu cái đầu
máy ra khỏi khung xe. Giữa hai thanh gỗ ba phân ba tấc đó có
một miếng thép cũng cùng chiều rộng và dầy một phân hơn
nằm kẹp trong đó. Chỉ sợ là sợi dây cáp của cái cần trục
xách tay loại một tấn rưỡi này đứt bất tử mà thôi.
- Không hề gì đâu, làm đại đi. Em cũng muốn tháo cái
hộp số tự động này ra coi nó ra sao trong đó. Em nghĩ chắc
cũng giống như hộp số xe Honda Dame bên mình. À, mà ở Việt
Nam không thấy ai xài xe tự động à nghen, toàn là số tay.
Chắc em phải làm ngay bây giờ, để không thôi trễ. Trước
sau gì mình cũng tháo, bây giờ lo tháo.
Hưng tiếp tục làm thợ vịn cho Thịnh. Cả hai cùng ngạc nhiên
khi thấy toàn sức máy truyền qua hộp số tự động chỉ bằng
tám con ốc bằng mút đũa. Tám con "bù-loong" nhỏ xíu nối liền
cái bánh trớn (fly wheel) đằng sau đít cốt máy và cái nồi
dầu (torque converter). Chia đều nhau ở tám đỉnh trên một
vòng tròn, tám con ốc chịu đựng hết tất cả sức chạy, sức
ngừng của toàn chiếc xe...
Qua ngày sau Hưng bắt đầu dở sổ điện thoại gọi các junkyards
vòng quanh thành phố, những dealers có quảng cáo đăng trên
yellow pages. Hình như đầu máy Honda Accord đời 80 này chỗ
nào cũng có, và cùng một giá đồng hạng 400 đồng một cái.
Hóa ra xe Honda loại này coi bộ dễ hư dữ? Mà đây, có những
junkyards nằm ngoài xa hơn, có số điện thoại free, 800 nữa.
Hưng gọi ngay hãng Motors 21, hãng có cái quảng cáo bự nhất.
À há, rẻ hơn, chỉ 300 đồng thôi. Ði xa hơn một chút, chỉ
hai mươi lăm, ba mươi dặm đường mà lời được 100 đô-la
thì kể cũng sướng chán. Máy mới hơn nữa chớ, đời 81,
82.
Motors 21 là một junkyard lớn có hạng, khoảng 25 mẫu Anh, nằm
trong một thung lũng dọc theo xa lộ 21 của tiểu bang South
Carolina. Từ đàng xa và trên cao nhìn xuống, Hưng đã thấy
những chiếc xe phế thải, đủ cỡ đủ loại, nằm bất động
thành dãy dài như những đường sọc đậm màu trên lá cờ Mỹ
quốc. Chạy mút vào tận chân đồi thụt sâu vào phía trong.
"Tổng hành dinh" của cái nghĩa địa xe này là một ngôi nhà trệt
xập xệ, mái tôn vách ván. Bên cạnh là một nhà tiền chế,
mái tôn vách tôn, có lẽ là nhà kho dùng để chất chứa
những bộ phận rời đã được tháo sẵn,
off from the
shelves
.
Bước chân vào "tổng hành dinh" của Motors 21, Hưng không khỏi
ngạc nhiên là hoạt động ở đây rầm rộ quá chừng. Mặc
dù người điều khiển chương trình đang độc diễn một mình.
Y chang như một trung tâm hành quân vì tiếng gọi máy xa gần từ
khắp bốn phương trời, dồn dập vọng về không ngớt bên
tai. Một lô điện thoại. Nào là điện thoại viễn liên bíp
bíp liên hồi, nào là điện thoại local reng reng bất tận, nào
là điện thoại có nhiều nút bấm phát lớn trên hệ thống loa
bắc thẳng lên tường. Thậm chí có cả điện thoại câm,
không biết rung chuông gióng trống gì hết mà chỉ biết chớp
chớp đèn báo động... Phụ họa với những máy móc tân kỳ
đó, còn có một cái máy rộng họng hơn nữa, đó là cái
walkie-talkie, lúc nào cũng nằm sẵn trong tay người khổ chủ thay
vì được móc bên lưng quần như những người khác. Hưng nghe
đủ thứ hiệu xe: Ford, Chevrolet, Dodge, Plymouth, Pontiac, Old
Automobile, Cadillac, Volkswagen, Toyota, Honda, Nissan, Isuzu,
Subaru, thậm chí đến Hyundai. Trong một góc phòng đằng xa
kia có một người đàn bà lớn tuổi có lẽ đang giữ chức
vụ thơ ký, kiêm kế toán viên, kiêm thâu ngân viên, và kiêm
luôn chức... mẹ gia chủ, vì Hưng có nghe người đạo diễn
thỉnh thoảng hét lớn Mom, Mom... Hưng mở đầu cuộc đàm thoại:
- Tao có nói chuyên với ai đó, có thể là mầy, Bob (thêu
ngay trên ngực áo), về cái đầu máy Honda Accord đời 80.
- Ờ, tao biết. Tao mới check lại với tụi thợ máy, tụi
nó nói là máy đời 81, 82 không ráp vô xe của mầy được.
Rất tiếc, sorry, chỉ có hai đời 79 và 80 là giống nhau thôi.
Tuy nhiên, máy bên xe Prelude cũng có thể xài cho xe Accord. Mà
rất tiếc, lại sorry, tao không có cái Prelude hay Accord đời
79 hay 80 nào nằm sẵn trong kho hết. Mầy có muốn tao tìm
(locate) cho mầy một cái ở những junkyards khác không? Mầy
có đem cái máy hư của mầy theo không?
Ði không há lẽ trở về không
, 30 dặm đường chớ
bộ gần gũi gì à? Hưng mang máng thấy mình như bị thằng Mỹ
này lường gạt, nhưng thôi, tới đâu hay tới đó. Nếu phải
so đo với nó rằng nếu mầy mà nói như vậy ngay từ lúc đầu
thì còn khuya tao mới mò tới đây, kể cũng chẳng ích lợi
gì. Hưng quyết định luôn:
- Ừa, thôi mầy cứ thử tìm cho tao một cái đi. Cái máy
hư đang nằm trong thùng xe pick-up của tao đậu ngoài kia.
- Ðược, để tao lo cho mầy ngay bây giờ.
Bob nhắc máy "siêu tần," cái điện thoại đặc biệt màu đỏ,
nhảy vô hệ thống phát thinh không. Nó lập đi lập lại lời
yêu cầu của nó xen kẽ vào những lời yêu cầu của nhiều
người khác. Hưng lẳng lặng lắng nghe chuỗi âm thanh dài
dằng dặc:
- Máy Honda Accord đời 80, máy Honda Accord đời 80... Hộp
số tự động Grand Am 84, hộp số tự động Grand Am 84... Sáu
máy thẳng GM, Chervrolet 78 Van, sáu máy thẳng GM, Chevrolet
78 Van... Thùng pick-up Ford Ranger 85, thùng pick-up Ford Ranger
85... Máy Honda Accord đời 80, máy Honda Accord đời 80...
Phát thinh không giữa chốn mê hồn trận đâu độ chừng năm
ba phút, Bob may mắn được đầu kia trả lời:
- Máy Honda Accord 80, có máy Honda Prelude đời 79. Làm ơn
coi lại con ốc đầu máy (crankshaft nut) cỡ mấy. Nếu đúng
19mm thì OK.
- Motors 21 nghe. Sẽ cho người đi đo, xin chờ.
Bob đưa walkie-talkie lên miệng hét to:
- Hê, Tom, chạy ra xe pick-up đậu trước sân đo con ốc máy
coi cỡ mấy mậy. Có phải 19mm không, báo cáo gấp.
- Ghi nhận đủ (ten-four).
Có tiếng xe gắn máy hai bánh nổ ròn tan bên hông nhà.
Hệ thống phát thinh không cứ tiếp tục véo von, trầm bổng.
Ðộ vài phút sau, Hưng nghe:
- Bob, đúng y chang 19mm. Cùng một cỡ với con ba phần tư
inch đó, mầy biết quá mà. Chỉ có hai trự này là Ðông và
Tây gặp nhau thôi.
- Nghe rõ.
Bob quay sang Hưng:
- Nó đòi mầy 400 đồng cái máy đó, đổi máy cũ
(exchange). Máy còn tốt, chỉ mới chạy có sáu chục ngàn
dặm thôi. Mầy chịu không đặng tao order cho nó chở qua?
Hưng đang phân vân. Trước sau gì cũng bị mất 400. Biết như
vầy ai thèm đi tuốt ra miệt này chi cho xa, mua ở mấy hãng
gần gần trong thành phố có phải sướng hơn không. Tụi này
làm tiền thiên hạ thiệt là có hệ thống, kỹ cương. Nhưng
chẳng lẽ lại về tay không? Cây lao thiệt nhọn giờ như đã
phóng, thì thôi, hãy theo lao một phen:
- Ừa, kêu đám đó chở tới đây cho tao ngay bây giờ đi.
- Ðâu có được. Tệ lắm cũng là trưa mai mới có. Tụi
nó chở qua từ tiểu bang Georgia mà, đâu phải gần đây. Cái
đầu máy loại này coi bộ hiếm hoi à nghen.
Hiếm hoi? Hưng thở dài thêm một lần nữa. Chán quá rồi.
Hưng cảm thấy sợ phải tiếp xúc thêm một thằng chủ junkyard
thứ hai. Biết đâu nó lại làm tròng làm tréo bảo rằng không
có sẵn và phải locate một cái khác ở tận Alabama hay
Florida? Biết đâu không còn cái giá 400 nữa? Thôi thì ừa
đại cho rồi.
- OK.
- Vậy thì mầy phải đặt cọc tối thiểu phân nửa. Còn
phân nửa trả nốt khi mầy ghé đây nhận máy.
- Cũng được. Nhưng tao muốn giữ hai cái máy cùng lúc một
thời gian, chừng nào ráp xong xuôi tao đem trả một cái hư cho
mầy.
- Mầy phải deposit 25 đồng gọi là core charge, rồi tùy mầy
muốn giữ bao nhiêu lâu thì giữ. Bao giờ đem máy tới thì
lấy tiền deposit lại.
Giấy tờ xong, Hưng bâng khuâng lặng lẽ ra về... với tay
không. Nhường chỗ cho mấy người khách đang vừa mới đến.
Sáng ngày sau, để thử lòng ông bạn hiền junkyard, Hưng điện
thoại rất sớm, mới 9 giờ hơn, để check coi cái đầu máy
Honda đến chưa. Cũng cái giọng lóc chóc, loi choi cố hữu của
thằng Bob, không một chút nào ngượng nghịu, đã dám ngang
nhiên bảo Hưng rằng: sẵn sàng, mầy có thể đến lấy bất
cứ lúc nào. Trời đất, có chuyến xe chở hàng nào chạy từ
Georgia qua South Carolina mà sớm dữ như vậy không? Chẳng lẽ
tụi này xài overnight express? Rõ ràng, thằng Bob gian mà không
ngoan, dấu đầu lòi đuôi. Ôi, cái nghề mánh mung, miệng
lưỡi! Thôi, kể như Hưng bị gạt thêm một lần nữa! Ðợi
chiều tan sở về rồi vòng qua lấy cái "của nợ" đó cũng không
mất mát đi đâu... Rồi chiều đến. Dòng chữ Hayden
Salvage, Georgia đập mạnh vào mắt Hưng. Thánh thần thiên
địa ơi, ai mà nhẫn tâm dán làm chi cái tấm nhãn ghi địa chỉ
nơi gửi, mới viết chưa ráo mực, lên bên trên cái đầu máy
vầy nè? Buồn cười ơi là buồn cười, diễu dở ơi là dở!
Thứ bảy, sau khi cà phê hủ tiếu tại gia xong, hai anh em Hưng và
Thịnh chui xuống garage bắt tay vào việc. Hai cái máy không sai
một nét. Có luôn cả cạc-bu-ra-tưa, bô séc-măn, và "dàn dẫn
gió" (intake manifold) dính liền theo cái máy mới mua nữa. Vừa
tháo mấy cái bu-gi, Thịnh ra điều thợ máy:
- Tụi Mỹ làm ăn coi bộ cũng kỹ lưỡng ghê. Lấy giấy nylon
trùm đầu cạc-bu-ra-tưa lại là khôn. Lọt vô đó một con tán
là mệt lắm, phải tháo hết ra. Ðể bu-gi dính theo máy thì
cũng thuộc hạng nhà nghề. Anh biết, nếu để trống, hơi
gió lòn vô đó đôi ba ngày là xy-lanh pít-tông rỉ sét ngay. Ðây
nè, anh coi, hai đầu mối bắc ống dẫn nhớt ló ra ngoài này
tụi nó cũng lấy ống cao su bịt lại. Tụi này cẩn thận...
Xem xét xong xuôi, Thịnh nhõm chân đứng dậy:
- Ðâu anh phụ em một tay lật nó nằm ngang chiều này.
Ðặng em tháo thùng nhớt dưới đít máy, coi lại cây "dên"
(crankshaft) với bộ "bả-vê" (crankshaft bearing) luôn thể. Cái
bơm nhớt nữa. Cái bơm nhớt coi vậy chớ mà quan trọng lắm,
tỉ như trái tim của con người ta vậy. Thiếu nhớt là thiếu
máu, máy cháy liền. Còn việc hút xăng thả khói thì tỉ như
ăn với ỉa mà thôi, không quan trọng bằng.
Cái đầu máy Honda coi nhỏ vậy chớ mà nặng quá mạng. Không
gồng mạnh tay chưa chắc nó đã nhúc nhích. Chờ cho Hưng lựa
thế nắm hẳn hòi, Thịnh tiếp hơi:
- Anh xong chưa? Nè, một, hai, ba, hê...
Ðâu vào đó. Nhưng, bỗng dưng Thịnh la lên:
- Chết cha, sao nước ở đâu mà chảy ra dữ vầy nè. Rồi,
trong xy-lanh máy số 3, cũng lại máy số 3. Cái đầu máy này
có chắc ăn không đây? Tụi nó có bảo đảm cho mình không?
- Máy cũ mà làm gì bảo đảm với không bảo đảm. Cái nào
cũng bệ rạc như cái nấy thôi. Tuy nhiên tụi nó có hứa,
nếu cái này không chạy thì đổi lại lấy cái khác.
- Có giao hẹn kỹ càng như vậy hả?
- Ừa. Nhưng thây kệ mẹ nó, cứ ráp vô đại đi rồi
đề máy thử coi nó chạy hay không cái đã.
Thịnh trù trừ:
- Ráp thì ráp, chuyện gì chớ chuyện này dễ mà...
Dễ thì cũng không dễ lắm đâu. Hai anh em hì hục làm miết
mà mãi đến xế trưa mới bắc được máy vô chưn máy và
xiết bộ "bù-loong" hộp số. Còn gắn "lốc-lạnh,"
"pốt-đờ-sạc" nữa chi. Thêm một hai tiếng nữa rồi cũng
xong. Nhưng sợ nhất là mấy đường ống cao su và mấy mối
nối dây điện. Sao mà nhiều quá, lỗ nào cũng giống lỗ
nào, cùng cỡ cùng size. Ðích thân Thịnh tháo ra mà bây
giờ ráp lại Thịnh cũng hơi lọng cọng. Thôi thì hi vọng là
nó chạy mối như vậy. Châm nhớt, châm nước là những
công việc sau hết phải làm. Cuối cùng, Hưng lên tiếng:
- Sẵn sàng chưa? Ðề à nghen.
Thịnh đưa ngón cái lên trời ra hiệu sẵn sàng cho Hưng đang
ngồi bên trong tay lái. Ðề. Chiếc xe hục hặc năm hồi
mười hiệp mà không chịu chạy. Bỗng nhiên, Thịnh hốt hoảng:
- Ê, khoan...
Rồi cười khan:
- Ha ha, phải rồi, nó chạy làm sao được với cái chốt
đen-cô nằm trơ trọi ở bên ngoài. Ha ha, bậy quá, tính tháo
ra coi nó có sét có nước gì không mà quên, không lắp
vào... OK, đề lại coi.
Chỉ cần ré ré vài tua thì trời bất dung nhơn đảng, tiếng
máy rú lên, khói xanh xịt đầy trời phía cửa garage. Chạy.
Ðã thiệt. Kết quả của gần cả một ngày công lao khổ
nhọc. Thở phào. Nhẹ nhõm. Mừng vui. Ít nhứt cũng phải
như vậy chớ. Cho nó chạy thả cửa một hồi xem sao. Thịnh
đốt một điếu thuốc hút lấy hơi. Phì phà, ra chiều
suy nghĩ.
- Anh để ý coi nó có nóng máy không nghen.
Ga-răn-ti lại cũng để cao quá. Thịnh mò con vít điều chỉnh
xăng, con vít có gắn cục khằn đen đằng sau đít đã trở nên
quen thuộc. Vặn xuống. Nhỏ nữa, nhỏ nữa.
Khịt,... khịt,... khịt, lại nổ không đều. Vặn lên.
Cho nó chạy nhanh như vầy thêm một lúc nữa. Chờ tàn một
điếu thuốc cái đã.
- Máy nóng chưa?
- Kim đồng hồ đang chỉ mức độ trung bình.
Tuy hỏi vậy nhưng Thịnh biết hết. Lại đồng bệnh với cái
máy cũ, Thịnh đoán chắc như vậy. Không đồng bệnh sao
được khi mà "bình nước dự trữ" đang sôi sùng sục. Hưng
lên tiếng:
- Coi bộ bắt đầu nóng máy. Kim đồng hồ tiếp tục đi
lên.
- Ðâu, tới đâu rồi, để em coi... Ô, máy nóng quá
rồi, thôi tắt đi.
- Tắt hả? Sao kỳ vậy ta?
- Cái máy này lại bị "thổi ron lòn nước" nữa rồi. Nhưng,
chắc chưa "lòn nhớt" vì không thấy khói đen. Em định nói
với anh là để cái máy này ở ngoài, rã ra coi từng bộ phận
cho chắc ăn trước khi lắp vào. Ðể ở ngoài có gì làm dễ
hơn, bây giờ ráp vô rồi cũng kẹt. Trước sau gì cũng phải
thay miếng "ron nắp cu-lát" một lần nữa, nếu anh muốn xài
nó. "Bộ đồ lòng" cái máy này còn tốt hơn cái máy của
mình, hơi "còm-mét-xông" (compression) còn mạnh lắm.
Số phần của Hưng, than ôi, sao mà quá hẩm hiu. Anh nổi
giận:
- Damn it. Thằng Bob này gian ác quá, dám bán cho mình cái
máy hư. Nó còn lọc lừa hơn thằng Jack kia đến mấy bực!
Nhưng anh lại nguôi ngoai, tiếp:
- Thôi, nghỉ đi Thịnh, mệt rồi. Ngày mai Chúa nhựt, không
ai làm việc hết. Cứ để từ từ, một hai ngày nữa anh sẽ
kêu nài bắt đền tụi nó xem sao.
- Còn "đồ vết" (parts) từ cái máy cũ của mình, mình
được quyền giữ phải hôn? Sẵn tay dơ để em tháo lấy lại
mấy thứ cần thiết trước khi đem trả.
- Ối, ba cái đồ hư đó mà lấy làm gì cho chật nhà...
Trưa ngày thứ hai, trong bữa ăn trưa, Hưng định than phiền
với thằng bạn thân người Mỹ, thằng Gary, về người Mỹ.
Hưng mở đầu câu chuyện bằng một câu hỏi:
- Tuần rồi tao có nói cho mầy nghe cái vụ mua máy cũ về ráp
lại cho chiếc xe Honda Accord của tao phải không?
- Phải. Rồi sao? Mầy đã ráp chưa?
- Damn it! Ráp rồi mà nào có chạy được đâu. Mầy biết
sao không, y chang một bệnh như cái máy hư của tao,
the head
gasket had been blown off
.
- Ha ha, bởi tao thề tao không mua xe Nhật là vậy. Tụi
nó đã tính sẵn cho mầy năm nào tháng nào xe sẽ hư. Bảo
đảm với cả một chứng bệnh mang tên gì nữa kìa. Mầy
có bao giờ tin lời tao nói?
- Vừa thôi, xe Mỹ cũng nào có khác gì đâu. Tệ hơn nữa
cũng không biết chừng. Nhưng mà mầy biết thằng Bob, thằng
chủ Motors 21, giải quyết vụ này ra sao không? Nó biểu tao tháo
cái máy đó đem trả lại, rồi nó sẽ cho credit và đổi cho cái
máy khác. Thiệt là điếm đàng, nó làm như tháo ra ráp vô
là dễ lắm. Tao với thằng em làm cả ngày trời chỉ có mỗi
phần ráp thôi. Tao thà thay cái "ron" như thằng em tao đề
nghị, chớ còn tháo ráp nữa hả, tao ngán ngược rồi. Mà
tao nói với thằng Bob rằng để tao ghé nó lấy thêm cái máy
nữa về làm, xong xuôi tao trả lại nó hai cái hư mà nó không
chịu. Mầy thấy vô lý không?
- Thì nó đâu có làm gì khác hơn được. Tao nói không phải
bênh nó nhưng mầy phải biết, nó buôn bán với biết bao nhiêu
hạng người chớ đâu có phải riêng gì mầy. Mầy là người
thành thực, ngay thẳng, honor, tao biết. Nhưng, mấy thằng
có garage riêng đâu có được như vậy. Tụi nó vẫn hay lươn
lẹo, làm tròng làm tréo để lấy về hai đầu máy với giá
một cái. Ối mà thôi, cái nghề tháo ráp đó không có gì
bảo đảm hết. Chính thằng bạn chuyên nghiệp của tao, thằng
Jame Brown mầy biết chớ, cũng chạy làng. Ráp hai ba cái mới
có một cái chạy được là chuyện thường. Mầy đừng có
ngạc nhiên về việc phải chữa trị cùng một bệnh lần thứ
hai. Chính thằng Jame nói với tao nó cũng dẹp nghề đó luôn,
garage của nó bây giờ không nhận tháo ráp đầu máy cũ nữa...
- Tao cứ tưởng ở cái xã hội tương đối không mấy ai
thiếu ăn, thiếu mặc như thế này thì làm gì có những hạng
người chuyên môn lường gạt, móc túi, vơ vét người lương
thiện.
- Hừ, mầy giỡn chơi hoài, Hưng.
Are you pulling my
legs
?
Nghĩ cho cùng, không có cách gì thay đổi được tình thế,
số phần đen tối của mình, cho nên chiều ngày đó Hưng tạt
qua Motors 21 để thảy phức cái máy hư vào đống sắt vụn.
Ðồng thời phàn nàn cùng thằng Bob một đôi điều:
- Tao biết mày không thích nghe tao nói, nhưng cái máy của
mầy không đáng giá 400 đồng mà tao phải trả. Bộ mầy
không biết nó hư thiệt sao? Người mua lầm chớ người bán
nào lầm, phải vậy không? Bây giờ tao vừa phải mất công,
vừa phải tôn của để sửa cái "của nợ" của mầy, mầy thấy
không?
- Mầy thiệt tình không nói láo với tao? Nè, 25 đồng
tiền deposit của mầy, cộng thêm 100 đồng tiền discount cái
máy hư, 125 đồng chẵn đây, có vừa lòng mầy không? Trở
lại đây gặp tao khi nào mầy thấy cần...
Hưng hơi ngạc nhiên vì sự đối xử có phần hơi rộng lượng
đó của Bob. Rõ ràng trong hắn còn có một chút lòng thương
người, lòng thương người của một tên đồ tể. Thì ra
trên trái đất này, dù ở xứ Việt Nam nghèo khó hay cái đất
Mỹ giàu sang này cũng vậy, con người dù gian hùng xảo quyệt
đến đâu đi nữa cũng có lúc phải quay về cái bản ngã thiện
tâm. Trái tim con người như một linh quang mầu nhiệm, chứa
đầy Phật tánh.
Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật
tánh
, cái Phật tánh sẵn sàng đón nhận những xúc cảm
thầm kín, thâm sâu nhất tận đáy lòng. Họa chăng chỉ có
bè lũ lãnh đạo duy vật đã đưa nước Việt Nam xuống hàng
nghèo nhứt thế giới là những kẻ chẳng có trái tim mà thôi.
Hưng không ngờ mình đả vô tình nghiệm ra được bài học tâm
linh sơ đẳng.
Thôi thì số phần của Thịnh là người chuộng nghề máy thì
phải tiếp tục sửa xe. Phải sửa cho đến khi nào chiếc Honda
Accord màu cream này chạy cho ngọt mới thôi. Và Hưng tự hứa
khi công việc hoàn tất, sẽ mua cho Thịnh hai món quà mà Hưng
biết chắc Thịnh đang hằng mơ ước: một bộ đồ nghề sửa
xe hiệu Craftman của Sears để làm vốn vào đời và một cái
máy ảnh Minolta tự động để chụp hình gửi về Việt Nam cho
bà con ở Thành, ở Nha Trang, xem chơi.
Nha Trang, ngày về,
mình tôi trên bãi khuya
... Những ý nghĩ đó làm Hưng thêm
vui sống, phấn khởi...
back to top
04. TUYỆT LỘ
NGUYỄN TẤN HƯNG
- Này bạn, xin hỏi bạn chớ bạn nghĩ thế nào là một
truyện ngắn hay?
- Bạn hỏi chơi hay hỏi thiệt đây? Theo tôi, điều cần
thiết cho một truyện ngắn hay là phải linh động và sống
thực. Kế đến là phải chan chứa tình người...
- Thôi thôi, đừng có dài dòng. Ôm đồm nhiều quá nó
mất hay. Tôi chỉ cần bạn nói ra một điều cần và đủ là
được rồi.
- Vậy thì tôi giữ cái ý ban đầu, phải linh động và
sống thực.
- Tôi lại nghĩ khác. Ðơn giản hơn bạn nhiều. Theo tôi,
điều cần thiết cho một truyện ngắn hay là viết làm sao
khi đọc, độc giả không thể bỏ tờ báo hay buông cuốn sách
xuống được, mà phải đọc một lèo từ đầu đến cuối.
Thế thôi.
- Thế bạn nghĩ sao nếu có người bảo, đại khái, "khi
sáng tác truyện ngắn tác giả rủ độc giả làm tình, nếu
cả hai đã đời thì truyện ngắn thành công, nếu chỉ có một
bên đã đời thì truyện ngắn thất bại, nếu không có bên
nào đã đời thì truyện ngắn thảm bại."*
- Cái này lại khác. Ý bạn muốn bàn đến những truyện
tình mang nhiều dục tính, những quyển dâm thư, những "bảy
đêm khoái lạc thời đại?"
- Ðiều đó cũng tùy theo quan niệm người đọc. Về phần
tác giả thì có người trình chiếu phim R nhưng cũng có người
dựng lên phim X. Có người bảo đó là cái ý chính nhưng cũng
có người bảo đó chỉ là cái cớ. Có người lấy làm cứu
cánh nhưng có người cho là phương tiện. Tuy nhiên, nói gì
thì nói, tôi đã có kinh nghiệm một điều, viết dâm bôn
dâm đảng là đi vào tuyệt lộ, mất độc giả.
- Bạn nói sao? Tuyệt lộ? Này bạn, xin hãy thêm một
lần nữa. Tôi mời, xin hãy cùng tôi lang thang đi vào tuyệt
lộ, nếu bạn không chê, không trách...
Nhiệm vụ của tôi là bằng mọi giá phải mở cho được một
"hộp thư" trong vùng Ðồng Tháp Mười. Một "hộp thư thứ
thiệt," hiểu theo nghĩa của những người làm tình báo. Ðó
là chỉ thị tối mật của phòng phản gián, Phủ đặc ủy trung
ương tại Sài Gòn. Tiền mật phí thì xếp đã chi trước
cho tôi, tương đối rất sòng phẳng và rất xộp. Ðiều
này chắc chắn sẽ giúp tôi dễ dàng hơn trong công tác tuyển
mộ mật báo viên.
Tôi theo tàu hải quân, vượt kinh xáng Tuyên Nhơn đi vào vùng
hoạt động. Ðể hòa mình vào cảnh giới tôi sẽ phải sống,
tôi đóng vai một trung úy hải quân, với cái tên mới Ngô Thừa
Dũng. Hải quân Trung úy Ngô Thừa Dũng, với đầy đủ các
giấy tờ tùy thân, sự vụ lệnh, kể cả giấy chứng chỉ
tại ngũ và căn cước quân nhân do thiếu tướng Nguyễn Xuân
Trang ấn ký.
Thật ra, tên tôi là Vong. Ðúng hơn là Vông vì chị hai tôi
tên Tầm, tầm vông... hiểu theo nghĩa tầm vông vạt nhọn trong
thời kháng Pháp. Nhưng mấy ông xã ông chủ ở nhà làng không
chịu để ý (hay không rành chính tả cũng không biết chừng?)
lại sửa tên chị hai tôi thành Tằm và tên tôi thành Vong, mới
khổ. May phước, tôi không có đứa em nào, bằng không,
chắc nó phải mang cái tên Vạt hơi khó kêu.
Nói cho cùng, giữa hai chữ tầm vông và hai chữ Tầm Vu, nơi
chúng tôi sinh trưởng, chẳng biết ba má tôi quí mến hai chữ
nào hơn mà để xảy ra cớ sự như ngày hôm nay? Vương Giải
Tằm và Vương Phóng Vong, bởi hai cái tên nghe kỳ kỳ lỗ tai
đó mà hai chị em tôi cứ bị chúng bạn ở trường trung học Long
An chọc quê hoài. Thuở đời nay, ở thời buổi văn minh có
cả máy IBM chấm thi, mà còn cầm "tầm vông" đòi đi "giải
phóng" quê hương thì... chán quá. Nhưng dầu sao đi nữa tôi
vẫn hiểu và thương ba má tôi. Cũng như hiểu và thương
những ai đã sống trong thời kháng chiến chống thực dân.
Ðã cố tình đem ý chí bất khuất của mình gửi gấm vào
tên con. Vào thời đó, những kẻ có lòng ai mà lại dửng
dưng, không đi làm cách mạng chớ?
Hai bên bờ kinh dẫn vào vùng Tuyên Nhơn, Mộc Hóa có nhiều
đoạn chỉ toàn là ruộng lác mọc cao như đám trúc hàng rào.
Sát bờ kinh, ô rô, cóc kèn, cám, bần, đước... dây
nhợ chằng chịt. Mấy lúc mực nước xuống thấp, tàu chạy
chưn vịt quậy luôn cả bùn đen, đứng dưới tàu nhìn lên bờ
tưởng chừng như đang đi giữa hai vách núi. Nếu lỡ bị Việt
Cộng tấn công trong những đoạn hạn hẹp này, súng trường kể
như dẹp, chỉ còn mỗi loại súng phóng lựu M 79 là còn hữu
hiệu. Bởi vậy đừng nói đi hải quân là mang trong mình chử
thọ. Ðó là chưa nói đến vô số các loại mìn Việt Cộng
thả đầy trên kinh.
Ngay giữa trưa của một ngày cuối đông, hai chiếc Alpha, một
loại tàu mới của Hải Quân Việt Nam, đã đưa tôi đến căn
cứ an toàn. Lúc băng qua cột cờ về trại theo sự hướng
dẫn của ông thượng sĩ quản nội trưởng tôi bỗng gặp Long,
một thằng bạn thân cùng lớp hồi mấy năm trung học đệ nhất
cấp. Bây giờ đeo lon trung sĩ nhất. Long rất đỗi ngạc
nhiên khi nhìn thấy tôi, vồn vã hỏi:
- Ê Vong, sao mầy đi đâu đây? Mầy vô hải quân hồi nào?
Tôi rất ái nái tưởng như mình đã bị lộ tẩy, nhưng vội
trấn an, làm tỉnh trả lời:
- Lâu rồi. Tao đi lính trước mầy mà.
Rồi nghĩ thầm, phải chi mình cải trang thành tên chuẩn úy,
thiếu úy thì hợp tình hợp lý với Long hơn. Nhưng chắc chắn
Long không thể nào nhận ra bộ mặt thực của tôi, một nhân
viên dân chính trong bộ quân phục. Chính tôi đôi lúc còn không
nhận ra tôi nữa là. Quyết không để hắn hỏi thêm một câu
nào nữa hết, tôi hỏi dồn:
- Mày đi lính hồi nào? Khóa mấy? Bây giờ đang giữ chức
vụ gì ở đây?
- Khóa 7/72, mùa hè đỏ lửa. Tao làm thuyền trưởng Alpha.
Lại Alpha, làm như Hải Quân Việt Nam chỉ có mỗi một loại tàu
duy nhất. Tôi hỏi tiếp:
- Mày đang ở khu nào?
Long chỉ tay về phía khu gia binh, nhìn tôi nghi ngờ. Tôi đi
thụt lùi theo ông quản nội trưởng vài bước, vừa trông theo
nó vừa nói vói thêm một câu:
- Lát nữa tao qua kiếm mày nói chuyện chơi. Bây giờ phải
đi ngay. Có việc quan trọng.
Có lẽ Long đã nhận chân ra tôi vì hồi xưa, lúc ngồi chung
một lớp đệ tứ ban B, tôi cũng ù ù cạc cạc như nó. Mấy
đứa giỏi, làm toán chạy đua lúc nào cũng đem lên thầy chấm
trước, thì mới được để ý. Ðám ngồi dưới bàn chót
như nó với tôi thì có ai coi ra gì. Bởi vậy cứ hay
bị gọi là "dân ở xóm nhà lá" thì củng phải. Nhưng trường
đời khác hơn trường học, ai thành công ai thất bại mấy ai
học được chữ ngờ.
Tắm rửa sạch sẽ và cơm nước câu lạc bộ đâu đó xong xuôi,
tôi nằm phòng lạnh nghĩ xả hơi đợi đến xế chiều mới bang
qua khu gia binh tìm Long. Nó nghi ngờ thì mặc nó nghi ngờ, tôi
không thể nói thật thân thế của tôi cho nó biết. Nghề
nghiệp mà. Nhưng mục đích chính của tôi là qua kinh nghiệm
của nó, khai thác nó nếu cần, tìm cách lân la ra các xóm,
các ấp có dân cư đông đúc. Không kể chi khu, quận lỵ,
và các xã lớn. Tôi chỉ nhắc lại chuyện xưa với Long hồi
còn đi học. Những kỷ niệm cua đào, giành gái, rồi đánh
lộn nhau ở sân vận động như cơm bữa của bọn con trai chúng
tôi. Phải làm vậy cho sự cách biệt giữa cái lon trung úy
của tôi và cái lon trung sĩ nhất của Long bớt đi phần nào.
Cùng với một đám bạn độc thân ở chung nhà với Long, đám
thủy thủ còn con nít trân, không khác gì Long và tôi mấy thì
đúng hơn, trong lúc lai rai mấy lát xoài sống với chai ba
xị đế, tôi đã tìm được một cơ hội tốt. Chẳng khác
nào đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Hên quá, Long cho tôi
biết chiều nay đến phiên nó phải xách tàu đi công tác, tuần
tiểu. Cùng với ba chiếc khác. Tôi ngõ ý muốn đi theo chơi
(thật ra là đi làm ăn) một chuyến. Long vẫn còn hoài nghi,
giả lả:
- Ý của "trung úy" muốn "thanh tra" tụi này tại chỗ hay là
muốn "bụi đời" với tụi này một phen đây? Ðù má, nói
cho... mầy biết trước, con gái ở ngoài xóm quanh đây tình
không chỗ chê. Dĩ nhiên mày cũng phải biết điệu nghệ và
có chút đỉnh "địa" nghen Vong.
- Ối, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó. Tao đãi mầy một
chầu, nhớ tìm chỗ nào thiệt thơm nghe mậy. Tụi mình mấy
thuở mới gặp lại nhau.
Long không ngờ là chiều ngày đó tôi dám xách ba lô xuống tàu
đi công tác với nó. Tôi vẫn mặc bộ đồ bạc màu hồi xế,
nhưng tháo bỏ cặp lon. Không có cặp lon thì trông tôi cũng
giống như một hạ sĩ quan, một đoàn viên hải quân không hơn
không kém.
Tôi chẳng biết Long dẫn đoàn tàu đi đâu, chỉ biết chiếc
của nó chạy đầu. Ðược một hai tiếng gì đó thì mặt trời
xuống thấp. Nhìn hai bên bờ lẳng lặng một màu xanh. Ghe
xuồng của dân hầu như vắng bóng. Sông rạch ở đây chằng
chịt, hình như chỗ nào cũng có những đường lạch nhỏ ăn
thông ra kinh xáng. Giá không có chiến tranh thì nơi đây cũng
là một trong những nơi êm đềm, thanh thản, thần tiên. Gió
nội trăng ngàn trải trên những đồng cỏ ngập nước bao la.
Một chiếc thuyền con lướt nhẹ qua những bàu súng, những hồ
sen thiên nhiên trong hương thơm thoang thoảng của đất trời.
Một đôi én bay lượn vòng quanh như đồng tình với cặp tình
nhân đang độ uyên ương, gắn bó, hòa mình trên sóng nước
lăn tăn. Ôi, tình ơi là tình!
Long cho tàu ủi bãi (cắm mũi vào bờ) tại Xẻo Quau, một ngã ba
vàm. Ba chiếc kia rồi cũng lục tục làm theo. Bốn chiếc gom
lại cùng một lúc mới thấy ồn ào hơn cái chợ. Nào tiếng
máy, tiếng gọi nhau, tiếng chửi thề ơi ới. Vì mực nước
còn cao nên tôi có thể nhìn sâu hơn vào bờ. Cái xóm có
độ năm bảy chục nóc gia thì phải. Có vài nhà đã lấp ló
ánh đèn đêm. Xa xa cũng có lũy tre non bao bọc, và còn thấy
mấy đụn rơm. Một lối đi ngoằn ngoèo dọc theo bờ kinh và
con rạch lớn. Rải rác đây đó nhiều đám cỏ màn chầu
đầy bông, cọng vương cao như đòng đòng mới trổ.
- Lên đây chơi mầy, Vong. Tao giới thiệu mày cô chủ quán
đẹp mê hồn. Bảo đảm với mày là không bao giờ mày tìm
được một người như vậy ở cái xứ Sài Gòn, hay ngay cả
Tầm Vu, Long An, Chợ Gạo, Mỹ Tho.
- Ðẹp dữ vậy sao? Mầy nên nhớ là càng đẹp càng nguy
hiểm. Hoa hồng nào chẳng có gai, hoa càng bự gai càng lớn
nghe mậy.
Tôi nói như vậy chẳng qua chỉ vì bị nghề nghiệp ảnh hưởng
mà thôi. Nhưng Long nào để ý tới. Hắn lại làm anh hùng,
xung phong đổ bộ trước tiên. Không quên sờ lại khẫu P. 38
nằm dưới lần áo bên nách trái, tôi nối đuôi Long nhảy lên
thềm bờ cỏ. Một đám, năm bảy tên thủy thủ phóng theo.
Tất cả hướng về một mục tiêu, chỗ có ánh đèn măng sông
sáng chói. Từ xa tôi lờ mờ nhìn thấy cái quán nhậu chỉ
là một căn nhà vách ván, lợp tôn, nền xi măng.
Quán có bốn bàn vuông kê hai bên vách và một bàn tròn ngay
chính giữa. Xài toàn ghế đẫu lổng chổng. Một quày hàng
thấp kê trong góc vừa làm chỗ tính tiền vừa làm chỗ nấu
nướng. Phía sau là tấm vách bổ kho đóng đứng ngăn cách
phần tiệm và nhà ở. Một tấm màn the màu lục treo trên cửa
ra vào. Bọn tôi vì đông người nên chiếm cái bàn tròn cho
tiện. Ba anh chàng bà ba đen, chẳng biết xây dựng nông thôn,
nghĩa quân, hay Việt Cộng dòm chúng tôi lom lom.
Nghe tiếng ồn ào, chị chủ quán từ phía sau buồng bước ra.
Một người đàn bà tuổi có lẽ ba mươi ngoài với đồi ngực
hơi trễ xuống một chút. Khuôn mặt đầy đặn với cặp
mắt to và đôi mày rậm. Tóc uốn dợn bỏ lưng chừng, thích
hợp với vóc dáng, đít mông và cách ăn mặc còn mượt mà như
gái một con. Tôi hơi ngạc nhiên vì những thứ không mấy gì
nhà quê trên mình chị. Tuy chỉ là quần lãnh đen, áo sơ-mi
bâu lật, xẻ vạt bầu màu hường nhạt, với nhiều bông hồng
lấm tấm thêu dọc theo các đường biên. Thế thôi. Nhưng
tất cả những món đó chỉ làm nước da trắng bạch của chị thêm
phần liêu trai, hư ảo.
- Chị Hường, lại đây tôi nói nhỏ chuyện này chị nghe.
Long lên tiếng. Chị ung dung bước tới đứng cạnh Long nhoẻn
miệng cười:
- Gì nữa đây chú Long? Bữa nay sao không thấy thiếu úy
của chú tới?
Tự nhiên như ruồi, Long ôm sát chị Hường vào người, tay
đặt lên đôi mông láng lỉnh xoa nhè nhẹ, thỉnh thoảng nhịp
nhịp mấy đầu ngón tay:
- Thôi đi bà. Lúc nào bà cũng để ý tới mấy ông thầy
của tôi, còn tụi này bỏ cho chó ăn chắc. Giới thiệu với
bà đây là trung úy Vong vừa mới xuống thanh tra đơn vị tôi
đây.
Tôi lễ phép:
- Dạ, chào chị.
- Chú mới tới hả? Trước lạ sau quen mà. Ở đây riết
rồi ai cũng vậy thôi, phải không chú Long?
- Ai cũng như ai sao được. Ông thần thanh tra này khác,
chị ơi. Bây giờ chị cho tụi này một kết bia lớn dằn chưn
coi. Rồi "đồ nhắm" bữa nay có món gì lạ không?
- Thì cũng có mấy con khô như mọi khi. Bằng không thì cây
nhà lá vườn, xoài tượng, chùm ruột, cóc được hôn? Nè
chú Long, nếu chú muốn uống nguyên thùng thì chắc chú phải
tự đi khiêng lấy. Phận tôi liễu yếu đào tơ không khiêng
nổi cho chú đâu. Lấy cho một chai thì tôi lấy được.
- Khoan đã bà, tôi hỏi bà "đồ nhắm" thứ thiệt kìa,
chớ còn ba con khô dai nhách của bà thì ai mà không biết.
Chị Hường hiểu ý, cười hả hả:
- Có tui nè. Làm gì mà gấp gáp dữ vậy cha non. Chưa chi
đã muốn ăn tươi nuốt sống con người ta hà.
Rồi chị bỏ vào trong lo đi làm đồ nhậu. Trong khi mấy thằng
em tự động nhảy lại bưng mấy thùng bia, Long chồm qua vai tôi,
nói nhỏ:
- Bả coi được chớ mậy. Ðù me, cái tên mầy nghe quái
đản quá! Trung úy Vong, chẳng khác nào mạng vong hay vong hồn
tử sĩ, thì còn ra cái thể thống gì nữa, làm như trung úy
giả không bằng. Ê, chồng của bà Hường nghe nói đi hành
quân dài hạn, mút mùa lệ thủy, lâu lâu mới về một lần.
Tụi hải quân mình biết tẩy bả nên cũng dụ bả nhảy dù chút
chút vậy thôi. Cũng có lắm thằng mê bả nghen mậy. Trong
tương lai chẳng biết có tay nào dám làm gan nhảy ra bảo bọc
cho bả suốt đời không. Tụi mình cứ tùy cơ ứng biến.
Lạng quạng mà thằng chả vọt về ngay trong lúc phe ta đương
nhập cuộc hả, thằng chả dám vác súng ria đám mình chạy
xuống tàu, xách quần không kịp đó.
Bỗng nhiên, tôi thèm được học bài học nhảy dù với người
đẹp. Tôi lên tiếng:
- Chị Hường, cho tôi xin một gói Pall Mall chị.
Chị liếc xéo tôi một cái, nở nụ cười tình. Trong một
thoáng, tôi thấy tay chưn tôi hơi bủn rủn. Ðể dằn mặt cho
thằng Long khỏi nghi ngờ tôi là trung úy giả, lúc chị Hường
đem thuốc ra, tôi móc trong túi một xấp giấy Trần Hưng
Ðạo cầm tay. Chỉ cần một tờ thôi cũng đủ sức qua cầu,
tôi nói:
- Trả chị liền để quên, khỏi thối chị.
Thiệt tình tôi cũng thèm đặt bàn tay lên cái mông láng lẩy
đó như thằng Long, nhưng tôi chưa làm được. Vẫn còn cái
gì ngăn cách xa lạ. Nhưng, bỗng dưng chị xà vào chiếc ghế
bên cạnh tôi, ôm tôi ngang eo ếch, rồi kề tai thủ thỉ:
- Ăn nhậu cho đã đi rồi lát nữa chị sẽ tính với cưng.
Thằng Long nhìn tôi cười cười, ngụ ý như tôi đã phất cờ
chiến thắng. Tôi khuỳnh tay, nhún vai đáp lời như đó chỉ
là lẻ tẻ, chẳng có gì đáng quan tâm. Chị Hường vụt nhỏm
dậy bỏ đi. Mùi đàn bà pha lẫn mùi nước hoa nồng nồng
như loảng dần theo nhịp bước. Và sau cùng, dĩ nhiên, một
màn ăn nhậu thuần túy lại có cơ hội diễn ra...
Trong đời làm nghề "đi dây tử thần" của tôi, nói không
ngoa, chỉ có uống rượu là tôi hơi vụng về. Chỉ cần vô
độ bốn năm chai là tôi bắt đầu ngà ngà say. Bằng cách phá
mồi thật nhiều, tôi ráng sức cầm cự với bọn lính tàu,
đứa nào đứa nấy đều là hũ chìm. Món sau cùng tôi đưa
cay hình như là dĩa thịt gà xé phay trộn rau thơm. Gà xé
phay? Ðào ở đâu ra lẹ vậy cà? Tôi cố nhớ hình như lúc
nãy mới bước chân vô quán, chị Hường, hay bây giờ em
Hường gì cũng được, có tuyên bố quán này chỉ đãi toàn
là khô kia mà. Ðúng rồi, tôi đã ăn nhiều thứ khô lắm:
khô mực, khô thiều, khô cá đuối, khô cá hố, và cả mấy
xâu tôm lụi. Tôi biết mình rõ ràng đang ở trong tình trạng
không mấy tỉnh.
Nhìn quanh một vòng, tôi thấy không còn ai ngoài bọn tôi.
Trong lúc đám thủy thủ ăn nói hơi lớn tiếng, cãi lộn cũng
không biết chừng, thì có người cầm tay tôi kéo đi. Do
phản xạ, tôi chụp tay người đó và trì lại. Một cảm giác
lạ lướt qua. Một bàn tay đàn bà êm êm, mát mát. Rồi
không ngần ngại, tôi nhỏm dậy, vòng tay ôm ngang eo người
đẹp bước đi. Tiếng hô vô, vô, vô... vang lên vang dội.
Chẳng biết vô rượu hay vô buồng. Rồi vì bản năng tự vệ,
tôi vụt hỏi:
- Em dắt anh đi đâu đây?
- Cưng vào trong này nghỉ cho khỏe. Cưng say rồi. Ngồi
ngoài đó một chút nữa là cho chó ăn chè.
Tôi loạng quạng bước theo người đàn bà, thều thào:
- Say đâu mà say. Anh còn biết em là ai mà.
Rồi tôi hôn lên mắt lên môi nàng tưới xượi hột sen. Nàng
chiều tôi cũng có mà né tránh tôi cũng có. Nàng sợ hơi men,
hơi đàn ông chăng? Nàng đặt tôi ngồi xuống cạnh giường
rồi chỉ cần một cái ấn nhẹ, người tôi bỗng ngã ngang.
Nàng túm hai chân tôi thảy lên giường gọn lỏn. Nguyên con thả
thác lác trên chiếc chiếu bông. Bản năng tự vệ của tôi lại
nổi lên lần nữa (hay vì bị cấn dưới bẹ sườn?), tôi thò
tay vào nách lần khẩu P. 38 cho đúng vị thế. Nàng kéo tay tôi
ra, trừng tôi một cái như bảo để yên đó, rồi tự tiện
mở từng nút áo trận trên người tôi. Nàng lườm tôi một
lần nữa khi thấy khẫu súng. Tôi cười tình, thú tội. Có
lẽ bây giờ nàng mới nhận ra tôi là một "ông thầy" thứ
thiệt của thằng Long. Lòn tay dưới lưng tôi mấy bận, lần
hồi nàng cũng cởi được chiếc áo. Tôi cảm thấy lạnh lạnh,
tôi muốn được nàng đắp cho cái mền. Nhưng không, nàng đã
di chuyển xuống hạ bộ và tiếp tục lột quần tôi. Tháo cái
bút nịt, kéo sợi fermature. Chừng tuột cái quần xuống khỏi
mông nàng mới hay còn kẹt đôi giày. Nàng quay lại liếc xéo
tôi một cái nữa. Tôi vụt lồm cồm ngồi dậy, định giúp
một tay, nhưng bị nàng xô ngã nằm trả trở lại. Nàng từ
từ cởi giày, vớ. Nàng thích làm như vậy? Nàng thích nhìn
tôi từ từ trở về nguyên thủy? Hiện nguyên hình trong
bộ đồ sinh nhật đầu tiên. Nhơn chi sơ tánh bổn thiện.
Thôi thì tùy hỉ, mặc nàng muốn làm gì thì làm.
Nàng đứng thẳng dậy, thở hắt một hơi dài. Có lẽ nàng
mệt vì đã ra sức lo cho tôi. Hay nàng mệt vì trái tim đã
nhảy không đều? Bao nhiêu lâu rồi nàng thiếu vắng hơi hướm
đàn ông? Rồi với một điệu bộ khoan thai hơn, nàng từ
từ tự lo cho chính mình. Từ dưới đi lên, từng cút áo mở
tung ra. Lúc nàng vương vai, phành ra, uốn éo trút bỏ những
gì vướng vít trên thân tôi bỗng rùng mình. Nàng đã đổi
khác, nàng đẹp quá. Dưới làn da trắng mịn như sữa dê.
Nàng như đã từ trong ngọn đèn bong bóng bước ra. Những sợi
tóc huyền óng ánh xõa xuống trên một bên ngực trần như một
màng tơ mỏng, nửa che nửa hở. Mượt mà quyến rủ hơn khi
nàng ung dung cúi xuống, cởi nốt phần dưới. Nàng đã thật
sự liêu trai, trần truồng và tôi nhìn trân trân không chớp
mắt. Nàng khẻ liếc nhìn tôi mỉm cười rắn mắt khi biết tôi
đang lên cơn, động cỡn. Có lẽ nàng đã tự tin rằng, với
vũ khúc nghê thường thoát tục không xiêm y của nàng vừa mới
diễn, Phật với Chúa trên bàn thờ rồi cũng nhảy xuống
mà thôi.
Nàng xà vào người tôi nằm chồng lên bụng, chu mỏ nói trong
hơi thở đứt đoạn:
- Làm gì ngó người ta dữ vậy, ông thần?
Chẳng biết làm gì khác hơn, tôi xiết nàng dán chặt vào
mình. Ðồi ngực trễ tràng giờ như đã cương lên, cứng
cứng. Tôi ngoạm một đầu vú vào miệng, núc núc, nhai
nhai. Thân dưới tôi, một con ba ba rong rêu lông lá đang
bị đè sát vào người, cộm cộm, cấn cấn...
Bỗng nhiên, tấm rideau che căn phòng tình ái vụt mở tung. Tôi
ngỡ ngàng phát hiện hai ba cặp trần truồng như nhộng đang
xà nẹo ôm nhau uốn éo trước mặt. Thì ra không ai khác hơn
mấy ông bạn vàng thủy thủ của tôi và mấy "em," mấy mụ sồn
sồn xa lạ. Bộ tụi này hết phòng hết chỗ hay sao mà nhào
đại vô đây? Tôi xìu ngang, ngóc đầu dậy định chửi đổng
vài câu phản đối. Nhưng chị Hường, chẳng buồn phải thay
đổi vị trí chi hết, lên tiếng:
- Tụi bây làm gì kỳ vậy? Thì cũng phải thủng thẳng chờ
tụi tao chớ!
Ðể đáp lại lời khuyến cáo thiếu tiền bảo chứng của gia
chủ, nhiều tiếng cười the thé, ghê rợn nổi lên. Rồi
không ai bảo ai, ào ào cả bọn tranh nhau phóng lên giường chồng
chất lên nhau. Tôi nằm dưới bị đè thiếu điều muốn nghẹt
thở. Tiếng cười cợt, hò hét bên trên càng lúc càng chói
lói, nhức tai. Tôi bèn lấy hết bình sinh vẫy vùng như cá
vượt vũ môn. Thoát được cảnh hồ ly mê hồn trận đó, tôi
muốn hụt hơi. Nhưng được một điều nó làm tôi tỉnh rượu
hẳn. Tôi chụp mớ quần áo dưới chân giường mặc vội lên
người (quên mất mẹ khẫu P. 38 bị vứt trong xó góc).
Xong xuôi đâu đấy, chừng ngước lên tôi rất đỗi ngạc
nhiên khi thấy một em bé trạc độ mười lăm mười sáu tuổi
đứng ở cửa sau nhìn vô. Tôi ngượng ngùng nhăn mặt như khỉ
cười làm hòa với em. Em ngó tôi chầm chập trong bộ quân
phục. Hay đống thịt bầy nhầy phía sau? Tôi vụt kéo tấm
rideau che lại. Với chiếc áo bà ba bằng phin trắng đã đổi
màu ngà và chiếc quần vải đen trên người, tôi đoán em đang
sống trong một gia đình lam lũ. Giựt mình, tôi sờ lại túi
tiền. Hên quá, còn nguyên. Hóa ra mình nghi oan cho con bé.
Với từng ấy tuổi, liệu khối óc non nớt của em có bị ảnh
hưởng gì không, trước những cảnh làm tình, làm tội của
người lớn. Như có gì khác hẳn với những đứa bé miền
quê, dưới mái tóc suông, cắt bôm-bê buông thòng chấm vai,
tôi thấy khuôn mặt em trông rất sáng sủa, thông minh. Ðôi
mắt tròn đen láy với cặp chưn mày dài và rậm phủ trùm đuôi
mắt. Nam xem mắt nữ xem mi, đôi mi dài là tốt. Nhưng em
là ai? Trong cảnh tối tăm hỗn độn này? Tôi khoác tay,
ngoắc em lại. Tôi muốn ôm em vào lòng. Chính em mới là
người đáng để tôi quan tâm. Trong giây phút này. Em bước
tới. Vòng tay tôi đang mở rộng, đón chờ. Nhưng không,
em nắm tay tôi vụt kéo đi.
Qua ngạch cửa nhà sau, tôi thấy một cái chái trống lổng
trống trơn, cất tiếp theo mái nhà với những thanh tre đan
thành ô vuông lớn. Một cái võng mắc chéo từ góc này sang
góc kia. Tôi thèm đặt lưng lên đó và được ôm em như ru
người tình. Nhưng em nhứt quyết kéo tôi chạy tiếp. Tôi
vùng vằng ngó lại chiếc võng như tiếc một giấc mơ đẹp rồi
buông mình bén gót theo chân em. Trời bên ngoài đẹp và mát mẻ
quá. Ánh trăng rằm tỏ rạng trên ngọn cỏ cành cây lấp lánh
sương đêm. Tôi thấy tôi bay bay cùng em trong bóng trăng.
Dưới chân tôi hình như đã không còn lối đi, chỉ còn mỗi
một lớp cỏ mượt mà như nhung lụa. Thần tiên. Thần tiên
hơn nữa khi chúng tôi lọt vào khu rừng huyền bí. Em đã đi
chậm lại và cho phép tôi quàng tay ôm ngang lưng. Phải vạch
từng cành cây giăng mắc trước mặt, trên đầu để tìm lối
đi. Ánh trăng vàng không rời bỏ, xuyên lá rừng rơi từng
đốm nhỏ trên thân em. Tôi muốn dừng lại đây. Tôi muốn
ngủ với em giấc ngủ nghìn thu trong khu rừng thơ mộng này.
Trọn đời trọn kiếp.
Nhưng chúng tôi đã đến bìa rừng và trước mặt tôi hiện ra
một cây rơm to lớn. Bên cạnh, hai con trâu một đứng một
nằm đang ung dung, bình thản nhơi cỏ đêm. Tôi ngã người lên
lớp nệm thiên nhiên và kéo theo em té xấp lên tôi. Tiếng
cười khúc khích hồn nhiên của em làm tôi tưởng chừng như
đó là một sự đền đáp hết sức tuyệt vời của tạo hóa
dành cho công trình của em, công trình đã dụ dỗ được một
chàng trai chịu chơi trò ú tim với mình. Em đã thành công,
đúng vậy, vì tôi đang đến với em bằng tất cả tấm lòng
mà tôi biết, suốt đời tôi rồi sẽ không bao giờ quên.
Tôi vụt hỏi:
- Em tên gì?
- Em tên Lệ.
- Tên em nghe sao buồn quá. Còn anh tên Dũng, Ngô Thừa Dũng.
- Thiệt vậy hả?
Tôi trả lời em bằng cái hôn môi. Em đẩy tôi ra. Tôi hơi
ngỡ ngàng, quờ quạng. Cứ sợ như vô tình đã làm tiêu tan
hạnh phúc của mình. Nhưng em lại xáp vô, hôn tới tấp lên
mắt, lên mũi tôi, lên môi tôi. Tôi há miệng đón nhận
những giọt tình ướt sũng. Em đã dạy tôi từ giây phút đầu
tiên. Một bài học tình ái vỡ lòng. Ðược trớn, tôi vùng
dậy trở mình đè em xuống dưới. Trong im lặng mò mẫm, tôi
lòn tay dưới áo em mân mê đầu vú, một đầu vú trinh nguyên
con gái nhỏ nhỏ như vú cau. Người em ưởn lên, ừ è vài
tiếng trong miệng tôi, đứt khoảng theo nhịp tim cơ hồ như
sắp vỡ. Tôi xoa xoa, bóp bóp nhè nhẹ hai vú em đã cương
cứng, ấm ấm trong lòng bàn tay. Tôi lần xuống lưng quần,
đi sâu vào vùng chiến địa. Những sợi cỏ non mềm mại phủ
ngọn đồi dã chiến êm êm. Ðôi bàn tay bấu víu trên lưng tôi
vụt lơi ra, chụp lấy tay tôi kéo lên. Kéo lên. Kéo lên
nữa. Rồi em xô tôi ra, thiệt tình xô tôi ra, lồm cồm
nhỏm dậy chạy băng qua khu rừng phía bên kia. Tôi chới với
phóng chân đuổi theo như con sư tử sợ mất con mồi. Tôi
khẻ kêu em trong đêm:
- Lệ, em làm gì vậy. Chờ anh với...
Em không thể đi nhanh hơn tôi trong khu rừng đầy bụi rậm, mặc
dù tôi đang phải đi hàng hai, nên tôi đã bắt kịp. Tôi giữ
em lại và đứng hôn em giữa trời, ngập tràn những chùm tơ
vàng óng ả. Một tay quàng ngang lưng, một tay bợ dưới mông
tôi ôm em sát vào người hơn. Sát hơn tí nữa. Tôi không
muốn đi đâu hết, tôi muốn cả hai sẽ bị trời trồng nơi
đây. Sẵn sàng hóa thạch cùng với những thân cây sừng
sững đang đứng chịu tang kia. Bằng không tôi sẽ đè em xuống
cỏ, làm lại từ đầu. Nhưng em lại đẩy tôi ra, cầm tay tôi
lôi tới, hối:
- Ði.
- Ði đâu?
- Ði theo em.
Ði theo em? Không hài lòng cho lắm nhưng rồi tôi cũng lừng
khừng, lủi thủi bước theo. Ðược một đỗi, một căn nhà
lớn xuất hiện. Mái lá vách lá như tôi thấy trong đêm.
Ðến phía trước nhà, chẳng ai bảo ai, hai đứa tôi tự động
lách mình qua những cây song vuông chõi làm cửa và vách phía
mặt tiền. Bên trong, phân nửa nhà trước được ngăn cách
với phần sau bằng hai tấm bổ kho chắn hai bên. Ở giữa
có hai hàng giáo mác sơn son thếp vàng và sâu vào trong một
chút có một bàn thờ với ngọn đèn lưu ly. Thì ra đây là
một cái đình (dân trong xóm thường gọi là "nhà lân" như tôi
biết sau này). Hóa ra em còn ngại ngùng vì cảnh tôi hăm hở
đòi thương yêu em ngay giữa trời không quang đãng? Nhưng ở
trong này thì có thú vị gì hơn? Gian phòng trống trơn, một
manh chiếu rách cũng không có nói gì nệm ấm chăn êm. Tôi
tóm được một cái bao giấy xi-măng tình cờ đá bừa dưới
chân. Tôi đem trải trong góc phòng, định làm chỗ ngồi cho
cả hai. Tôi thì thầm:
- Lại đây với anh, Lệ.
Em nghe lời tôi, mò mò lại gần. Vừa đụng thân em, như không
thể chờ đợi lâu hơn được nữa, tôi ôm và vật ngửa em
lên bao xi-măng. Em không kháng cự, có lẽ vì nhìn lên trời
bây giờ đã có mái đình che khuất những vì sao? Ôi, thân
em như tấm lụa đào, giờ sao trở nên mềm mại, nhỏ nhắn
dưới thân tôi. Tôi dặn lòng hãy yêu em nhẹ nhàng, lây lất
suốt đêm nay. Hai đầu lưỡi tìm nhau trong tê dại. Hai bàn
tay mò mẫm, lục lọi khắp miền thân thể. Nơi nào cũng bừng
lên sức sống, cứng cứng, mềm mềm. Hai bàn tay bấu víu,
cấu cào trong đẩy đưa, nhập cuộc. Hai linh hồn càng lúc
càng dâng cao... Chợt có ánh đèn lồng chiếu sáng phía nhà
sau. Ông Từ thức giấc? Ông Từ đã phát hiện ra kẻ trộm
đã vào đình? Em bỗng giựt mình. Hai tay đẩy tôi lên,
hai chân chòi đạp mạnh tôi ra. Tôi cũng hết hồn bật ngồi
dậy. Em lượn người bò chun qua lỗ rách của tấm vách lá.
Tôi lật đật chuồn theo.
Thất kinh như đang bị ai rượt, em vụt chạy ra lối mòn ngoằn
ngoèo trước đình. Mặc dù đang tưng tức bên dưới, nhưng
không dằn được, tôi ba chưn bốn cẳng thi đua nước rút
với em. Một ngọn cỏ ống bên lề cắt mạnh vào tay tôi đau
điếng. Chẳng màng, bằng mọi giá tôi phải bắt kịp cái bóng
ma hời lăng quăng phía trước. Em liêu trai và tôi cũng liêu
trai, hai tấm thân chồn cáo biến thành người đang đùa giỡn
với nhau trong đêm trăng tỏ. Tôi chạy nhanh hơn, nhanh hơn.
Tôi chồm tới, phóng bắt được chân em té nhào trên vệ cỏ.
Em vừa cười hả hê vừa la chói lói:
- Ðừng anh, đừng anh...
Tôi gạt ngang:
- Ðừng cái gì mà đừng.
Tôi xốc em lên, bế nguyên con trên tay. Hai tay em câu vào cổ
tôi chặt cứng, hai chân giãy đành đạch. Tôi đi sâu hơn
vào trong tìm được một khoảng cỏ trống, đặt em xuống rồi
nằm đè lên người. Ðặt ngón trỏ lên miệng em, tôi
"xì... " một hơi dài. Em nghe lời, chịu phép. Không la
lối, phản đối một điều gì nữa hết, im lặng nhìn trăng
sao. Nhất quá tam, tôi bảo thầm trong bụng. Yêu em đi, yêu
em đi. Không cần phải mò mẫm sờ soạn nữa, tôi giựt bứt
luôn hàng nút áo, áp mặt vào ngực em. Môi tôi tìm đầu vú
và bất giác đôi bàn tay em nhè nhẹ ôm giữ đầu tôi. Với
năm ngón run run, tôi tháo từng khuy áo trận, lòn được một
tay, rồi một tay nữa, vứt được chiếc áo lính ra ngoài.
Lòi ra tấm thân dài lưng tốn vải dạo nào. Da thịt chà sát
vào da thịt bốc lửa giữa trời khuya. Tôi thò tay xuống lưng
em, kéo trịch một mép quần xệ xuống mông. Nhít nhít bên
này, nhít nhít bên kia, cho đến lúc thuận tiên, tôi co chân
móc ngón cẳng cái vào sợi dây thung đạp một đường dài
xuống gót. Em lại oằn oại, uốn éo đẩy tôi ra. Nhưng em
khó lòng thoát khỏi tay tôi phen này. Tôi đã có kinh nghiệm.
Bằng mọi giá tôi phải yêu em ngay bây giờ. Chực như muốn
khóc, em nghẹn ngào năn nỉ:
- Ðừng anh, anh... Anh, đừng hại đời em, anh...
Tiếng kêu thương càng làm tôi hùng hổ hơn. Hai tay tôi nắm
lấy hai tay em kéo căng ra, đè xuống, thị uy:
- Hại cái gì mà hại! Anh thương em không hết thì thôi...
Toàn thân em run lên rồi bỗng dưng em nức nở nghẹn lời:
- Tía ơi, tía, cứu con... Tía...
Tôi sững sờ buông mình rơi xuống thân em như một đống thịt.
Ðầu óc tôi bàng hoàng và tay chưn tôi rụng rời. Kêu gì thì
kêu, ba ơi, má ơi, anh ơi, chị ơi... cái gì cũng được,
đừng có kêu hai chữ "tía ơi" nghe sao nó quái đản lạ lùng,
nó xoáy vào óc tôi, vào tim tôi. Tôi chưa từng nghe ai kêu
cứu như vậy bao giờ. Rõ ràng, tôi đang hiếp dâm em có
phải? Như thế nào là yêu thương? Ôi, yêu thương với
thương yêu, tôi nào đã qua cầu? Con sư tử đói dục tình
trong tôi bỗng nhiên chùng bước. Tôi thở dài, ngã người
sang bên, ngửa mặt nhìn trời đêm. Một giây phút tẽ lạnh
thật dài trôi qua. Có lẽ em đang ngỡ ngàng vì tôi bỗng dưng
ngừng tham lam, chiếm đoạt. Có lẽ em đang hối hận vì lỡ
lời. Như chẳng biết làm gì hơn để đền bù, em trường
lên người tôi, áp má lên ngực tôi tuôn dòng nước mắt.
Tôi để tay lên tấm lưng trần bé bỏng thịt da, thoa thoa
như muốn xoa dịu cho em vết thương lòng...
Bất thình lình, tiếng súng cá nhân nổ dòn tan tứ phía. Như
rất gần. Trên đầu tôi, bên hông tôi. Và như đàng xa kia
nữa, phía bờ rạch, bờ kinh xáng, tôi đoán như vậy. Em túm
lấy mớ áo quần te tua mặc vội vào người rồi vụt chạy về
phía có nhiều tiếng bích kích pháo phát nổ rất lớn. Tôi
tròng được hai tay vào áo trận, để hở ngực trần buông
chạy theo em. Như thuộc lòng đường đi nước bước, cái
đốm trắng bỏ tôi càng lúc càng xa. Ở hướng đó, tôi chợt
thấy ánh lửa bốc cháy thật cao, khói đen cuộn mù trời
dưới ánh trăng khuya. Có phải nơi đó là cái quán nhậu của
chị Hường? Thôi rồi, có lẽ đây là một cuộc phục kích
nhằm đánh úp, tiêu diệt thủy thủ đoàn ăn nhậu của tôi.
Bọn thằng Long dốc lòng ăn dầm nằm dề ở đó đêm nay thì
làm sao thoát khỏi tử thần.
Một loạt AK xé nát màng tai tôi, vài cành cây gãy gục. Tôi
té xấp xuống mặt đất. Rờ rẫm thân mình, tứ chi xem có
bị thương không. Không. Tôi chực nhớ và rất tiếc là tôi
không có khẫu P. 38 của tôi trong tay. Nhưng chẳng biết sao,
tôi không hề nao núng. Bản năng thèm sống sợ chết của tôi
bắt tôi phải trường, bò rời khỏi nơi này ngay. Rồi nhỏm
lên chạy lúp xúp cho lẹ. Lại hụp xuống trường, bò.
Trong đầu tôi lóe lên ý nghĩ, cứ nhằm hướng bờ rạch mà
chạy tới thì chắc ăn. Bề gì lặn vài hơi tôi cũng có thể
tự đem mình ra kinh xáng. Còn hơn là đi thẳng ra phía kinh
xáng ngay lúc này chẳng khác nào đi vào vùng tử địa. Không
ăn đạn Việt Cộng thì cũng ăn đạn HQ từ dưới tàu bắn
lên. Tôi nhắm chừng vậy thôi chớ lúc đó tôi nào có biết
đông tây nam bắc, ất giáp gì đâu.
Chẳng bao lâu anh hùng tôi thấm mệt, kiệt sức khi bò đến
một cái miễu cất sát bờ rạch (miễu cây Xộp như tôi biết
sau này), đặc biệt cất quay hướng về bìa rừng thay vì quay
ra con rạch như những cái khác (dân trong xóm phải theo lời căn
dặn của người khuất mặt mà cất miễu cho đúng hướng).
Tôi chui vào đó, gạt hết nhang đèn tìm chỗ nằm làm một
giấc tới sáng. Trong mơ màng tôi nghe tiếng mưa rơi tầm tã
suốt đêm...
Ngày hôm nay, có lẽ không còn ai có thể tìm ra được cái xóm
Xẻo Quau trong vùng Tuyên Nhơn, Ðồng Tháp Mười. Mà ở Tuyên
Nhơn làm gì có Xẻo Quau? Thật ra, từ lâu, Xẻo Quau đã
bị xóa trên bản đồ Việt Nam. Cái gì lại không mất khi Cộng
sản bước vô! Xẻo Quau, tôi gọi như vậy để kỷ niệm một
mối tình, vì hồi đó tôi thường thấy chung quanh tôi toàn là
quau, vẹt, ô rô, cóc kèn, bình bát... Và đặc biệt nhứt
là những dây cám, cho trái cám tròn tròn với lớp da sần sùi
và cái hột cám bên trong đôi khi có tượng hình con cá.
Nhưng, thật ra, Xẻo Quau có cái tên thật của nó mà tôi muốn
dấu. Chẳng qua chỉ vì nơi đó là quê của Lệ, vợ tôi.
Trong đêm đó chúng tôi đã mất đi hai người thân,
chị Hường, má của Lệ, và Long bạn cùng lớp với tôi. Và
nhiều người khác nữa, trong cái quán không tên cháy thành
tro bụi đó. Việt Cộng luôn luôn xài người theo kiểu vắt
chanh bỏ vỏ, không nao núng khi cần phải thí quân, giết luôn
cả cán bộ nồng cốt, trung kiên của mình. Xẻo Quau, tôi
hay gọi đùa với Lệ là nơi đã đưa tôi vào tuyệt lộ, đúng
ra phải gọi là..., là...
* Lấy ý trong
Nghe Mưa
của Kiệt Tấn.
back to top
05. MỘT CHIỀU XUÂN RỘN RÃ MEN SAY
NGUYỄN TẤN HƯNG
Bảy Thất tên thật là Nguyễn văn Bảy. Giống như anh chị em
của anh, cha mẹ anh không tìm ra cái tên nào có ý nghĩa hơn.
Ngoài việc đánh dấu anh là đứa con thứ bảy trong gia đình.
Như một kỷ niệm riêng của hai người. Rồi có lẽ ông bà
già của anh còn nặng tình với chữ Nho, cho nên cũng y chang
như trường hợp của các anh chị đi trước, ông bà cứ gọi
anh bằng cái tên cúng cơm ở nhà, bảo đảm văn hoa hơn chữ
quốc ngữ nhiều: thằng Thất. Và đứa em kế của anh là
Bát. Hiển nhiên Bát có tên trong khai sinh là Nguyễn văn
Tám. Anh là đứa con áp út vì sau khi sinh Bát không bao lâu
mẹ anh mất. Chỉ vài tháng trước vụ tổng công kích Tết
Mậu Thân.
Bảy Thất đã sống trên đất Mỹ hơn bảy năm. Nghề nghiệp
chuyên môn của anh bây giờ là làm thợ "đục" cho một hãng
in. Anh là một trong mười mấy người đồng nghiệp. "Ðục"
là tiếng anh xài riêng cho anh cho có vẻ gồ ghề, chớ thật
ra ở Việt Nam mình người ta gọi là thợ "dộng" (anh đã từng
là phụ thợ máy dộng cho chú anh, vài năm sau 75). Nhưng để
gây cảm tình với mọi người, anh vẫn hay trả lời một cách
khiêm tốn về nghề nghiệp của mình như sau:
- Dạ, tôi đang làm thợ "bấm"... lỗ. Mỗi ngày tôi "bấm"
không biết bao nhiêu lỗ mà nói. Nếu mà không bị bắt đổ
vô thùng rác nghen, số lượng công-phét-ty khổng lồ đó có
thể xài đủ cho cả thành phố Atlanta hằng năm. Ðể dành
rải lên đầu mấy ông bà minh tinh màn bạc hoặc mấy tay chánh
khách, chánh khứa tới thăm thành phố.
Nói thì nói vậy, nhưng đối với tụi Mỹ thì anh phải sử
dụng những tiếng nhẹ nhàng hơn. Như thợ khoan (driller) hoặc
là thợ khoan ấn (drill-presser) chẳng hạn. Thợ "đấm"... lỗ
(hole-puncher) thì anh tuyệt nhiên không bao giờ dùng đến. Anh
tự biết anh đâu có khùng đến nỗi phải đem tiếng "đấm,"
tương đương với "đục" hay "dộng" của Việt Nam, ra mà xài
với mấy thằng Mỹ con hay điên trước tuổi.
Từ ngày thủ cái máy khoan, có mũi khoan giống như mũi dộng,
Bảy Thất thấy đỡ khổ hơn nhiều. Tuy vẫn còn mang miếng
tạp dề quanh bụng. Và còn phải đứng chớ không được ngồi
bàn viết và thắc cà-ra-hoách với người ta. Nhưng ít ra cũng
khỏi phải lem luốc vì dính mực in, khi làm ở máy in. Cũng
khỏi phải hít ba cái bột giấy bay tung tóe, khi làm ở máy
cắt. Ý là có cái lưới mành mành giữ lại những mảnh nhỏ
cắt xén vụn vằn đó. Cũng khỏi phải bị thở với cái mùi
khét khét, khi làm ở máy bọc bao nylon cho từng cuốn sách
trước khi vô thùng. Và hiển nhiên khỏi phải bị dính dầu
mỡ, khi làm thợ máy. Sửa bất cứ loại máy nào bất khiển
dụng. Tóm lại, trong bảy năm làm tại đây, anh đã giữ vai
trò bá nghệ. Tất cả các máy đều có cơ hội qua tay anh
một thời gian.
Với cái máy dộng này thì anh chỉ có ba kiểu phải làm. Ba
lỗ, bốn lỗ, hoặc tối đa làm luôn cả hai thứ: bảy lỗ.
Bìa cứng ba khoen hay bốn khoen gì xài cũng được hết. Bảy
lỗ, lại con số bảy, trùng với con số dùng đặt tên cho
anh. Bảy cần dộng như bảy cái sút-báp xe honda lộn ngược
đầu xoáy tít mồng mồng, từ từ phóng nhẹ xuống chồng
giấy. Là xong. Thảy qua thằng bạn làm kế bên đang thủ cái
máy bọc nylon. Ðầu kia, từ một thằng bạn khác, chất đầy
trong các xe go-cart có nhiều ngăn nhiều từng, những trang sách
đầy chữ cứ được hắn tiếp tế đều đặn, không thiếu
hụt một tờ.
Quanh mình anh chữ nghĩa nhiều như vậy mà Bảy Thất nào có
bao giờ thèm ghé mắt để ý tới. Coi hình thì họa hoằn
một đôi khi. Anh ngán đọc chữ quá trời, ngay cả những
dòng ngắn gọn phụ đề cho những bức tranh kia. Anh có cảm
tưởng mỗi chữ sao mà lắm nghĩa. Người ta muốn nói một
đường mà anh lại hay hiểu một ngã cũng không biết chừng.
Chữ Mỹ thì vậy nhưng chữ Việt lại khác. Những lúc ở nhà
một mình chẳng có gì giải trí, tiêu khiển anh vẫn thường
lôi mấy tờ báo biếu ra xem. Báo ngày, báo tuần, báo tháng
do bạn bè miệt Cali, D.C., Houston... gửi tới, ôi thôi đủ
cả. Ông bà ơi, anh than thầm, sao đàn bà con gái qua bên này
chịu cầm bút dữ ta. Làm như tối ngày mấy bà chỉ biết ăn
ở không ngồi rồi, không có chuyện gì làm hết vậy. Cho
nên bao nhiêu chủ báo chủ bút gì gì giờ này cũng do mấy bà
làm láng, coi cái đám mày râu đực rựa như không có.
Mà đọc mấy bà mấy cô thì quanh đi quẩn lại hình như chỉ có
mỗi một đề tài đáng nói thôi: giải phóng phụ nữ. Người
thì tả oán chuyện bếp núc, cơm nước, nấu nướng ở trong
nhà như là chuyện ở đợ cho chồng con không bằng. Bả vẫn
làm vậy nẫm nay ở Việt Nam mà bả không hề biết, không hề
nghĩ tới ý nghĩ đó. Bây giờ vô tình bả đã khám phá ra.
Người thì hô hào đòi nhảy ra làm cách mạng, xúi đàn bà hãy
treo lên đầu lên cổ đàn ông con trai trật quần trịn lên
đó. Mà không chỉ dân Á đông không thôi, trịn luôn cả các
ông Mỹ mũi lõ nữa kia. Người thì vẽ đi vẽ lại cái cảnh ông
chồng mình tối ngày lo hội hè, đàn đúm say sưa. Hồi ở
bên nhà thì chắc ổng cũng hay làm vậy nhưng đương nhiên là
không có ai dám cấm cản và cũng chẳng phải bị ai quấy rầy.
Tam cương của Khổng Mạnh tuy đã lỗi thời như Bảy Thất nghĩ,
nhưng cũng không phải vì thế mà biến thành tam ẩu: xuất
giá... hành phu, phu xướng phụ... từ, rồi phu mà tử hả,
thì đi kiếm trai tơ cỡ như con mình mà tòng thế tử. Chữ
trinh ngày xưa nếu không đáng giá ngàn vàng thì cũng được
ba bốn trăm lạng cỡ như Kiều, chớ còn bây giờ ôi thôi
rẻ mạt. Nửa xu rao bán cũng chưa chắc đã thấy có một anh
xì-thẫu nào chịu mua. Ðó chính là hậu quả của những gì
mấy bà mấy cô dốc tâm hô hào giải phóng.
Mà nói cho ngay, thời buổi này cũng chẳng ai thèm đi ngược
thời gian bắt phụ nữ phải giữ gìn, nâng niu cái trinh tiết
đó làm chi cho mất công. Tuy nhiên, cũng đừng vì nó quá rẻ
mạt đó mà muốn đem vất đi đâu thì vất. Nếu cứ đòi đem
vào động đĩ mà vất cho mấy anh chàng đĩ đực để chứng
minh rằng mình đã học được bài học nam nữ bình quyền thì
có gì hay ho lắm đâu? Rõ
đàn bà
thời đại này thiệt
gan ruột quá tay
... Nhiều khi Bảy Thất muốn xúi ngầm
mấy o, mấy nường, mấy em rằng: có ngon lành thì cứ giỏi
làm đi,
go ahead make your day
. Rồi thử coi ai lỗ, ai ở
giá đây cho biết.
Ngẫm nghĩ lại Bảy Thất thấy mấy ông hoàng bên xứ Ba Tư,
Nam Tư..., những xứ nói chung có cái văn hóa 1001 đêm, không
biết ăn cái giống gì mà khôn. Mãi đến cuối thế kỷ hai
mươi này mà vẫn còn cấm triệt để không cho đàn bà lái xe
nhông nhông ngoài đường. Lạ thật. Thì ra vua chúa ta ngày
xưa, đối với đàn bà, kể ra cũng là những ngưới có đầu
óc tiến bộ, cách mạng đó chớ!
Nhớ hồi mới qua Mỹ, Bảy Thất vẫn hay đem chuyện "tứ thư
ngũ kinh" ra giảng dạy cho đàn bà mẫu quốc. Nhè mấy mụ to
lớn dềnh dàng, bộ hệ nếu không giống cái thùng phuy 200
lít thì cũng giống cái trống chầu đình Ðiều Hòa hoặc cùng
cỡ với cái mái vú da bò miền quê lục tỉnh... mà cứ sa sả
ta đây dằn mặt:
- Mầy có biết rằng ở bên xứ Việt Nam tao người ta nói
"nhứt nam như nhứt thập nữ như vô" không?
Trời ơi, thôi thì anh bắt gặp ngay những đôi mắt sừng
sộ, trợn trừng dẫn đầu cho những... trận tam bành của
mấy mụ nổi lên. Hiển nhiên Bảy Thất ta bị ăn cứt bò,
bull shit
, lia chia. Cũng may là ở cái xứ văn minh này
coi vậy chớ ít người dám ra tay động thủ ở những nơi
làm việc. Tự do ngôn luận thì được chớ còn tự do
thượng cẳng tay hạ cẳng chân hoặc bóp cò shotgun thì chưa
có ghi trong Hiến pháp xứ Cờ Hoa.
Mấy năm sau này, tình trạng gái thiếu trai thừa trong cộng
đồng tỵ nạn càng ngày càng lớn rộng. Vì vậy cứ mỗi
lần có nghe tin một người đẹp nào ở bên đảo sắp qua,
không cần biết gái tơ hay gái già năm lần bảy lửa, tất
cả đàn ông cũng như trai tráng trong vùng đều mơ mộng, mong
ngóng trông chờ. Chuẩn bị long trọng đón tiếp đông đủ
tại phi trường. Bu vào như ruồi bu của ngựa. Biết đâu
số mình lại được lọt vào mắt xanh phờ phạc của người
đẹp đang có làn da rất sạm nắng lần này. Như trúng số
độc đắc vậy chớ đâu phải giỡn chơi.
Chẳng biết có phải vì ảnh hưởng cái chất "nhà Nho" còn sót
lại của gia đình, huyết thống hay không mà Bảy Thất thấy
mình khó lòng làm được... chuyện ruồi bu đó. Chính vì
thế mãi đến ngày hôm nay anh vẫn còn trung thành với chủ
nghĩa độc thân.
Cho đến một ngày trời xui đất khiến. Em từ đâu mà
hiển hiện như một nàng tiên. Ôi, phen này Bảy Thất sẽ
phát điên...
Số là cái hãng in nhập nhằng của Bảy Thất đang làm đương
hồi xuống dốc quá cỡ thợ mộc. Chẳng biết tại vì đám
quản trị bất tài hay là đám thợ thầy đứng bán,
salemen
, không làm đúng bổn phận của mình đối với
khách hàng, mà chủ hãng bắt tất cả các nhân viên đi học
qua một khóa. Có tên là: "Tất cả mọi người đều có
một khách hàng,
everybody has a customer
." Trời đất,
khách hàng của Bảy Thất thì có thật, nhưng nào có ai đâu
xa lạ hơn là hai thằng bạn đứng làm kế bên, gặp mặt nhau
hằng ngày. Thằng Mỹ già coi máy in và thằng Mỹ lõi coi máy
gói sách. Thôi thì chủ bảo sao mình làm vậy. Ðằng nào
không muốn học thì cũng phải đi học với người ta. Nhưng
biết đâu nhờ có học mà Bảy Thất ta mới có khôn. Mặc
dù khôn từ từ thôi chớ không được khôn ngay lập tức
như những người khác đi nữa.
Phải, từ từ rồi cũng đến phiên mình. Cách một tuần,
Bảy Thất có tên trong danh sách tham dự lớp học sáng ngày
hôm sau. Lần đầu tiên trong nhiều năm qua, anh khỏi phải
đeo cái tấm tạp dề quanh bụng. Anh ngang nhiên tiến về
phòng họp đi học như mọi người. Ði học cho hãng chớ không
học cho anh. Còn sớm, chỉ le que có bốn năm mạng trong số
dự trù đến những hai mươi lăm mạng. Bảy Thất kéo một
trong hai cái ghế ở cuối bàn họp ngồi vào. Mặt hướng
về phía đầu bàn bên kia, đằng sau có tấm màn chiếu
slide
có lẽ là chỗ đứng của người giảng bài. Vậy
cũng tiện. Ðỡ phải ngoáy cổ xoay ngang xoay dọc nhìn theo
thầy giáo... Bỗng nhiên có người lễ phép hỏi:
- Xin lỗi, ghế này có ai ngồi không anh?
Bảy Thất ngạc nhiên, sững sờ nhìn cô bé từ đầu đến
chân rồi lắc đầu trả lời gọn lỏn:
- Không.
Chỉ vài cái chớp chớp mắt giáo đầu của nàng mà, quả thật,
đã làm lòng chàng rúng động. Ðâm ra ngớ ngẩn. Quên
cả phép lịch sự kéo ghế ra giùm cho... người đâu gặp gỡ
làm chi. Chàng bỗng nhìn lại thân phận mình, quần jean bạc
màu, áo sờn vai nếu không muốn nói là sắp rách. Rồi nhìn
lại nàng, thấy nàng ôi sao mà quá đài các, kiêu sa. Áo
nhiễu, quần nhung. Tiểu thư ơi là tiểu thư. Con nhà ai
mà duyên dáng, dễ thương dữ vậy cà. Khuôn mặt xương
xương thanh tú. Không tròn trịa, đầy đặn, nét ngài nở
nang theo kiểu... trái cóc trái xoan, trai đào trái mận như
phần lớn dân Việt Nam. Cũng không tròn vo bánh bèo như xẩm.
Cặp mắt bồ câu, chim hòa bình của nhân loại. Sao mà xanh
lơ, hiền dịu, mơ màng. Lại như sâu thăm thẳm vì sóng mũi
cao. Chàng tưởng tượng nếu bóng hình mình rủi bị lọt vào
lòng con ngươi đó thì chắc không cách gì trèo ra nổi. Chàng
bỗng rùng mình như phát lãnh. Ðôi bàn tay dài mảnh khảnh
đong đưa. Những ngón búp măng sao lại vừa vặn với cây
viết thon dài đều đặn. Và màu nước da sữa tươi kia
nữa chớ. Ôi, rõ cái gì cũng đẹp đẽ, cũng khác thường
dưới mắt chàng. Chẳng lẽ mình đang bị tiếng sét ái tình
chăng, chàng tự hỏi.
Ðây không phải là lần đầu tiên Bảy Thất ngồi kế bên một
cô gái Mỹ. Bao nhiêu lần trong nhà thờ, trong thư viện, quán
ăn và gần đây, trong những lớp học đại học. Mà đâu có
lần nào anh bận tâm bận trí để ý đến đâu. Lần này,
đối với riêng anh, phải nói điểm hợp nhãn đầu tiên chính
là dáng vóc của người đẹp. Nhỏ con. Nếu đứng kề nhau
thì chắc nàng cũng không cao hơn tầm mắt anh bao nhiêu. Ốm
yếu. Nếu phải bồng nàng lên giường thì anh có thể làm
được dễ dàng. Có thể gọn gàng hơn anh chàng Rhett Butler
(Clark Gable) bồng nàng Scarlett ÓHara (Vivien Leigh) trong phim
Cuốn theo chiều gió
. Bảo đảm không đến nổi phải
cống rống, lòi xương sườn vì vận dụng hết sức lực bình
sinh. Thành thử anh như nghiệm ra rằng: điều kiện tiên
quyết để tình yêu nẩy nở chính là khuôn trang của tấm thân
vệ nữ. Ðường vào tình yêu không có chuyện thòi lòi ôm
bập dừa. Rồi thứ đến mới là cặp mắt, cửa sổ của
tâm hồn, vẫn thường làm bọn đàn ông con trai mưu toan đập
kiếng, phóng vào. Có lẽ đúng như vậy, vì từ lâu Bảy
Thất thấy anh không thể yêu ngay được những con Mỹ con,
mười sáu mười bảy tuổi, mà đã cao hơn anh một cái đầu.
Anh gợi chuyện:
- Xin lỗi cô tên gì? Tôi tên là Bảy Nguyễn, nhưng người
ta hay gọi tôi là Thất. Thất là tiếng lóng của Bảy.
- Tên tôi là Camille Benjamin. Hân hạnh được biết anh.
- Camille? Hân hạnh được ngồi gần bên cô.
Nàng mỉm cười, khoe hàm răng bắp non trắng trong đều đặn.
Chỉ một nửa thôi, vì một nửa còn bị chôn dấu dưới đôi
môi mọng đỏ màu son. Như biết chàng đang để ý đến mình,
cô nàng khoan thai đưa bàn tay ngọc vuốt lại mớ tóc lòa xòa
bên mang tai ra phía sau. Chàng ngó theo, bất giác gặp ánh
kim cương lấp lánh trên trái tai. Chẳng biết giả hay thiệt
sao mà rực rỡ, chói lọi quá. Sang thì có sang nhưng chàng
đâu màng đến ngọc quí trân châu, chàng chỉ muốn lè lưỡi
liếm cái vành tai ấy thôi. Rõ ràng chàng đã quên nhìn lên
bảng, chỉ biết đăm đăm nhìn ngang, ngắm nghía hoài cái hình
profile của khuôn mặt nàng cắt trên khoảng không. Sóng mũi
thẳng, đương nhiên, Mỹ mà. Chơn mày dài và đậm. Lông
mi dài và cong vút, bên trên lẫn bên dưới. Giả hay thiệt
đây? Lại chớp chớp, phủ trùm lên con ngươi óng ánh một
màn nước mỏng. Ðẹp... Nhưng nàng bỗng quay lại, bắt
gặp chàng đang nhìn lén. Chàng chết điếng, như bị thôi
miên. Cứ tiếp tục ngó nàng trân trối... cho đến khi nàng
sượng sùng bật thành tiếng:
- Cái gì vậy (What)?
Rồi nàng tiếp luôn như muốn lôi chàng trở về với thực
tại:
- Anh thấy ông thầy thế nào?
Bảy Thất hoàn hồn:
- Ờ, ông thầy nói giọng miền Nam dễ nghe, chắc là quê
quán quanh quẩn ở trong vùng này, phải không?
- Thì như ổng vừa mới nói đó. Nè, tốt hơn hết là
chúng mình phải chuẩn bị. Trước sau gì ổng cũng bắt từng
học viên nói đôi lời tự giới thiệu mình với cả lớp cho
mà xem.
- Thiệt vậy hả?
Y chang, ông thầy làm liền ngay sau đó. Và rồi lớp học
bắt đầu... Nhưng, suốt buổi học đó chàng nào có để
ý đến lời giảng bao nhiêu, chàng dành nhiều thì giờ ngắm
nhìn nàng say sưa thì có. Ðề tài giảng dạy cũng chẳng có
gì quan trọng. Chỉ bắt học trò... học ăn học nói. Còn học
gói học xách thì kể như miễn bàn, vì bên Mỹ này gói với
xách đều làm bằng máy. Ðại khái là phải niềm nỡ, chiều
chuộng khách hàng. Khách hàng là cha mẹ. Không có khách hàng
thì bảo đảm không có cửa hàng nào sống nổi. Ngay cả vấn
đề học đường cũng vậy, giảng dạy và học hỏi đều chỉ
thuần túy là một việc mua bán, trao đổi mà thôi. Bán cháo
phổi, với đúng nghĩa thực của nó. Mua kiến thức, cũng
vậy, với đúng nghĩa đen của nó. Tư bản là vậy. Ngay
bây giờ, học trò là khách hàng của thầy cho nên học trò là
cha mẹ. Cha mẹ mà có lo ra, lơ đễnh thế mấy đi nữa thì
thầy cũng không dám nói động đến một lời.
Bảy Thất để ý đến giọng nói nhỏ nhẹ của Camille mỗi khi nàng
đặt câu hỏi hay trả lời thầy giáo. Ngoài tính chất trong
trẻo của tiếng con gái còn có đượm thêm vẻ gì đằm thắm
nết na. Không tỏ ra điêu ngoa, hách-xì-xằng như phần lớn
con gái Mỹ. Không miệng bằng tay tay bằng miệng. Ðiều này
làm chàng cứ tưởng như nàng đã được giáo huấn và lớn
lên trong nghi lễ cổ truyền của một gia đình Á đông. Chàng
cảm thấy lấy làm mãn nguyện nếu có được một người nâng
khăn sửa túi cho mình giống như nàng. Có lẽ nhờ vậy mà
chàng và nàng đã diễn xuất một vở kịch câm hết sức hoàn
hão. Một cuộc nói chuyện bằng ngôn ngữ ước hiệu của
thân thể (body language). Nàng đóng vai một người khách hàng
đang giận dữ. Bằng cách khoa tay dậm chân, dỗi hờn như
muốn khóc. Ðột nhiên, chàng quỳ xuống chân nàng. Quỳ
xuống một cách chân thành. Bấu víu vào váy nàng như cầu
khẩn van lơn, xin hay tha thứ cho lỗi lầm. Ðến nỗi cả
lớp phải ngạc nhiên, tưởng thiệt, vỗ tay rầm rộ.
- Camille em ơi, em nào có biết anh đang quỳ dưới chân em
cho một mối tình si.
Trong thâm tâm Bảy Thất, thiệt tình con tim của chàng đã reo
lên vang dội những tiếng tơ lòng đó. Nhưng nào ai có nghe.
Nào ai có nhận ra trong ánh mắt diễm tình, mê muội của
chàng. Nói nào ngay, chàng thầm cảm ơn ông tơ bà nguyệt
đã khéo se sẵn cho chàng và nàng một sợi chỉ hồng. Vì
rất may mắn cho chàng là trong lúc thầy kêu tên bắt cặp
diễn trò, tên hai đứa đã đi liền nhau. Em trước anh sau.
Chỉ cần trịch qua một học viên nữa thì chàng phải bắt cặp
với con Mỹ gốc Ý to lớn dềnh dàng. Tóc tai thì lại quắn
quíu, lòng thòng lưởi thưởi chẳng khác gì như một con
sư tử có bờm, lúc nào cũng như chực ăn tươi nuốt
sống chàng.
Chiều ngày đó tan học về mà lòng Bảy Thất ta cảm thấy miên
man trăm mối. Mối nào cũng buồn rười rượi. Cái câu tạm
biệt có kèm theo một cuộc hẹn hò chót lưỡi đầu môi của
Mỹ kia có lẽ như không bao giờ thành sự thật:
- Sẽ gặp lại anh sau, Thất.
Chàng ngậm ngùi đáp lại:
- Ừa, hi vọng sẽ gặp cô quanh quẩn đâu đây. Bye, Camille.
Thôi rồi, nào có phải chỉ ba tháng hè xa nhau mà có thể... sẽ
vĩnh viễn muôn đời xa vắng cũng không biết chừng. Chàng và
nàng chắc sẽ không bao giờ có được cái buổi tựu trường
lần thứ hai. Mà dẫu có đi chăng nữa cũng không chắc gì
có cơ hội ngồi gần bên nhau, chung bàn chung bóng.
Rõ ràng là... người đâu gặp gỡ làm chi! Vì như cứ mỗi
lần nhắm mắt lại là Bảy Thất thấy cặp mắt bồ câu kia như
nhởn nhơ, chờn vờn trước mặt. Và chàng nghe luôn giọng
nói trong trẻo như tiếng chim oanh lẩn quẩn bên mình. Khó lòng
xua đuổi nổi. Càng khó hơn cho một hình bóng mảnh mai dịu
hiền đã ăn sâu vào tâm khảm chàng. Ðã vậy nhìn vào tương
lai, ôi, sao mà quá trở ngại chông gai. Chắc chắn sẽ làm cho
mình thất điên bát đảo, chàng than thầm. Vì em không là
người ngoại đạo, đương nhiên. Và anh cũng sẽ không là
người khác đạo với em, dĩ nhiên. Nhưng, chúng ta chỉ khác
màu da. Em kiêu sa quyền quý và anh thân phận tôi đòi, em có
biết? Và vì em cũng không là những cô gái mắt xanh tóc vàng
rẻ tiền ở những hộp đêm. Vì em không từ Casablanca,
Valentino... Không từ những vũ trường hở ngực đưa mông.
Không là những em đã cho anh những giấc mây mưa lạc lõng.
Như những hạt mưa rào rơi rụng giữa hồ thu lạnh lẽo nước
trong veo. Vì em bây giờ không phải có đô-la mà có được.
Nhưng, thương em mấy núi anh cũng trèo. Bởi vậy cách mấy
ngày sau, trong giờ ăn trưa, Bảy Thất đã bang bang đi lên khu
văn phòng tìm Camille. Ði tới đi lui năm bảy bận mà chàng xui
quá, chẳng gặp được mặt con bạn hiền. Chàng đâm ngại.
Well, tốt hơn hết là nên dừng lại ở những góc hành lang
và đọc lại bảng chỉ dẫn, dò kỹ tên từng người ghi trên
đó cho chắc ăn. Vẫn còn xui xẻo. Không có mống nào tên
Benjamin hết. Chần chờ một chút, chàng thấy cũng sắp hết
giờ ăn trưa. Thôi đành, tận tình cho em đến như thế là
cùng. Số phần hẩm hiu của chàng chắc rồi chỉ gắn liền
với cái máy "đục." Chàng trở gót quay lui.
Nhưng độ vài bước, Bảy Thất thấy một bóng hình con gái
trong cánh áo lụa đen đang ngửa cổ uống nước ở cái máy
nước lạnh gần bên hành lang. Chính là Camille, chỉ nhìn
ngang sơ sơ là chàng cũng đủ nhận ra ngay. Chàng cảm thấy
tâm thần mình sao mà bối rối, thể xác mình sao mà lâng
lâng. Trong lòng thì muốn đứng lại nói xã giao vài câu
chào hỏi với nàng, nhưng đôi tay thì thừa thải và đôi chân
thì cứ giục chàng bước đi. Nói cái gì đây chớ? Kỳ
quá. Ðành thôi. Gặp mặt nhau, ngó một chút cho đỡ nhớ
là được rồi. Chàng đưa tay vẫy chào và nói cụt ngủn:
- Hê, Camille.
Rồi tiếp tục bước đi. Ô hay, một giọng mừng vui, thân
mật vang lên:
- Hello, Thất, mạnh giỏi. Anh đi đâu đây?
Không chuẩn bị trước, Bảy Thất càng lúng túng hơn:
- Tôi đi... Tôi đi lên phòng tín dụng (credit union) định
làm đơn vay tiền mua..., mua vài thứ lặt vặt. Camille,
bửa nay trông cô xinh lắm.
- Cám ơn. Anh định mua xe mới phải không? Nè, bàn viết
của tôi nằm cuối hành lang này, rẽ bên tay trái, cái thứ
ba. Ðó, ngay cái đồng hồ treo trên trần nhà đó, anh quẹo
là trúng. Không thể nào lạc được. Bây giờ anh đã biết
chỗ tôi làm rồi thì khi nào rỗi rảnh anh phải ghé tạt qua
đây thăm tôi, hai đứa mình nói dóc chơi nghen.
Không ngờ nàng cũng có cảm tình với mình, Bảy Thất nghĩ.
Nếu không, chắc nàng không vồn vã như vậy. Chàng yên tâm.
Có lẽ con đường tình yêu anh đang đi không phải là đường
một chiều. Nhưng đừng hấp tấp vội vã, chàng nhủ thầm.
Rồi làm như không có gì quan trọng, chàng nói:
- Ðược rồi, tôi sẽ làm theo lời cô dặn. Nhưng, xin
lỗi, tôi phải đi ngay... Bye, Camille.
- Bye, Thất.
Chàng đi sụt lùi mấy bước và nàng cũng cứ trông theo.
Trời, em quyến luyến mình đến như vậy sao? Bảy Thất để
tay lên môi làm chiếc hôn gửi em theo gió rồi quay lưng rẽ vào
hành lang khác, vụt bước đi như chạy. Suýt chút nữa đụng
vào cái máy làm phóng ảnh,
photocopier
, kê sát vào tường.
Thoát nạn yêu em, diện kiến người tình. Lòng chàng cảm thấy
hân hoan, vui mừng khấp khởi.
Trở lại cái máy "đục," Bảy Thất cảm thấy no ngang. Miếng
sandwich nguội lạnh chắc là nuốt không vô. Chàng cầm lên trái
táo còn xanh cắn một miếng lớn. Giòn rụm. Chàng nhai nhóp
nhép và nuốt luôn cái cảm nghĩ thương yêu của mình dành
cho... người đâu gặp gỡ làm chi. Tuy không phải bị mắc
nghẹn ngang cổ, nhưng chàng cảm thấy thân phận mình sao mà quá
xa cách với người mình đang thầm yêu trộm nhớ. Nàng là
công chúa của rừng xanh còn chàng chỉ là thằng bán than, Lý
Chơn Tâm cỡi củi. Cái duyên nợ trăm năm gì gì đó hình như
khó lòng mà thành tựu được. Chàng thầm nghĩ, có lẽ thương
một người con gái Việt Nam chắc chắn sẽ dễ hơn nhiều.
Ít ra cũng không trở ngại mấy về ngôn ngữ. Làm sao tỏ tình
với em bằng tiếng Mỹ đây? "I love you," nghe xoàng quá! Trơ
trẻn quá! Chắc chàng phải vấn kế bà giáo sư già dạy văn
chương. Mà thôi, hãy dẹp chuyện yêu đương qua một bên
đi. Mộng của mình sang đây là cố gắng ăn học thành tài,
làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ, bà con chòm xóm ở bên nhà.
Lỡ vướng vào vòng tình lụy thì biết có ngày nào mới gỡ
cho ra. Chàng phân vân hết sức.
Liên tiếp mấy ngày sau, Bảy Thất càng manh tâm chôn vùi hình
bóng Camille sâu vào ngôi mả lạn ký ức thì tự nó càng cố
đội mồ sống dậy... Có lúc chàng tự hỏi: "À, mà tại sao
Camille không xuống đây tìm mình chớ?" Nhưng vừa nghĩ đến
đó chàng đã đổi ý. Quả thật là không nên. Lỡ nàng không
mấy cảm tình với tấm thân mang chài mang lưới của mình thì
sao? Ðừng đem sự thực ra mà đùa giỡn với tình yêu. Chàng
thầm mong Camille đã quên hết mấy câu chàng đã thẳng thắn
tự giới thiệu mình trong lớp học vừa qua. Nhắc tới lớp
học chàng lại đâm nhớ ánh mắt đầu tiên của nàng. Những
cái chớp chớp đã làm chàng điêu đứng...
Bỗng dưng Bảy Thất có ý muốn gọi điện thoại cho Camille.
Chàng làm liền, bỏ cái máy "đục" đi loanh quanh tìm sổ điện
thoại. Hi vọng là nàng làm lớn, có số điện thoại riêng.
Khỏi phải qua trưởng phòng trưởng khu, chỉ sợ gây thêm
phiền phức. Chàng dò từng trang, từ chữ. Ðây rồi,
có dòng ghi: Benjamin, C. L. (Camille). Chữ lót L. thì có
thể là chữ viết tắt của chữ Lee. Camille Lee Benjamin, nội
cái tên của nàng mới nghe qua cũng đã đẹp, cũng đã khác
người. Nhưng có nên gọi cho người ta không đây? Biết
người ta thiệt có cảm tình với mình không mà gọi? Phân
vân. Lại phân vân. Phải bỏ cái tánh phân vân đó đi thì
hi vọng mới làm ăn nên trò, chàng nhủ thầm. Làm con trai
cần phải có quyết định. Và chàng đã quyết định.
- Hello, Benjamin đang nói đầu dây.
Bảy Thất hồi hộp quá, nửa muốn vất ống điện thoại cho
yên thân, nhưng rồi chàng nói đại:
- Hello, Camille đó hả, mạnh giỏi? Thất đây, cô có còn
nhớ tôi không?
- Nhớ chớ. Anh đang ở đâu vậy?
- Ðang làm ở khu sản xuất đây này. Chớ bộ cô không nghe
tiếng máy chạy rầm trời hay sao? À, Camille này, tôi có một
chuyện muốn nói với cô. Well, đúng ra là tôi định nhờ cô
giúp tôi một việc. Nhưng tôi không thể nói trong điện thoại
được. Cô thường ăn trưa ở
cafeteria
hay đi ra
ngoài? Trưa mai cô có thể đi ăn trưa với tôi được
không? Tôi sẽ đưa cho cô xem một vài thứ chắc chắn sẽ làm
cô ngạc nhiên.
- Thiệt vậy sao? Tôi thích lắm đó! Nhưng trưa mai thì
không được đâu. Ðể tôi sắp xếp lại chương trình của
tôi đã. Khi nào thuận tiện tôi sẽ gọi cho anh hay. Chắc
là phải trong tuần tới, có được không?
- Ðược. Cũng đâu có gấp gáp gì. Miễn cô nhận lời
là tôi vui. Như vậy tôi sẽ chờ cô gọi lại. Cô cứ gọi
xuống trung tâm làm phóng ảnh rồi hỏi tên tôi là tiện
nhứt. Nhớ nghen.
- Ok, bye.
Bảy Thất sực nhớ ra là ở trung tâm làm phóng ảnh,
copy
center
, có con nhỏ Ðại Hàn, Lora Dae Yu, làm ở đó. Cũng
là người Á đông nhưng không mấy khi chàng để ý hay tìm cách
làm thân. Chỉ chào hỏi qua loa vậy thôi. Biết là Lora đang
có cảm tình với chàng, đang "chài" chàng thì đúng hơn, nhưng
chàng không thấy mãi mai gì hợp nhãn hợp gout. Có được cái
khuôn trang vệ nữ đó nhưng cánh cửa sổ tâm hồn của Lora có
lẽ làm bằng kiếng đục nên chàng chẳng thấy gì hấp dẫn ở
bên trong. Ðã vậy đôi khi còn ra vẻ ta đây, kênh kiệu
nữa. Chỉ vì Lora làm chỗ sạch sẽ hơn chàng một chút
chăng? Nhưng đàn ông mà, nhìn đàn bà là nhìn xuống, mấy
ai chịu khó nhìn lên. Nhìn lên thì chẳng khác nào muốn nhìn
vào cảnh bợ đỡ, ngửa tay xin xỏ, bám vào gấu quần phụ nữ
có phải? Mà nói nào ngay, tại vì y thị nhỏ con thì có nhỏ con
đó, nhưng nhỏ quá. Ðầu đít chỉ có một tấc. Ðã lùn
lại hơi tròn, thành ra càng trông càng thấy... đau khổ tâm
cang. Ðó là chưa nhắc đến cái khuôn mặt đười ươi,
trẹt lét. Tuổi chắc cũng đã gần ba mươi mà nẫm nay đám
độc thân quanh đây chẳng ai thèm gấm ghé, nghĩ cũng tội.
Bởi như chàng nghĩ, cái khuôn trang vệ nữ của người đàn
bà đã tham dự một phần rất lớn cho sự nẩy nở của
tình yêu.
Giữa tuần sau, sáng thứ tư, Lora đến tìm Bảy Thất báo
tin: "Anh có điện thoại." Chắc chắn Lora càng ngạc nhiên hơn
khi nghe ở đầu giây kia có tiếng con gái, chàng nghĩ. Bảy
Thất vừa cầm ống nghe lên là đã réo rắc, mừng vui:
- Hi, Thất nghe đây... Ô, Camille, mạnh giỏi chớ?... Ok,
tôi sẽ làm như vậy!... Sẽ gặp lại cô tại đó! ... Bye.
Bảy Thất gác máy điện thoại, cảm ơn Lora, rồi lạnh lùng
bước đi. Một cái nguýt dài thòng còn đuổi theo lưng.
Lora ơi, cô hãy đứng đó tiếp tục lo ra nữa đi và đừng
hờn ghen khi nhìn thấy Bảy Thất này đang xông xáo đi vào
tình yêu, chàng nói thầm.
Rốt cuộc rồi Bảy Thất cũng có một cái hẹn, một buổi đi
ăn trưa em dành cho riêng anh. Một bảo đảm sẽ thân mật
đậm đà. Chàng khoái quá, lòng hân hoan như mở hội. Mười
một giờ rưỡi tại phòng gác dan, cổng phía Nam. Phải chuẩn
bị tinh thần. Phải đúng giờ. Xe cộ thì khỏi lo vì ngày
hôm qua chàng đã ngỏ ý mượn đỡ chiếc xì-po hiệu RX 7 của
thằng lõi làm kế bên. Thay cho chiếc pick-up cũ mèm, lẹt đẹt
của mình. Và thằng lõi cũng đã bằng lòng. Xong xuôi đâu
vào đấy. Giờ phải xem lại món quà đặc biệt nữa chứ.
Một công trình tuyệt vời của chàng mà. Cẩn thận cho vào
túi. Chẳng bao lâu đã đến giờ phải đi. Chàng tắt máy,
cởi bỏ tấm tạp dề máng lên xe cút-kít. Phủi sơ bụi bậm
bám trên áo và vuốt lại mái tóc cắt ngắn.
Bảy Thất đến chỗ hẹn sớm hơn vài phút. Chờ. Mỗi phút
đi qua như thiên thu chùng lại. Chàng lại e ngại nhiều thứ,
lắm điều. Không phải cho chàng mà cho Camille. Giờ này
người ta đi ăn đông quá. Lỡ thiên hạ thấy chàng với
Camille chỉ riêng hai đứa tù tí đi ăn chung, tai tiếng không
tốt đối với nàng rồi đây có thể sẽ được đồn quanh
không mấy chốc. Mèo mã gà đồng,
smell rats
. Vì dù
sao đi nữa nàng vẫn là người da trắng. Bạn bè khắn khít
với người da màu là chuyện dễ bị người đời đàm tiếu,
xì xào. Ở cái xứ này nó vậy. Chàng thầm trách Camille
sao lại không chọn một chỗ nào khác hơn chỗ này, chốn nhởn
nhơ dập dìu người qua kẻ lại? Mà đã quá giờ rồi sao
Camille đâu chẳng thấy? Hay là em định cho anh đi tàu
giấy? Bảy Thất chạy lại bàn viết của người gác cổng
định mượn cái telephone gọi một phát lên văn phòng... Ô,
nhưng kìa, một cô gái đoan trang chững chạc trong bộ côm-plê
màu hường nhạt. Với chiếc áo lụa trắng cắt cổ tròn
theo kiểu áo bà ba, có lớp ren may liền, dúng lại thành chuỗi
bông huệ trắng loe ra ôm vào cổ, gài nút sau lưng, làm tăng
thêm vẻ kín đáo phúc hậu:
- Hi, Camille. Hôm nay trông cô đẹp quá.
- Cám ơn. Anh tưởng tôi không đến hả?
Bảy Thất đánh trống lãng:
- Ðâu có. Chỉ sợ cô bận việc gì phải ở lại làm
nán... Thôi, ta đi.
Ra khỏi cổng, Bảy Thất ngó dáo dác tìm chiếc xe. Màu đỏ,
vừa mới đánh bóng thật láng cuối tuần rồi, thằng bạn
anh cho biết như vậy. Dàn stereo công suất 120 watts, coi chừng
làm thủng màn nhĩ, điếc lỗ tai. Hừ, anh có em ngồi bên
cạnh thủ thỉ với nhau thì anh đâu có cần ba cái ngữ vô ích
này. Chàng lịch sự mở cửa xe cho Camille. Nàng vén váy,
vuốt đít, khoan thai ngồi vào ghế. Một cử chỉ hết sức
nhẹ nhàng, gọn gàng mà phần lớn người Á đông không làm
được vậy. Vì không thường xuyên mặc đầm, mặc váy
như người Tây Phương. Ðôi gò ngực vung cao dưới làn lụa
mỏng ẩn hiện dấu áo lót viền quanh. Chàng thấy tim mình
đập nhanh hơn một chút. Cặp đùi thon, dài, trường túc.
Nhưng chàng chợt quay lui, vòng qua bên kia, rồ máy phóng đi.
Cho xe nhập vào xa lộ xong, Bảy Thất khơi mào:
- Mình định đi ăn ở đâu đây? Lần này tôi dành cho cô
cái quyền ưu tiên chọn lựa đấy!
- Anh có bằng lòng với mấy miếng sandwich không?
- Bậy nà, ai lại vào tiệm sandwich lúc này. Phải tìm tiệm
nào sang hơn, tình hơn để đánh dấu lần đầu tiên mình đi
ăn chung với nhau chớ. Hay là mình ghé vô Darryl?
- Ðược. Chỗ đó rất là nên thơ. Tôi thích lắm.
Dĩ nhiên phải là nên thơ vì Bảy Thất đã tính trước trong
đầu. Những ngọn đèn bạch lạp lồng trong những bầu thủy
tinh màu đỏ thẩm vẫn dễ dàng tạo nên những hình ảnh, những
cảm giác lung linh. Sàn nhà, trần nhà, cầu thang bước lên
thượng tầng, và ngay cả bàn ghế đều làm bằng những thanh
gỗ để sần sùi cho hợp với thiên nhiên, hợp với lòng
người thích tự nhiên thoải mái như chàng. Thiệt, không chỗ
nào chàng thấy ưng ý hơn.
Người hầu bàn trao thực đơn và Bảy Thất lên tiếng đề
nghị:
- Cô cứ chọn luôn cho tôi vậy. Cô ăn gì tôi ăn nấy.
- Thiệt vậy sao? Tôi không thích mấy món nhiều dầu
mỡ, tôi cũng không thích gặm mấy miếng thịt đỏ tươi như
còn sống. À, hay là ăn thức ăn Mễ đi. Ở đây có món
salad trộn với nước sốt
taco
nè.
- Thức ăn Mễ càng hay. Lâu rồi tôi cũng chưa có dịp
ăn lại.
Camille âu yếm nhìn Bảy Thất rồi gọi cho cả hai. Lúc người
bồi đi khỏi, nàng hỏi nhỏ:
- Thất nè, anh nói anh sẽ cho tôi xem một vài món sẽ làm
tôi thích thú, vậy chớ đó là những món gì vậy hả?
Bảy Thất như chỉ chờ có vậy. Chàng móc trong túi ra một
tờ giấy xếp tư, cười nói:
- Chỉ có mỗi cái này thôi. Nhưng cô không được phép mở
ra ngay bây giờ nghe không. Ðợi lát nữa về văn phòng rồi
hãy dở ra xem. Cũng chẳng có gì đặc biệt lắm đâu. Số
là tôi đang viết một bài luận cho cô giáo dạy văn chương
khóa này. Tôi định viết một truyện tình. Nhưng cô biết,
từ ngữ tiếng Mỹ của tôi ít ỏi quá, văn phạm thì lại trật
trờ trật truột, cho nên tôi nhờ cô làm ơn góp ý, sửa
chữa giùm câu văn cho suôn sẽ vậy mà. Có được không?
- Ðược, chuyện gì chớ chuyện đó thì dễ lắm. Vì
môn học chính của tôi là môn văn chương.
- Hên quá, vậy là tôi gõ cửa đúng nhà. Ðoạn đầu,
tức phần dẫn nhập đang nằm trong tờ giấy này. Cất vào
bóp đi.
Camille làm theo lời Bảy Thất, cất tấm giấy vào bóp. Cũng
vừa lúc bồi bàn mang thức ăn ra. Cả hai cùng ăn ngon miệng
món ăn hơi lạ khẩu vị cho cả người Mỹ lẫn người Á đông.
Chua chua, cay cay. Chàng hỏi thăm qua loa về gia đình của nàng.
Ðược biết gia đình chỉ có hai chị em và người chị đã lập
gia đình, đang sống ở xa. Camille cũng chỉ mới nhận công
việc với hãng này được hơn một năm, sau khi ra trường.
Vì vậy nàng vẫn còn thuê
apartment
ở một mình. Ngoài
việc đọc sách ra, nàng thích bơi lội và chơi tennis. Phần
chàng thì chẳng có gì nhiều để nói. Một ngựa một thân
đang sống đời tỵ nạn. Nguyên gia đình, cha mẹ anh em còn
đóng đô dài hạn ở Việt Nam.
- Tôi thích tìm hiểu những gì ngoài nước Mỹ. Tôi thích
đọc Pearl Buck viết về Trung Hoa. Anh có đọc
The Good Earth
không? Bây giờ có thể vì anh tôi sẽ tìm hiểu thêm về
Việt Nam.
- Có thiệt không nói đùa với tôi chớ?
Camille lắc đầu. Bảy Thất liền đứng dậy dạy cho Camille
một bài học về tập quán của người Việt Nam: làm trai cho
đáng nên trai, tức lãnh phần trả tiền ăn cho người bạn gái
của mình. Dẹp qua tình trạng chia đôi sòng phẳng, hoặc ai
ăn nấy trả của Mỹ.
Trên đường đưa Camille trở về sở, Bảy Thất cảm thấy
gần gũi với nàng nhiều hơn. Khuôn mặt đó, đôi mắt đó,
đôi môi đó như đã thẩm thấu vào hồn chàng, tan loảng trong
chàng từng sớ mỏng. Lớp da thịt mịn hồng và những sợi lông
măng mềm mại trên cánh tay trần khi cầm tấm giấy của chàng
là một ấn tượng dễ làm chàng nhột nhạt, nổi da gà.
Chàng những mong rằng chàng đang đi vào một con đường có
thật, con đường dẫn vào tình yêu của hai người không cùng
một màu da.
Bảy Thất ngừng tại cổng phía Nam cho Camille vào trước rồi
mới tìm chỗ đậu xe sau. Chàng đi chầm chậm vào sở như
muốn kéo dài dư hương của một cái hẹn tràn đầy niềm vui.
Trao trả chìa khóa xe, nói mấy lời cám ơn thường lệ với
thằng bạn kế bên, Bảy Thất quay về với cái bàn "đục" quen
thuộc của mình. Lần này chàng thấy khác hẳn. Mọi thứ
chung quanh chàng như đang tung bay, nhảy múa. Hình như cái gì
xấu xí nhất rồi cũng trở nên đẹp đẽ dưới vòm trời yêu.
Chàng vừa huýt sáo
yêu nhau, cho nhau... trọn đời
... vừa
thong thả buộc lại tấm tạp dề quanh bụng. Bật công-tắc
chạy cho nóng máy. Lòng vẫn vơ thầm nghĩ đến bóng dáng
Camille...
Nhưng bỗng dưng cô Lora Ðại Hàn bương bả tới báo động:
"Có điện thoại." Của Camille? Bảy Thất đoán vậy! Rồi
bâng khuâng tự hỏi: Chẳng lẽ khúc dẫn nhập đã chuyển
sang phần thân bài lẹ làng đến thế sao? Vì bên trong mẫu
giấy đó chàng đã viết tặng nàng một bài thơ, nhắc nàng
chuyện cũ:
Người Khách Hàng Của Anh
*
Hình như mỗi người chúng ta đều có
một khách hàng
Một khách hàng, với anh, một người tình
Em có muốn trở thành
người khách hàng của anh?
Anh sẽ bán cho em trái tim này
Chẳng thèm một xu lời lỗ
Anh sẽ cho không
Chỉ xin em đón nhận với tất cả tấm lòng!
Mặc dầu đầu óc Bảy Thất lúc này thiệt như là một mớ
bòng bòng, nhưng chàng không thể nào chờ đợi lâu hơn
được nữa. Chàng chạy nhanh lại bàn giấy, chụp ống
nghe, lên tiếng:
- Hello, Thất nghe đây.
- Anh Thất đó hả, Camille đầu dây. Tôi đã đọc qua bài
thơ anh gửi tặng. Tôi cũng thấy cái điểm anh muốn nói gì
với tôi trong bài thơ đó. Anh làm tôi nhớ lại buổi hai
đứa mình ngồi chung với nhau trong lớp học quá chừng... Nhưng
tiện đây tôi cũng nói qua cho anh biết rằng tôi đã có bồ,
có người yêu. Anh ấy là người kỹ sư làm trong phòng kế
hoạch đó...
Bảy Thất nghe trái tim mình như vỡ tung trong lồng ngực. Tuy
nhiên, chàng tự trấn an ngay:
- Vậy hả? Mình chẳng qua chỉ là bạn. Tôi không để ý
gì đến chuyện riêng tư của cô đâu. Hi vọng hôm nào mình có
dịp gặp lại, đi ăn trưa chung với nhau nữa, vậy thôi. Bây
giờ tôi phải trở lại với công việc, bye nghen...
- Bye, Thất.
Bảy Thất gác ống nói và quay đi một nước, không thèm cảm
ơn cả Lora. Cô nàng gắt gỏng, xen vào:
- Sao dạo này lắm người gọi điện thoại cho anh thế?
Bảy Thất quay lại, điềm nhiên:
- Hết rồi. Bảo đảm sẽ chẳng còn ai quấy rầy cô nữa
đâu!
Bảy Thất vỡ lẽ. Ðúng là lối xử sự của Mỹ, mích lòng
trước đặng lòng sau. Muốn gì cứ nói thẳng ra. Bao nhiêu
ân tình chàng chắt chiu dành dụm cho nàng vụt tiêu tan. Mà sao
chàng không mãi mai nghĩ tới điều đó nhỉ? Làm như Camille
là đứa con gái mới ở tuổi dậy thì không bằng! Từng
tuổi đó hẳn đã từng trải từ lúc còn ở nội trú trong
trường. Làm gì chẳng có người yêu. Năm lửa bảy lần
cho số kiếp đàn bà cũng nên. Tiếc là mình đến với nàng
không đúng thời đúng lúc, chàng nghĩ vậy.
Liên tiếp mấy ngày sau, Bảy Thất như người mất hồn.
Chàng không ngờ liên hệ giữa chàng và Camille lại đi vào đoạn
kết thật mau chóng đến là như vậy. Có kéo dài thêm đi
nữa thì cũng chỉ là tình một chiều. Yêu đơn phương? Thà
chết sướng hơn! Nhưng chàng bỗng nghĩ lại. Cuộc tình
nào đã không có sự tranh giành, cướp giựt? Ðã biết bao
lần bọn con trai đập nhau vì gái? Chàng không thể ngừng
ngang tại đó. Chàng phải vùng lên tranh đấu giành chiến
thắng. Gian khổ càng nhiều chiến thắng càng vinh quang.
Thằng kỹ sư nào đó dẫu có ba đầu sáu tay đi nữa cũng
chưa phải là người chồng chung thân của Camille. Chàng phải
tìm cách hất nó ra khỏi trái tim nàng. Bằng cách nào
đây? Rồi cũng phải có một cách! Không thể nào chưa
đánh đã chạy, chưa thua đã đầu hàng. Không thể được.
Nhứt quyết không thể được.
Sau nhiều đêm tâm tư vày vò, Bảy Thất nhận ra một điều:
"Camille rất nhạy cảm về thơ." Yêu thơ, thích thơ, nếu
muốn nói rõ hơn. Chàng định thử với định mệnh một lần
nữa. Chàng sẽ bỏ qua phần thân bài và đi ngay vào đoạn
kết. Ðánh cú chót, một bài thơ cuối cùng. Một tuyệt
chiêu rồi có chết cũng cam. Chàng viết vội tâm tình mình
ra giấy:
Một Lần Nữa Thôi
**
Trong mắt anh, em nhìn anh
lần đầu tiên
Em biết liền, em thích tình anh, có phải?
Trong mắt em, anh nhìn em
lần đầu tiên
Anh biết liền, anh đã yêu em, có phải?
Em ơi em, vì sao mắt anh cay
Anh nhớ em, nhớ em
đêm lẫn ngày
Xin em hãy đến nơi này
Một lần nữa thôi
Cho dù chẳng có ngày mai!
Bài thơ gửi đi theo đường bưu điện riêng, sử dụng vòng
vòng trong hãng, đã mấy ngày qua mà Bảy Thất không thấy
động tĩnh gì hết. Kể như chìm xuồng. Lòng người tuy
là lá lay nhưng cũng không dễ gì thay đổi lập trường yêu
đâu. Ðã xong rồi một cuộc tình. Ðã qua rồi một nỗi
bâng khuâng. Tuy nhiên chàng không hề hối hận, ăn năn một
điều gì. Hơn ai hết, chàng hiểu cho thân phận mình.
Ðừng có đèo bồng!
Cho mãi đến trưa ngày thứ sáu tuần sau, Lora lại tìm đến
Bảy Thất, cằn nhằn:
- Tuần vừa rồi anh có nói với tôi là sẽ không còn ai gọi
điện thoại đến quấy rầy tôi nữa, mà tại sao bữa nay lại
có con "quỉ cái" nào mới gọi tới đây? Anh có chịu đi trả
lời điện thoại cho người ta không, hả?
Bảy Thất mừng thầm trong bụng, nhưng giả đò như chẳng có
chuyện gì quan trọng:
- Thiệt vậy à? Chắc là bà phỏng vấn viên ở phòng
tín dụng kêu tôi lên cho mượn tiền mua xe mới chớ gì!
Nhưng thực ra không phải vậy, vì chàng đã reo vui:
- Hi, Camille, lâu ngày không gặp. Có gì lạ không? Tôi
định mò lên văn phòng của cô nói chuyện vài câu nhưng ngại
quá. Cứ phân vân không biết cô có chịu tiếp tôi hay không
nữa đây?
- Vừa thôi, tôi chỉ là một nhân viên quèn của hãng, anh
thổi phồng lên chi dữ thế. Nè, chiều mai anh có rảnh không?
- Rảnh. Chi vậy?
- Ghé lại nhà tôi chơi.
- Thiệt hả, có party hả? Bộ cô định giới thiệu tôi
với ông bồ của cô hả? Cô có mời nhiều người lắm
không? Tôi hay sợ đám đông!
Bảy Thất nói
sợ đám đông
là nói thật. Nhiều
lần chàng đã đi dự tiệc của Mỹ rồi. Chàng cảm thấy bơ
vơ lạc lõng quá đỗi trong đám rừng người ngoại lai đó.
Tưởng chừng như mình sao quá ngô nghê, ngốc nghếch khi không
hiểu và cười được qua những câu pha trò của họ. Thì ra
sự cách biệt ngôn ngữ là sự cách biệt của cả một thế
giới. Nhưng Camille liền đánh vỡ mọi điều thắc mắc trong
đầu chàng:
- Không, tôi chẳng mời ai hết. Chỉ mình anh với tôi
thôi. Lần này đến phiên tôi, tôi sẽ cho anh xem một vài
thứ mà chắc chắn anh sẽ lấy làm ưa thích. Nhà tôi dễ
tìm lắm, địa chỉ có ghi trong sổ diện thoại. Chắc anh
không cần tôi chỉ đường. Khoảng ăn cơm chiều, bảy giờ
tối, có được không?
Còn nỗi vui mừng nào lớn hơn cho chàng? Chẳng lẽ bài thơ
cuối cùng của mình có ảnh hưởng mạnh đến như vậy sao? Bảy
Thất run run khẻ nói:
- Ừa, anh sẽ đến với em đêm mai, em thương của anh.
Chàng gác ống điện thoại và lững lờ bước đi. Một lần
nữa, chàng đã quên cảm ơn Lora, người vừa mang tin vui đến
cho chàng. Ðó, một con người Á đông. Như chàng. Người
đàn bà lấy chồng ngoại quốc là tự mình diệt chủng, còn
đàn ông, trái lại, có lấy vợ xứ người đi nữa thì cũng
chỉ là hành động di giống mà thôi. Nhưng ngay trong giây phút
này, có lẽ cái tâm hồn Á đông nghiêng về đạo lý Khổng
Mạnh của chàng như vừa vượt qua bức tường âm thanh. Ðã
bay ra khỏi bức trường thành vòng đai xa lơ xa lắc. Tâm hồn
chàng giờ như đã lọt vào một quỹ đạo mới. Ôi, vóc dáng
đó, môi mắt đó, thân hình đó, hơi hám đó, em có thật
hứa hẹn cho anh một điều gì? Nghĩ tới ngày mai, một
chiều xuân rộn rã men say, bất giác chàng cảm thấy bâng
khuâng. Trong tận cùng đáy lòng chàng, tiếng nói của con
tim lại thêm một lần nữa như vang vọng ngân lên: Camille em
ơi, tình mình biết sẽ về đâu...
*
My Customer
Everybody seems to have
a customer
A customer, for me, a valentine
Do you want to be
my customer?
I will sell you my heart
Without a penny of interest
I will just give it away
Please handle it with care, okay!
**
Just One More Time
When you looked into my eyes
for the first time
You liked it, my love, didn't you?
When I looked into your eyes
for the first time
I knew it that I would love you, didn't I?
Oh darling, I cry
Because I am missing you
through days and nights
Please come by, come by again
To see me
Even for just one more time!
back to top
06. BÊN DÒNG SUỐI NHỎ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Dòng suối sau nhà Phu, Ðường Trượng Phu, cho gia đình chàng
nhiều điều thích thú. Xuyên qua bốn mùa xuân hạ thu đông,
cũng như ngày qua ngày, những cơn nắng tẻ, mưa buồn,
những biến chứng từ căn bệnh trầm kha, tương tư, của
đất trời. Little Creek, tên của nó, hay là Dòng Suối Nhỏ,
nếu muốn gọi bằng tiếng Việt, không phải là
Suối mơ,
bên rừng thu vắng
... gì cả.
Có lẽ Phu đã đồng ý mua ngôi nhà này, ngôi nhà duy nhất mà
gia đình chàng đã và đang ở từ ngày qua Mỹ, chỉ vì nỗi
ngạc nhiên, vui mừng của vợ:
- Ô, anh coi kìa, có con suối lẩn khuất phía sau bìa rừng
nữa kìa! Cảnh sao mà quá hữu tình, anh thấy hôn? Em
sẽ biến khu này thành vườn địa đàng của chúng mình!
Phu cũng rất thích cái phong cảnh vườn sau đó, nhưng chàng
vẫn hỏi vợ thêm một lần nữa cho chắc:
- Nè, có thiệt là em chẳng màng đến cái mặt tiền không
đó?
- Mặt tiền? Em thấy mặt tiền ngôi nhà này cũng đâu có
xấu xí gì. Tuy cái sân hơi nhỏ, nhưng anh đừng lo, mình
khỏi phải tốn nhiều thì giờ cho ba cái vụ cắt cỏ, trồng
cây chớ sao.
Thì ra quyết định mua nhà chọn đất, không những bên Mỹ này
mà ngay cả khi còn ở Việt Nam, thường là do đàn bà đề
xướng. Ðấy, chỉ là mới nói vòng vòng bên ngoài. Lọt vào
bên trong, càng thêm rắc rối nữa. Nội cái nhà bếp không
thôi cũng đã điên cái đầu. Cái này chật chội quá. Cái
kia thì quay về hướng nắng chiều. Cái nọ trông ngay qua buồng
ngủ đầu căn của nhà hàng xóm... Nhiều lần vợ Phu đã than
phiền như vậy và luôn luôn kèm theo một câu kết gọn lỏn: "Em
hổng chịu đâu... " Cuối cùng, chàng phải nhảy vào can thiệp,
giải thích: "Không biết em tính sao chớ mình phải... bù qua chế
lại. Muốn được cái này thì phải mất cái kia. Mình đâu có
bỏ ra bạc triệu bạc muôn đâu mà đòi hỏi trong nhà phải có đủ
thứ. Dầu gì đi nữa em cũng phải vừa ý với một cái. Ðể
không thôi quá trễ, lạng quạng chính quyền địa phương hết
tiền, không còn tiền cho vay. Vả lại, mình cũng đã đi coi
mấy chục cái rồi chớ bộ ít ỏi gì sao. Anh không muốn phải
chờ thêm một năm nữa mới mua được nhà."
Nhưng, những lời nói của Phu rồi cũng như nước đổ lá
môn. Bởi vậy lúc nghe vợ nói thích con suối nhỏ phía sau nhà
là chàng mừng hết lớn. Khỏi còn phải đi tới đi lui, mất
hết cả thì giờ. Mặc dù căn nhà này nhỏ xíu, nếu đem so
với những căn nhà dềnh dàng rạng rỡ của những tay ăn nên
làm ra thì nó chỉ bằng cái lỗ mũi của người ta, nhưng điểm
chàng thích nhứt là trong tương lai, chàng khỏi phải châu đầu,
dụm đít, câu mỏ như thiên hạ. Nếu có đụng chạm gây gổ
với láng giềng đi nữa, thì cũng chỉ chịu trận có ba mặt
thôi, mặt trước và hai bên hông. Mặt sau, giờ là của
chàng, một vùng trời thênh thang rộng rãi. Tuy không phải là
chủ nhân chính thức (đất của chính phủ, hiển nhiên), nhưng
nào ai thèm ngó ngàng léo hánh tới đây làm chi!
Dạo ấy đang giữa mùa hè. Sau hai tuần dọn dẹp, sơn phết
bên trong nhà xong xuôi, nguyên gia đình chàng gồm vợ chồng con
cái và Bingo, con chó nhỏ thuộc giống Beagle, bắt đầu tấn
công tiến chiếm khu rừng hoang, với mộng ước biến nó thành
vườn địa đàng, như vợ chàng đã từ lâu ôm ấp.
Ngoài những cây thông to lớn, cao vút đến chân mây và những
cây tùng thấp, tròn, thon thon, cánh rừng còn chứa nhiều
cây lạ chàng chưa hề thấy ở Việt Nam. Nào là những cây
phong (maple) có lá răng cưa lớn, mới trông giống như những
ngôi sao xanh mướt; cây sồi (oak) ngạo nghễ, cành và lá hình
mũi viết chĩa ra khắp thân; cây mật ngọt (sweet gum) tươi
tốt, có dáng dấp của những cây Noel to lớn, với đỉnh nhọn
lểu cao chót vót; cây bạch đàn (white birch) da sần sùi, bạc
thếch như vỏ cây tràm, tàn cây sum sê mang đầy lá hình đồng
tiền nho nhỏ, trắng xanh hai mặt; cây dương đào (dogwood) với
phiến lá dầy hình bầu dục. Những cây anh đào rũ (whipping
cherry) trơ cành chơ vơ... và chằng chịt đó đây những dây
leo độc (poison ivy), thân cùng lá xanh bóng như thoa mỡ, nhưng
hễ động vô nó là ngứa gãi thành ghẻ, nổi giề như giề
cơm cháy.
Việc trước tiên là phải chặt hết cây con, dây leo và bụi
rậm. Cây lớn hơn một chút phải dùng cưa. Phồng tay, phỏng
trán và ướt đẫm mồ hôi, chẳng khác gì đi làm xâu, làm
thuế. Nhưng
đồng vợ đồng chồng, tát bể đông cũng
cạn
, mọi khó khăn, khổ cực rồi sẽ qua, Phu tin như vậy.
Nói đúng ra, chỉ hai vợ chồng chàng làm thôi. Ðám nhóc con
chàng còn nhỏ quá, làm thợ vịn còn chưa xong nói gì làm
thợ con, thợ cái. Nhưng trông tụi nó lẩn quẩn dưới tàn
cây bóng mát cũng vui. Thỉnh thoảng còn chạy nhảy đuổi theo
đàn bướm hoặc thơ thẩn hái hoa. Chỉ được một việc là
lâu lâu chàng sai tụi nó vô nhà lấy nước trà, nước
ngọt tiếp tế cho ba mẹ.
Ðang chặt cây, phát bụi thì bỗng dưng chàng nghe đám nhóc la
lớn:
- Ba má ơi, lại đây coi nè, có con sóc lớn quá! Mà nó
không chịu chạy đi đâu hết á!
Phu lật đật chạy tới. Vợ chàng theo sau. Chàng ngạc nhiên
thấy con vật to bằng con thỏ, lông xám tro, bụng trắng phếu
đang đeo dính cứng trên cành. Thằng nhóc cầm cây chĩa vào
bẹ sườn mà cũng không thấy nó nhúc nhích. Vợ chàng cho
biết:
- Ối, nó không phải con sóc mà là một loại chồn hôi
(opossum). Nó ưa giả chết khi bị phát hiện. Cứ để yên
một lát thì nó sẽ bò đi mất tiêu cho mà coi.
- Bắt nó xuống chơi được không má?
- Chơi gì với cái lũ chồn hôi hám đó! Với lại nó cắn
chết, nó có răng đó...
Bỏ mặc lũ nhỏ với con chồn, vợ chồng Phu tiếp tục trở lại
với công việc khó nhọc. Khi thì dùng đao, khi thì dùng búa,
khi thì dùng cưa, có lúc phải dùng đến cuốc. Cái cuốc bên
Mỹ này rất khác biệt so với cái cuốc bên nhà. Nó có hình
tam giác, mũi nhọn hoắc như mũi chĩa ba, xài riết rồi cũng
quen. Cạnh lưỡi cuốc bén lắm, có thể dùng để chặt
đứt những cây con, coi bộ còn dễ hơn dùng dao, cho dù là
loại dao chặt thịt, to bản đi nữa.
Mất cả ngày trời vợ chồng chàng mới dọn xong một khoảnh
rừng chừng nửa mẫu anh, trải dài từ hàng rào sau nhà ra
đến tận bờ con suối nhỏ. Hai bên bờ suối đầy cỏ
dại nở những chùm hoa li ti màu tim tím như màu bông lục bình.
Lác đác một vài đám cỏ xanh rì, với những lá hình ngòi
viết giống hệt như lá rau đay, mọc lan trên bờ cát gần sát
lạch nước. Lòng suối khoảng bốn năm thước bề rộng, uốn
khúc ngoằn ngoèo, lẩn khuất trong tàn cây nghiêng ngả, chằng
chịt tủa ra từ hai bên bờ vì đất bị lở do nước cuốn soi
mòn. Ðây đó những cồn cát nhỏ, vàng lẫn trắng, nổi lên
trơ bóng. Nước suối trong veo, không đầy lắm, chảy lừ
đừ, mát rượi. Những chỗ sâu còn thấy những bầy cá
trắng, cá sặt con... tung tăng bơi lượn.
Qua ngày hôm sau, Phu đem máy cắt cỏ ra làm một chập giáp
vòng. Những lõm đất trống, không một cọng cỏ, phơi
bày loang lổ như những đám lang ben trên lớp da xanh mướt .
Nhiều đường ngầm của loài chuột nhủi (mole) vừa đui vừa
điếc, sống sâu dưới đất như Việt cộng, bỗng trở
nên lộ thiên, trông như những luống đất cày nho nhỏ. Nhìn
chung, khoảnh vườn trông cũng sạch sẽ chán. Bóng mát vẫn
còn che khuất nhiều nơi từ những tàn cây cao còn sót lại.
Không may cho gia đình Phu ngày ấy là con Bingo, có lẽ vì không
ưa tiếng nổ bạch bạch của máy cắt cỏ, đã chạy sâu vô mảng
rừng phía sau nhà hàng xóm. Rồi không biết nó đã "đào mồ
cuốc mả nhà ai" mà một bầy ong nghệ (yellow jacket), loại ong
vàng có khoan đen thường làm tổ dưới đất, bay túa ra rượt
mọi người chạy có cờ. Phu và thằng con thứ của chàng
bị chích mỗi người một vết trên bả vai, đau điếng. Một
lúc sau chất độc ngấm vào, làm cánh tay như muốn xuội.
Riêng con Bingo thì bị nhiều nhứt, lỗ mũi, lỗ tai và mí mắt
sưng vù mấy cục. Nó nằm rên ăng ẳng, thỉnh thoảng đưa chân
khều khều, gãi mấy chỗ sưng.
Phần công tác trên đất liền kể như xong. Chỉ còn đặt thêm
một cái bàn pinic ở giữa khu vườn nữa là tất cả đâu vào
đấy. Công tác dưới nước mới là gian nan, vì vợ Phu đề
nghị:
- Em muốn bắc một cây cầu dài từ bờ ra giữa suối để
anh có chỗ chiều chiều ra đây ngồi câu thời câu vận.
Và trên cháng ba của cây bạch đàn này em cũng muốn cất một
cái nhà chòi cho mấy đứa nhỏ có chỗ chơi trò Tarzan!
Cứ cái điệu này thì chắc mình phải ru rú "ở nhà với
vợ biết ngày nào khôn" quá, Phu nghĩ. Sao mà tính khôn
quá vậy ta? Còn đám bạn bè ăn nhậu, bù khú của chàng
bỏ cho ai?
Tuy vậy, Phu cũng góp ý:
- Chuyện gì chớ bắc cây cầu từ đây ra đó không có gì
khó khăn hết. Ở giữa suối, ông trời đã chôn sẵn cho mình
hai gốc cây chết. Bây giờ chỉ cần cưa ngang nó ra làm
trụ thì chắc biết mấy. Bắc lên đó một cây đà, rồi
thảy nhẹ thêm một tấm đòn dài bên trên nữa là xong. Cùng
lắm thì chõi thêm một, hai cây trụ chống nữa, làm đà chịu
ở khoảng giữa. Nhưng, cái vụ cất nhà chòi trên cây mới là
khó. Cây ván phải mua. Ðinh vít phải sắm. Rồi, nếu mà
làm không cẩn thận nghen, té trẹo bản họng có ngày!
Nói gì thì nói, lệnh bà đã ban ra thì tất cả phải răm
rắp thi hành! Trong khi chàng đục đẽo, cưa cắt và có khi còn
phải trầm mình nửa thân dưới nước thì đám con của chàng
nhởn nhơ đùa giỡn, trầm nghịch bên dòng suối. Bọn nó đi
bắt tôm lóng, tôm cụt, tôm lò rèn (cray-fish), nói chung
là những con tôm có cái mình nhỏ xíu trong khi đầu và hai càng
bự chù vù; bắt cá kèo Mỹ (salamander), giống hệt như
con rắn mối mà lại sống dưới nước được mới là lạ;
bắt cá lia thia...
Riêng phần Phu, chàng nghĩ nếu chàng ra tay, bắt chước mấy
con hải ly (beaver), cưa gỗ đắp đập, chắn ngang suối thì
gia đình chàng sẽ có một hồ tắm nửa nhân tạo nửa thiên
nhiên. Bảo đảm không thua gì hồ tắm ở suối Lồ Ồ. Nhắc
tới suối Lồ Ồ làm chàng nhớ Sài Gòn, Thủ Ðức, Hố Nai,
Biên Hòa đất đỏ... quá chừng. Hồi nào mới thương nhau,
hai vợ chồng Phu cũng đã từng đến con suối đó. Không phải
để tự tử mà là để tù tí, như bao cặp tình nhân khác.
Nước suối Lồ Ồ trong sạch hơn vì rỉ ra ngay từ trong núi,
còn dòng suối này lại chảy qua những vùng đất thấp, mang
theo ô uế tục trần, độc địa hơn nhiều. Việc đắp đập
thì chàng chỉ nghĩ vậy thôi, còn lâu chàng mới đem điều
này thố lộ cho vợ biết. Vì chàng rõ hơn ai hết, ai sẽ là
người đóng vai dân thợ và ai sẽ là kẻ giữ chân đốc công.
Công việc nhà, dù khó khăn mấy đi nữa bảo đảm không sớm
thì... muộn, Phu đều hoàn thành mỹ mãn. Rồi cũng đến ngày
coi như tạm chấm dứt công tác bên dòng Suối Nhỏ. Tuy không
có lễ lộc, cắt băng khánh thành khu vườn địa đàng,
thượng uyển hay công viên gia đình này, nhưng bữa cơm
chiều hôm đó có thịt bò nướng barbecue thơm phức, có la-ve
củ kiệu, có bánh tráng rau sống... Ðầy đủ quá! Bên cạnh
"nửa cây cầu sông Kwai" vừa hoàn tất còn có cả chòi canh,
đồn lính cất trên cao. Còn gì hơn! Vui biết mấy!
Nhưng những giây phút thật thần tiên, thanh bình an lạc bên
dòng suối chảy róc rách ấy đã làm Phu nghĩ nhiều đến gia
đình chàng còn ở lại Việt Nam. Không biết giờ này cha mẹ,
anh em chàng đang sống thế nào dưới chế độ Mác-Lê bế
tắc! Gia đình là nền tảng của xã hội phương đông, vậy
mà bị bứng gốc sang trồng ở phương tây thì làm sao cho trái
ngọt cho được. Không còn nghĩa lý gì cả. Một hai chục năm
nữa đây, mọi thứ mà chàng đã cẩn trọng mang theo, gìn giữ
rồi cũng sẽ biến mất, hòa tan vào cái xã hội vốn hay đề
cao và đặt nặng vấn đề thành công cũng như đóng góp của
từng cá nhân.
Mùa hè trôi qua và mùa thu lại đến. Không cần phải đi đâu
xa, không cần phải lên núi như nhiều người đã làm,
vợ chồng Phu có thể ngồi tại nhà mà ngắm cảnh mùa thu.
Những chiếc lá vàng rụng rơi theo từng cơn gió, trước
mắt chàng, qua khung cửa sổ vườn sau, trên tầng cao nhìn
xuống bìa rừng. Hàng ngày, mỗi chiều chàng đi làm về,
chàng ước gì mình biết làm thơ để ghi lại những nôn nao
của tâm hồn qua sắc lá thân cây muôn hồng nghìn tía, qua
những cách buông mình lửng lơ, im lìm, hay chao đảo tung bay
của những úa vàng. Những úa vàng ấy đã thật sự khơi
mầm cho một màu xanh đang được tạo dựng trong âm thầm,
lặng lẽ. Như cuộc đời này. Như dòng Suối Nhỏ kia, đã,
đang và sẽ mãi mãi trôi.
Rồi mùa đông lại về. Tuyết trắng rơi phủ đầy rừng, trên
những cành cây trụi lá tua tủa như rừng gươm, trên "nửa cây
cầu sông Kwai," trên mái nhà chòi, giờ trông như một tổ chim
lớn vắt vẻo trên không. Và hai bên bờ suối, tuyết như
hai hàng ren kết bằng bông gòn, từng cụm, từng cụm trắng
xóa, mấp mô theo lối đất. Xa xa, một vài cây thông, gốc
tùng xanh thẫm, điểm chấm phá cho khung nền đơn điệu, xám
ngắt một màu. Tất cả băng giá, rét run, như từ lâu không
còn sức sống, không một dấu hiệu hoạt động nào...
Tháng ba, mùa xuân trở lại và rừng xưa thay lá. Những
nụ non tơ mởn đâm chồi. Phết lên rừng một màu đọt
chuối, với từng mảng lớn những vết phơn phớt hồng hay
mơn mởn xanh. Những đóa anh đào (cherry) và lê trắng muốt,
những búp hồng đào (redbud) tim tím, những cánh dương đào
hồng mịn hay trắng nõn, những chùm hoa táo dại (crab apple)
tím hồng... thi đua khoe mình dưới nắng xuân. Những
con chim én (swallow) cánh đen tuyền, những con chim Cardinal
lông đỏ, những con chim hoàng yến lông xanh (blue jay), hợp
với lũ chim sẻ ức đỏ gạch (robin)... đã trở về bay lượn
rợp trời, đùa hót vang rân. Cả con Suối Nhỏ sau nhà cũng
đã trở mình thức giấc, hân hoan ôm vào lòng những mảng
tuyết tan. Dòng nước trong ngăn ngắt giờ đổi ra màu hoàng
thạch. Và Phu cũng vậy, chàng cảm thấy khoan khoái, dễ chịu,
yêu đời hơn.
Nhưng, như một định luật thiên nhiên bất biến, đi đôi
với cảnh đẹp mùa xuân bắc Mỹ là những cơn mưa tầm tã
trong mùa tuyết tan, gây nên những trận lũ lụt chết người.
Ngôi nhà Phu nằm trên một sườn đồi nhưng vẫn không thoát
khỏi ảnh hưởng của những cơn lũ lụt mùa xuân đó. Chỉ sau
ba ngày ba đêm mưa dầm liên tiếp, con Suối Nhỏ không kịp
nuốt hết dòng sữa phù sa đổ tràn vào thân mình, bụng nó
giờ trương lên, phình ra chang bang hai bên bờ như một dòng
sông lớn, cuồn cuộn thác đổ. Vợ Phu than thở:
- Thôi, kể như tiêu hết rồi! Vườn chơi của mình rồi
sẽ đầy bùn đỏ cho mà coi. Bao nhiêu hoa em mới trồng ven bờ
suối chắc đều úng thủy, chết hết trơn rồi! Thuở
đời nay, toàn là vạn thọ, thược dược, cúc lớn, cúc
nhỏ... chớ có phải lúa xạ đâu mà biết vọt lên cao theo con
nước. Thiệt là công dã tràng! Mấy ông thần tiên đoán
thời tiết kỳ này coi bộ ba búa trật lất cả ba!
Phu đỡ lời:
- Ối, ba cái lẻ tẻ đó mà nhằm nhò gì! Anh chỉ sợ cây
cầu thủy tạ của mình rồi cũng trôi đi tuốt luốt!
Mà nó trôi thiệt! Ðến lúc nước giựt xuống, không còn
một mảnh ván làm thuốc! Bóng dáng của "nửa cây cầu sông Kwai"
giờ chỉ còn lại hai cái trụ thiên nhiên làm bằng hai gốc cây
bị chôn sống từ lâu ở giữa dòng. Hừm, một đời ta hai
ba đời nó, rồi Phu sẽ xây cất lại, to lớn hơn, vững
chắc hơn...
Cũng bên dòng Suối Nhỏ đó, trong một buổi chiều mưa lâm
râm buồn bã, Phu đã hò hét đám con:
- Ba không cần biết các con đã bỏ ra bao nhiều tiền để
mua sắm, đổi chác với đám bạn, ba chỉ cần các con từ nay
phải bỏ thói quen thức thâu đêm để đọc những cuốn sách
nhảm nhí, vô bổ này. Nó không mảy may giúp ích gì cho các
con trong việc học hành thi cử, mà còn có hại cho sức khỏe
nữa, hiểu không? Bây giờ ba muốn tự tay các con vứt những
thứ độc hại đó xuống suối!
Lẽ dĩ nhiên đám nhóc răm rắp nghe theo, không cãi một lời.
Từng cuốn một, trong đó có cuốn bọc bìa ni-lông thật kỹ,
rơi tòm xuống suối. Cả thùng, năm bảy chục cuốn chớ không
phải ít. Một đô-la một cuốn, một đô-la hai mươi lăm xu
nếu đem bán qua xứ Canada. Rồi, hãy làm ơn bái-bai những
anh hùng vũ trụ, những
Conan, Superman, Spiderman
... và hãy
quên đi những trận ác chiến nảy lửa có những
Bam!, Zoom!,
Pow!
... v.v. Thời gian đó, nghĩ lại, có lẽ là khoảng
thời gian duy nhất mà Phu đã hành xử quyền làm cha có phần
nào độc đoán của mình, theo lối Ðông phương. Vì ngay sau
đó, chàng đã thay đổi rất nhiều.
Mười mấy năm qua, giờ này, đám con của Phu đã khôn lớn.
Nếu còn đủ, chàng có cả thảy chín đứa chớ chẳng phải
ít. Một đứa chết bịnh, hai đứa chết trong chiến tranh
và một đứa chết lúc chạy loạn. Còn lại ba đứa lớn,
một đã ra trường và hai đứa còn trong đại học. Hai đứa
nhỏ nhứt ngồi lớp 11 và 12. Ngoài tình cha con, mẹ con ra,
giữa đám nhóc và vợ chồng Phu còn có thêm cái tình... bạn,
theo như lối giáo dục Tây phương. Cái việc "má mà đánh con,
con sẽ thâu roi" đã không hề xảy ra. Ngày nay, bên dòng Suối
Nhỏ, trên "nửa cây cầu sông Kwai" mới được cất lần thứ
ba, đứa con trai thứ (bây giờ lại là đứa lớn nhất nhà)
đã tâm sự với Phu:
- Ba biết hôn, nếu hồi đó mà ba không bắt con vứt mấy
cuốn
cosmic book
đó xuống suối thì bây giờ có lẽ
con đã trở thành một họa sĩ hoạt họa thay vì một kỹ sư
như ba má mong muốn. Hồi đó con mê đọc thì ít mà mê vẽ thì
nhiều. Con còn giữ hàng trăm bức họa của con mà ba má đâu
biết. Con nghĩ, đôi lúc chính cha mẹ đã vô tình cản trở
bước tiến của con cái, ba thấy có phải như vậy không?
Như vậy là từ bấy lâu nay bọn nhỏ đã dấu chàng rất nhiều
điều? Phải! Chuyện con cái dấu giếm cha mẹ là chuyện
thường tình! Như chính Phu hồi còn nhỏ, xa xưa cũng vậy
thôi. Hút thuốc, dấu. Uống rượu, dấu. Bồ bịch, ăn
chơi hoang đàng, dấu. Bắt buộc, chàng nghĩ! Vậy thì
đến đời con, đời cháu mình..., mình cũng đâu làm sao
phiền trách tụi nó cho được. Chàng từ tốn phân trần:
- Thì ngay bây giờ, nếu con thích, con cũng có thể trở
lại với ngành vẽ của con bất cứ lúc nào mà, đâu có muộn
màng gì!
- Không được đâu ba. Cái đam mê của mình coi vậy chớ nó
chỉ có một thời thôi. Cái thời đó mà lỡ qua rồi
thì khó tìm được hứng thú để trở lại lắm. Ba biết hôn,
tụi con còn dấu ba má nhiều chuyện lắm mà ba má nào có hay.
Chẳng hạn như ngay cái vụ thằng Thông, thằng út nhỏ nhứt
trong nhà, mà lại có vô số bạn gái mới chết. Trong khi con,
đứa lớn đầu nhứt, vẫn chưa tìm được một người bạn
gái vừa ý. Ðiều này chắc ba má cũng đâu đã biết hả?
Phu hơi bàng hoàng, sửng sốt vì lời tâm tình của con. Không
hiểu vì lẽ gì mà nó nêu lên vấn đề đó. Có phải vì
những răn đe nghiêm khắc của chàng ở buổi ban đầu, thời
mới lớn, mà đã làm cho nó khó khăn hội nhập vào cái xã
hội này? Chàng nghĩ, chàng đâu có khắc khe gì cho lắm
đối với mấy đứa lớn, và cũng chẳng hề buông thả cho
mấy đứa nhỏ sau này. Chàng giã lã:
- Vậy sao! Vì lẽ gì mà con không làm được những gì
em con đã làm chớ?
- Con cũng không biết nữa ba à! Làm như trong mỗi người
chúng ta, ai ai cũng có số hết, phải hôn ba?
Cái số? Cũng có lý lắm chớ! Chính Phu đã nhiều lần
cảm nhận như vậy. Ngay bản thân chàng, là con người vốn
hay thích làm chuyện "nhân định thắng thiên," nhưng tại cái số
trời đã định kia, thường bắt chàng phải rơi vào cảnh bó
gối, chờ thời. Phu gật gù, kết luận:
- Ừa, có lẽ con người ai ai cũng đều có số hết! Cái
số của hai cha con mình là ngày này, giờ này mình phải ngồi
tại đây, bên dòng Suối Nhỏ này và bàn về vấn đề... cái
số, như đã được viết sẵn và không thể nào thay đổi
được.
Rồi chàng ngẫm nghĩ, nếu mà mình tin vào định mệnh, vào
số trời, thì... đâu còn chuyện gì để nói nữa. Mọi
việc, phải chăng, đã an bày từ lâu? Ngay cả chuyện tử
biệt sinh ly...
back to top
07. HOA HẬU XỨ DƯƠNG ÐÀO
NGUYỄN TẤN HƯNG
Chiều ngày ấy đi làm về, anh Hữu vừa mới lót tót bước
vô nhà thì vợ anh khoe:
- Anh coi nè, khi không mà có thư thông báo là con gái của
mình được chấm đậu bán kết cuộc thi hoa hậu học sinh
của tiểu bang nhà. Bây giờ họ mời hai vợ chồng mình đem
con Thủy Tiên đi dự kỳ thi chung kết sẽ tổ chức tại thành
phố Charlotte trong tháng tới nữa đây.
Ðã có nhiều kinh nghiệm với những dịch vụ quảng cáo bằng
cách gửi thư đến tận nhà, anh Hữu cho ý kiến:
- Coi chừng tụi nó dụ khị mình mua bán chuyện gì đó. Làm
gì có chuyện bán kết với chung kết. Nẫm nay anh đâu có
nghe con Thủy Tiên nói chụp hình kiểu, hình màu gì ở trường
đâu. Làm sao người ta biết nó xinh đẹp đến mức nào mà
chấm đậu. Ðã vậy chưa nghe nói vô vòng loại, vòng một,
vòng hai gì ráo... mà a thần phù nhảy vô tứ kết, bán kết
thì coi bộ ăn gian người ta quá cỡ.
- Ðâu có. Con Thủy Tiên nói bạn nó năm rồi cũng có đứa
đi dự thi như vậy. Người ta chỉ lựa những đứa nào học
giỏi thôi. Danh sách thí sinh đều do cô thầy giáo của mỗi
trường đề nghị mà. Con mình học giỏi nên mới được cô
thầy ngó ngàng tới. Ðâu anh đọc kỹ tấm giấy này coi.
Nếu không có gì trở ngại thì mình làm một chuyến đi
Charlotte chơi. Dịp may ngàn năm một thuở của con gái anh đó
à nghen.
Chưa kịp thay đồ, anh Hữu phải ngồi xuống ghế đọc qua xấp
hồ sơ dự thi. Dò tới dò lui, góp chữ đầu dính với chữ
cuối, anh mới hiểu trọn vẹn một giao kèo thương mại. Thì
ra không riêng gì con gái anh mà là hàng trăm học sinh trung học
đệ nhị cấp, bao gồm các lớp junior và senior high (từ lớp 9
đến lớp 12) và cả sinh viên đại học ban cử nhân undergraduate,
đã được chọn lựa. Theo kiểu rút thăm cầu âu do máy
computer lọc ra. Hên xui may rủi như... xổ số kiến thiết
quốc gia vậy thôi. Ðó là giải chính, gọi là giải
coed
. Và ba giải phụ. Một giải dành cho học sinh trung
học đệ nhất cấp, bao gồm các lớp ở miđle school (từ lớp
6 đến lớp 8), gọi là giải
pre-teen
. Một giải dành cho
học trò con nít thuộc các lớp tiểu học, elementary school (từ
lớp 1 đến lớp 5), gọi là giải
princess
. Và cuối
cùng, một giải dành cho các nhi đồng mẫu giáo trở xuống,
gọi là giải
tiny tot
.
Theo như giấy tờ đã ghi, tất cả các sinh viên ban cử nhân
và các học sinh trung tiểu học và mẫu giáo được chọn lựa,
đều đương nhiên đã vượt qua một kỳ thi không tưởng: bán
kết. Giờ này, ai cũng như ai, đều có quyền tham gia
dự tranh giải chung kết theo cấp lớp tuổi tác của mình.
Ðồng đều như nhau, ai cũng như ai, đều có cái cơ hội
ngàn năm một thuở như vợ anh vừa nói, để trở thành
một trong bốn hoa hậu hoc sinh của tiểu bang nhà.
Nhưng,
ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, thì anh
hùng... hoa hậu có hơn ai
, phải không? Thì đây, điều
kiện tiên quyết để có quyền đi dự thi là mỗi thí sinh
phải nộp cho "ban giám khảo" một số tiền mặt là ba trăm
đô-la. Thiệt đúng là tư bản! Làm tiền một cách trắng
trợn, anh Hữu nghĩ. Mà nói là "ban giám khảo" chỉ để nghe
xuôi tai vậy thôi chớ thực ra không ai khác hơn là những
"nhân viên của một công ty tư nhân." Những employees của
một incorporated company, không hơn không kém. Kèm theo
đơn xin dự thi, "công ty chế tạo hoa hậu" cũng có in sẵn
cho thí sinh một mẫu giấy dùng để đi xin tiền các hãng
thương nghiệp. Những sponsors. Tức là những hãng đỡ
đầu, muốn bỏ tiền ra để đầu tư vào cuộc thi sắc đẹp
của người đứng xin. Lẽ dĩ nhiên, chuyện bỏ tiền ra để
đỡ đầu một thí sinh cũng chẳng phải là chuyện vứt tiền
qua cửa sổ đâu. Mà chính thực ra, đó là một đường lối
quảng cáo rẻ tiền cho hãng thôi. Tựu chung, dưới một hình
thức này hay một hình thức khác, toàn bộ công cuộc tuyển
lựa hoa hậu chỉ là những dịch vụ thương mại thuần túy.
Anh Hữu đoán biết là vợ anh đã đọc qua và cũng đã hiểu
rõ những điều kiện về tài chánh mà "hãng biến chế hoa
hậu" đã đặt ra cho các thí sinh. Nên anh phát biểu ý kiến
theo chiều hướng mà anh cho là rất hợp tình hợp lý:
- Nó bắt mình đóng tiền đặng làm giàu cho công ty của nó
chớ thi hoa hậu hoa hiếc cái giống khỉ khô gì. Tụi này
chẳng qua chỉ là một "đoàn hát xiệc không có thú vật" vậy
thôi. Lê gót đi hết tiểu bang này sang tiểu bang khác, mượn
đầu heo nấu cháo, làm tiền thiên hạ một cách trắng trợn
giữa thanh thiên bạch nhật. Mình cũng đâu có ngu dại gì mà
đưa tiền cho nó ăn.
Nhưng vợ anh phản ứng ngay:
- Hừ, chỉ tốn có ba trăm đồng bạc thì có đáng là
bao? Nếu mà không tìm được người bảo trợ thì cùng lắm
em sẽ kêu mấy cô, mấy dì con Thủy Tiên phụ vô. Chuyện em
lo là chuyện chỗ ăn chỗ ngủ trong lúc mình dẫn con đi thi kìa.
Trời đất, anh Hữu than thầm, thì ra vợ anh đã đi trước
hơn anh rất nhiều bước. Vợ anh đã nghĩ đến ngày lên
ti-vi, đến những vòng vương miện, đến những tặng phẩm
dành cho người đoạt chức hoa hậu học trò. Trong khi anh chỉ
nghĩ đến chuyện phí công, tốn của. Ðầu óc anh lúc nào
như cũng coi chuyện dành dụm tiện tặn, để có dư chút đỉnh
chắt chiu gửi về Việt Nam, là quan trọng hơn cả. Nhưng thấy
vợ anh có vẻ cương quyết, anh lại nói phân hai:
- Well, thì tùy em với con hà. Nếu muốn đi thì phải xúc
tiến việc quyên tiền từ các hãng đỡ đầu. Biết trong
vòng vài ba tuần lễ thì có kịp không đây? Rồi đặt
trường hợp nếu mình quyên không đủ thì chẳng lẽ mình lại
xuất tiền túi ra sao? Anh chỉ sợ em với con vừa tốn thì
giờ mà còn vừa phí tiền của thôi. Vì chỉ cần nhìn qua
cái bản mặt da vàng của mình là mấy ông bà chủ hãng có đủ
lý do để từ chối, mời mình đi chỗ khác chơi rồi. Em
không thấy điều này hay sao?
Ôi thôi, anh Hữu nào có phải là đàn bà con gái thì làm sao
anh hiểu được. Hoa hậu, chỉ hai chữ vỏn vẹn vậy mà đáng
giá nghìn vàng. Phải chăng đối với tất cả đàn bà con gái,
thì đây là một cơ hội ngàn năm một thuở? Họ cũng sẽ
bảo: "Ðừng." Nhưng, đừng bao giờ bỏ lỡ dịp may duy nhứt
trong đời vừa chợt đến với mình. Cái cơ hội để thành
hoa hậu, để lưu danh hậu thế. Ôi, hoa hậu, vương
miện! Ôi, giấc mơ của cả một đời người đang sắp thành
sự thực! Làm sao mà ngưng lại được chớ...
- Kệ nó, để em lo. Em chỉ cần dẫn con Thủy Tiên đi một
vòng shopping mall là xong. Em sẽ ghé các tiệm bán áo quần
thời trang cho con gái, mấy tiệm J. C. Penney, Sears, Belk,
Ivey, Thalhimers, Brendles..., thiếu gì. Rồi còn K-Mart,
Wal-Mart nữa chi. Họ đâu sá gì một hai trăm đồng bạc.
Anh Hữu dọa:
- Ừa, thì em cứ đi thử mồt lần đi cho biết. Coi như
mình có cơ hội đo lường được mức độ kỳ thị chủng tộc
ở cái xứ văn minh tột đỉnh này vậy thôi.
Dạo đó cũng là lúc cộng sản Việt Nam vừa mới tổ chức thi
hoa hậu trên đất nước quê hương, tuy muôn vàn dấu yêu
nhưng đã quá nghèo đói vì bóc lột, đàn áp. Sự việc này
làm cả thế giới ngạc nhiên. Họ ngạc nhiên không phải vì xứ
sở ta không còn con gái đẹp, mà họ ngạc nhiên ở điểm là
tại sao đảng và nhà nước lại dám đang tâm làm chuyện xa xỉ
như vậy. Trong khi hầu hết dân chúng đều thiếu ăn thiếu
mặc rách rưới lang thang, hậu quả của mười bốn năm hơn cai
trị đất nước bằng sự ngu dốt và ác độc. Chỉ biết tham
quyền cố vị, vơ vét rút rỉa kẻ bị trị là người dân, và
đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại. Thân phận
nghèo đói không biết mắc cỡ hay sao mà còn đòi đứng lên
khoe đẹp, để làm thêm trò cười cho thiên hạ. Tất cả mọi
người Việt Nam ở hải ngoại đều xem qua tờ National Geographic,
số tháng 9, năm 1989 với nỗi nhục nhã ê chề. Không hiểu
lãnh tụ đảng đọc qua số báo này với niềm mừng vui, hồ
hỡi cái nỗi gì? Có phải họ thích thú khi được dịp chưng
bày những hỡ rún, đưa mông của một giai cấp mới, những
cường hào ác bá và tham nhũng mới? Những vòng mông, vòng
eo, vòng ngực của những con ông cháu cha mới, những công tử
và tiểu thư vô sản mới?
Rồi chẳng biết vì kỳ thị hay là vì cạnh tranh, với cái lý
do nếu hãng đối nghịch của mình đã đỡ đầu thì mình sẽ
không thèm bảo trợ nữa, vợ anh Hữu chạy bở hơi tai trong
tuần qua mà chỉ tìm được có ba mối chịu làm cò mồi. Mỗi
nơi năm chục, vị chi là một trăm rưỡi. Chị định tiếp tục
chạy rong nữa, bắt sang qua các quán ăn lớn như McDonald,
Burger King, Hardy, Arby..., hoặc lần qua các tiệm bán thực
phẩm như Kroger, Food Lions, Food Fair... Nhưng, chị bắt đầu
nản chí khi nghĩ đến mớ thì giờ lớn lao mà chị phải bỏ
ra. Chị nghĩ, chi bằng ký cha cho nó cái check một trăm năm
chục đồng nữa là xong. Gửi đi. Dễ ợt.
Nhưng, cái khó không dừng tại đó. Vì độ một tuần sau,
"công ty sản xuất hoa hậu" đã gửi về nhà cho vợ chồng anh
Hữu một lá thư hồi báo. Cho biết, trước hết, tiền
lệ phí đã nhận được đầy đủ và công ty hân hoan chấp
thuận đơn dự thi của Thủy Tiên. Kèm theo giấy chúc mừng
gia nhập cuộc vui, thứ đến, một lô giấy tờ quan trọng
khác cần được điền vào và gửi trả lại ngay. Phải mất
thêm không ít thì giờ bỏ ra nghiên cứu. Và sau cùng, một
cái list liệt kê những công việc cần thiết phải làm. Không
làm không được. Như giữ chỗ cư ngụ qua đêm tại địa
điễm đăng đàn, trình diễn. Khách sạn Hyatt ở thành phố
Charlotte, thành phố lớn nhất của xứ dương đào (dogwood
country) North Carolina. Như đi sắm áo quần, giày vớ cho con
em của mình. Áo sơ mi trắng, jupe xanh hoặc đỏ tùy theo số
thứ tự, để chuẩn bị cho màn đồng ca, hợp vũ tổng chào
quan khách. Cũng nên nhớ là xanh, trắng, và đỏ tượng
trưng cho màu cờ của xứ Cờ Hoa. Mua áo tắm một mảnh và
giày bít cùng màu, màu hường nhạt, sẵn sàng cho buổi trình
diễn áo tắm. Và còn một món không thể thiếu nữa là cái
áo dạ tiệc (night gown) dành cho buổi trình diễn sắc đẹp của
từng cá nhân. Rồi hiển nhiên son phấn, nước hoa... Ôi
thôi, cái gì cũng tiền, anh Hữu than thầm. Giá một cái áo
dạ tiệc coi được được đã mắc hơn tiền lệ phí dự thi.
Thì cũng cứ mà phải chi. Không biết vợ anh nghĩ thế nào,
chớ riêng anh Hữu, anh cảm thấy bỗng dưng anh bị ai đó đặt
ngồi lên lưng một con cọp... thiệt dữ hồi nào không hay.
Lụi hụi rồi cũng đến ngày các "hoa hậu sĩ tử" đang mong
đợi. Một cuối tuần. Ðể tránh trở ngại về việc mất
bài vở cho các thí sinh. Tuy nhiên, để khỏi lộn xộn vấp
váp cho chương trình chính thức sáng ngày thứ bảy, hầu hết
các bậc phụ huynh đều phải gác lại công ăn việc làm và đưa
con cái của mình đến trường thi sớm hơn, ngay trong đêm thứ
sáu. Những người ở gần như vợ chồng anh Hữu, đỡ hơn,
lái xe đôi ba giờ thì đến nơi. Tội nghiệp cho những kẻ
ở xa, tuốt ngoài biển hay biệt trên núi, kẹt dữ, lại phải
tốn tiền máy bay.
Anh Hữu vòng tới vòng lui mấy bận mới tìm được chỗ trống
trong bãi đậu xe riêng của khách sạn. Ánh nắng chiều vàng
nhạt, phất phơ xuyên qua hàng bạch dương cao vút bên vỉa hè,
như rải trên lối đi ngoằn ngoèo trong sân cỏ những đóa hoa
lấp lánh, lung linh. Dọn đường cho những bước chân chim.
Những con búp bê biết nói, lớn nhỏ và đủ màu, đang tung
tăng chân sáo bên cạnh cha mẹ trong giờ họp bạn. Người lớn
lăng xăng với mớ hành trang, cẩn thận khệ nệ xách những
chiếc áo đẹp đẽ chưa hề gấp nếp của con gái mình. Trong
khi bọn trẻ chào nhau, vui vẻ nhận ra là kẻ đồng hội đồng
thuyền. Rồi dễ dàng kết thân sau dăm ba câu trao đổi. Làm
anh Hữu bỗng dưng nhớ lại thuở nào, thời anh còn là một
đứa học trò trung học. Dạo đó sao anh có nhiều bạn quá. Bạn
học hành, bạn đờn ca, bạn cờ bạc, bạn chè chén, bạn bát
phố, bạn tán gái, bạn phá làng, bạn đi hoang... Giờ, bạn
bè anh đi đâu mất tiêu hết trơn. Lớp chết, lớp
bị thương. Lớp đứng đường, lớp còn tù tội. Ðất
nước Việt Nam đổi thay, thân gái cũng như thân trai, ai
cũng mười hai bến nước. Ðứa chạy vuột trước, đứa
vượt biên qua sau. Qua bên này thì phải chúi mũi vô công ăn
chuyện làm, có mấy khi gặp lại nhau. Ðể nói chuyện khào.
Ðời sao chán ngắt.
Anh Hữu bàn với vợ:
- Ðông quá. Không biết toàn tiểu bang của mình có bao nhiêu
trường trung học, đại học hả? Rồi mỗi trường đề cử
mấy học sinh đây? Tổng số thí sinh đi dự kỳ thi này chắc
dám lên đến bốn năm trăm đứa chớ chẳng phải chơi. Nói
có trời, có lẽ không có bà mẹ nào nghĩ khác và làm khác em
đâu. Bà nào cũng ôm cứng khư khư như không cách gì bỏ qua
cái cơ hội ngàn năm một thuở của con gái mình hết trơn.
Thiệt, chỉ tổ làm giàu cho mấy tay chuyên môn ăn cướp cạn
giữa ban ngày.
Vợ anh phản đối:
- Ối, anh sao nói kỳ. Rủi con mình được chấm đậu rồi
sao? Nói thiệt anh nghe nghen, lúc đó dẫu anh có bạc triệu
cầm sẵn trong tay đi nữa anh cũng chưa chắc mua được cái
danh dự cao quí đó cho con gái anh.
Anh Hữu đánh trống lãng:
- Ý anh không phải vậy. Anh chỉ sợ tụi nó đã chấm
trước ai sẽ là hoa hậu cho kỳ thi này rồi, em biết không?
- Anh đừng có nói ẩu. Người ta chấm năm bảy bộ môn
khác nhau chớ không phải một. Ngoài sắc đẹp là phần căn
bản, người ta còn căn cứ vào điểm hạng trong học bạ, hạnh
kiểm ở trường ốc, và tài năng thiên phú nữa chi. Con
mình học giỏi thì thế nào cũng có ảnh hưởng ít nhiều trong
đó chớ.
Anh Hữu gạt ngang:
- Thôi em ơi, ai mà không biết nếu muốn đóng kịch khéo
thì phải làm đủ trò.
Vợ anh Hữu gắt yêu:
- Nè, đừng có làm tài khôn nghen. Chỉ cần con Thủy Tiên
mà giựt được cái giải á hậu thôi là mẹ con em cũng đủ cho
anh ra rìa.
- Thì anh cũng chỉ mong như em vậy. Mà thôi, cho dù không
được như vậy đi nữa thì bù lại mình sẽ học được một
bài học khôn. Tuy hơi đắc...
Anh Hữu dẫn vợ con đi thăm trước một vòng những gian phòng
rộng lớn, những ball rooms dành riêng cho chương trình. Nơi
nào sẽ là chỗ tiếp tân, phòng phỏng vấn, khu tập dợt các
buổi trình diễn ca vũ nhạc, trình bày áo tắm thời trang,
v. v. Rồi về phòng, ngủ lấy sức cho ngày mai.
Khoảng 9 giờ hơn, sau khi vợ anh sửa soạn son phấn rất cẩn
thận cho Thủy Tiên, hai vợ chồng dắt con gái xuống phòng
tiếp tân. Trong khi làm thủ tục vô cửa, xác nhận một lần
nữa rằng mình có đến dự cuộc thi ngày hôm nay, anh Hữu
quan sát gian phòng với nỗi kinh ngạc. Mới ngày hôm qua trống
lổng trống trơn, mà bây giờ trong phút chốc, không biết bao
nhiêu gian hàng đã được dựng lên. Lại phải dạo qua một
vòng. Dưới sức đẩy của làn sóng người, vợ chồng anh
và đứa con gái từ từ tiến lần vào trong. Ðầu tiên là
gian hàng bán áo quần làm kỷ niệm. Kế đến là quầy bán
nữ trang giả như vương miện, cà rá, dây chuyền cũng để
làm kỷ niệm. Rồi một quầy khác tiếp theo bán các thứ linh
tinh như huy hiệu gắn trên ngực áo, huy chương thòng, cầu
vai, thắc lưng ba màu xanh trắng đỏ... lại để làm kỷ niệm.
Sao mà nhiều kỷ niệm thế. Nhìn chung, những thứ rẻ tiền
này chỉ khác với mấy món đồ đổ đống ở ngoài tiệm chạp
phô bởi mấy chữ "Hoa Hậu Học Trò" đóng trên đó. Vậy rồi
bày bán với giá cắt cổ mổ họng, mắc dàng trời. Nhưng
cũng chưa đến nỗi nào, vì khi bước đến gian hàng chụp hình
làm kỷ niệm anh Hữu mới tá hỏa. Giá một bộ hỗn hợp loại
rẻ nhứt đã tròm trèm hai trăm đô. Mà thử hỏi, có mấy ai
chịu chụp một "pô" đây chớ? Ðến gian hàng cuối cùng thì
lại càng đặc biệt hơn, xiết cái thòng lọng tròng vào cổ
khách hàng chặt hơn, vậy mà không một ai dám hở môi từ
chối hết. Ðó là đồng ý trả tiền và ký nhận mua trước
cuộn phim hình hay hay dở không cần biết, cuốn băng video
thâu toàn bộ cuộc thi hoa hậu kỳ này.
Không riêng gì vợ anh Hữu, tất cả những bà mẹ chừng như
cũng... chưa sáng mắt ra. Họ cứ đổ xô vào mua sắm. Trong
khi những đấng phu quân, ngoại trừ một vài người có tiền
thuê cả tắc-xí-đồ mặc vào người cho oai vệ, hầu hết
đều tỏ ra ngán ngẩm sự đời. Nhiều trự ngồi thừ người
một đống. Kể như đã muộn rồi. Nhưng vì thương vợ,
thương con mà phải tiếp tục chiều lòng vậy thôi. Biết là
không thể nói "đừng" với đàn bà con gái về những gì liên
hệ đến hoặc làm tăng thêm sắc đẹp. Từ nghìn xưa kia,
từ thời vua chúa Ai Cập cho đến các triều đại vương đế
Trung Hoa, có lẽ không có bà nào cô nào thoát khỏi cái định
luật truyền kiếp này.
Suốt ngày thứ bảy và buổi sáng ngày chủ nhật, "ban giám
khảo" giữ luôn đám "hoa khôi bất đắc dĩ" để... làm
việc. Trong phòng kín. Không cho cha mẹ đi theo. Trừ những
giờ giấc ấn định cho buổi trình diễn ở phút cuối. Biết
là họ chẳng dám làm điều gì xằng bậy, họ chỉ giữ bí mật
thôi, nên các đấng phụ huynh cũng an tâm. Bí mật? Phải,
bí mật nhà nghề! Nghề nào cũng lắm công phu, cho nên đều
có những bí mật riêng cần phải giữ. Tổ dạy vậy. Vì
nếu không giữ thiệt kỹ thì không chóng thì chầy, sớm muộn
gì cũng có một "hãng chế tạo hoa hậu" khác nhảy ra cạnh
tranh. Xứ tự do dân chủ mà. Ai muốn làm giàu thì bỏ tiền,
bỏ vốn ra kinh doanh. Ngay cả trên sắc đẹp của phụ nữ lại
càng hay. Ngay cả trên lòng tin của mọi người thì càng giỏi.
Không có gì gọi là xa xỉ, phù phiếm hết. Cũng không có gì
gọi là vô nhân đạo hết. Khi người ta nói đến chuyện đếm
tiền bỏ hầu bao.
Nhưng vợ anh Hữu thì khác, chị không giữ kín được nỗi
sung sướng, vinh hạnh riêng tư của mình khi có đứa con gái
đi dự thi hoa hậu. Trong những buổi đi ăn trưa, ăn chiều
ở các hàng quán Việt Nam chị hay khoe với mấy bà chủ tiệm:
- Chị biết hôn, tụi này không phải ở đây, mà là ở xa
mới đến. Nói thiệt chị nghe, tụi em đang đưa con nhỏ con
gái đi dự thi hoa hậu học trò của tiểu bang nhà, đang tổ
chức ở thành phố này nè. Chớ chị ở ngay đây mà chị không
biết gì hết sao?
- Ðâu có nghe ai thông báo, thông biếc gì đâu. Với lại
tụi này tối ngày lo làm ăn đầu tắt mặt tối anh chị ơi,
không có một chút thì giờ rảnh rỗi để mà theo dõi tin
tức, thời cuộc chi hết. Nói thiệt khổ, nếu rủi mà có
ăn cướp đánh phá nhà băng kế bên tiệm đây, ngay bây giờ
chắc tui cũng không hay. Rồi sao, cháu nó có giựt giải
giựt giếc gì với người ta chưa?
- Dạ, cháu được vô
top five
cho ba bộ môn trong số sáu
bộ môn dự thi, chị. Ðể coi, học vấn nè, thời trang áo
tắm nè, và nghệ thuật ăn nói. Còn bộ môn thứ bảy là thi
chụp hình ăn ảnh, thì con em không có dự. Em chỉ mong trong ba
bộ môn được chấm vô chung kết đó nó giựt được một
cái là em mừng. Chớ còn giải hoa hậu toàn bộ coi bộ khó
quá chị ơi. Con mình cũng đâu có đẹp đẽ gì hơn ai, nếu
đem so với tụi Mỹ.
- Mà làm sao chị đem con chị vô thi được hay vậy? Ðâu bà
bày cho tui nghe coi!
- Thì tụi này cũng đâu có làm cái mốc xì gì đâu, chị.
Toàn là cô giáo, thầy giáo ở trong trường nó sắp đặt
hết trơn. Rồi họ tự động gửi giấy tờ về nhà mình.
- Dễ như vậy sao? Chị thiệt không có gửi gấm nó cho
ông nào, bà nào hết hả?
- Thiệt mà. Chuyện hên thiệt là hên, tỉ như mưa trên
trời rơi xuống đất vậy chị à.
Anh Hữu định nói với bà chủ tiệm rằng: "Ở đó mà hên,
xui cùng mình tận mạng thì có. Ðừng có nghe lời vợ tôi
mà bị mắc móp bà chị ơi!" Nhưng anh biết, có nói cho mấy
bả cũng không tin nếu con gái bả được lọt vô sổ... phong
thần. Anh cứ cười thầm trong bụng. Ðàn bà sao mà hay
nhẹ dạ. Cứ hay thả bóng bắt hình với sắc đẹp của chính
mình và ngay cả của con gái mình nữa. Chẳng lẽ mấy bà mấy
cô không tự biết mình xấu hay đẹp đến mức độ nào hay
sao? Hình như đối với mấy bà, chuyện "em là cô gái trời
bắt xấu" là chuyện không có thực, ba xạo?
Chương trình chính thức cho buổi trình diễn hoa hậu, có đài
ti-vi địa phương trực tiếp phát hình, bắt đầu từ 8 giờ
tối. Quan khách gồm hầu hết là phụ huynh học sinh và một
số ít khán thính giả mua vé vào cửa tại thành phố. Sân
khấu được trình bày rất mỹ thuật, huy hoàng, và rực rỡ
không thua gì những nơi dùng làm chỗ tranh tài cho các giải
hoa hậu chuyên nghiệp,
professional
.
Mở màn là một điệu ca vũ hỗn hợp do sự đóng góp của tất
cả các sinh viên và học sinh trung học. Ðược chia làm hai
nhóm. Nhóm xanh vì mặc sơ mi trắng với jupe xanh. Và nhóm
đỏ với sơ mi trắng, jupe đỏ. Có những đoạn ca sô-lô. Có
những đoạn vừa đồng ca lại vừa sát cánh nhau đồng loạt
biểu diễn những màn đá chân, co đầu gối. Quay sang hướng
này quật sang hướng kia. Giống giống như những màn nhảy
opera
thời xưa, hay được trình diễn ở thành phố New
York. Rất là nhịp nhàng, đồng bộ, ăn khớp. Phải công
nhận những người đã bỏ công ra huấn luyện, tập dợt,
và điều khiển màn vũ một cách chớp nhoáng này là những kẻ
có tài, giàu kinh nghiệm. Ðâu phải chuyện tập hợp khơi khơi
một hai trăm nữ sinh đủ mọi thành phần, khác biệt nhau từ
cá tính riêng biệt đến tập quán địa phương, rồi biến
tất cả thành những vũ công trong một sớm một chiều là
chuyện dễ. Bởi vậy mới có vấn đề giữ bí mật nhà
nghề. Nhớ hồi nào tập dợt một màn trình diễn văn
nghệ Tết ở học đường thì đủ biết. Bao nhiêu ngày liên
tiếp cho một vũ điệu đồng quê? Với năm bảy nữ sinh
thôi chớ đừng nói cả chục, hàng trăm!
Tiếp theo đó là màn trình diện những hoa hậu tí hon cho
bậc trung học đệ nhất cấp, tiểu học, và mẫu giáo. Chỉ
những bé tí giựt giải đầu cho từng bộ môn, đã được
chấm sẵn trước hồi nào không biết, mới được phép
đăng đàn. Vương miện mua sẵn gắn sẵn lúc nào cũng nằm
gọn trên mái tóc. Nhận thêm một cái cúp có tượng đồng
oscar giả hiệu làm bằng plastic. Thế thôi. Vậy mà như tất
cả vinh hạnh, hân hoan đã chất chứa ngất trời trong đó.
Rồi đến á hậu, hoa hậu. Cũng vậy. Tuy cái cúp có phần
cao lớn hơn một chút. Ảnh hưởng đến những tràng pháo
tay, như được kéo dài lâu hơn một chút.
Kế đến, bắt đầu hấp dẫn hơn, những
top five
của
từng bộ môn của học trò lớn được kêu lên trình làng. Vì
là sinh viên và học sinh trung học lẫn lộn, nên sự cách biệt
về vóc dáng giữa những đứa học trò lớp 9 và những cô
sinh viên năm thứ nhì, thứ ba rất là rõ ràng. Nhiều đứa
trông như mới vừa dứt sữa, còn nhiều đứa lại giống như
gái hai ba con. Chẳng biết mấy con mắt của các vị trong "ban
giám khảo" phải chấm điểm ra sao? Chiếm giải nhứt và giải
nhì thì mới được tặng cúp. Hàng thứ ba trở lui thì chỉ
biết lủi thủi bước vào trong. Nhiều đứa buồn xo, rưng
rưng nước mắt.
Xen kẽ với những lần phát cúp cho từng bộ môn là những màn
trình diễn tài năng thiên phú. Những xuất sắc cá nhân. Nào
là đơn ca. Nào là độc vũ. Nào là ảo thuật. Nào là biểu
diễn dương cầm... Tất cả đều được chấm dứt bằng
những tràng pháo tay vang dội.
Sau ba lần đăng đàn cho ba bộ môn được vô chung kết,
top
five
, bé Thủy Tiên, con gái anh chị Hữu chỉ giựt được
một cái cúp hạng nhì. Vợ anh Hữu quay sang chồng, bĩu môi:
- Xí, tụi nó tính điểm ăn gian. Ðể cho con nhỏ Mỹ đen
thắng giải hạng nhứt thời trang áo tắm là không công bằng.
Anh Hữu ôn tồn phụ họa:
- Ừa, anh cũng thấy như vậy. Nhưng, nếu nói đúng hơn
thì vóc dáng của ba đứa Mỹ trắng kia xét ra cũng đâu thua gì
con mình chớ. Chính ba đứa đó và cha mẹ của tụi nó mới là
những người đáng thương hơn...
Thấy vợ anh tỏ vẻ không bằng lòng với lời giải bày đó,
anh chuyển sang đề tài khác:
- Chắc sắp đến phần trình diễn áo dạ tiệc. Thôi em
hãy ngồi tạm ở đây một mình nghen, đã đến giờ anh phải
chạy ra phía sau hậu trường với con. Nè, em giữ máy chụp
hình này cho anh, lúc nào thấy cha con anh bước lên sân khấu
thì em cứ nhắm chừng bấm tới tấp vậy. Thế nào trong
mười tấm cũng sẽ có một vài tấm coi được.
- Nhớ dặn con Thủy Tiên lúc đi ra sân khấu phải để ý coi
chừng mũi giày. Ðá nhẹ một cái trước khi bước, đừng có
vừa đi vừa đạp lên áo mà té bất tử đó.
- Ừa. Anh biết rồi.
Anh Hữu lần qua kẽ giữa của hai hàng ghế, lẻn ra ngoài bằng
cánh cửa lớn bên hông phòng ball room. Ði men theo hành lang
dài đến cuối dãy, rồi quẹo sang trái mới lọt vào hậu
trường. Một phòng khác rộng lớn như sân chơi bóng rỗ.
Anh thấy hầu hết thí sinh dự tuyển đều đã sùng sình trong
những chiếc áo dạ tiệc và đứng vào vị trí của mình, xếp
thành hai hàng dài hai bên vách tường. Bên cạnh những người
đàn ông đứng tuổi, nếu không là cha thì chắc chắn phải
là người giám hộ. Số người mặc tắc-xí-đồ trông sang
trọng như những bồi bàn của... Tây bỗng nhiên tăng lên rất
đông, có thể nói ngang ngửa với số người mặc vét-tông.
Xen vào đám đông, anh Hữu đi tìm con anh. Ðể dễ dàng hơn,
anh dò theo bảng số thứ tự đeo bên hông của các thí sinh thì
biết mình sẽ phải đi tới hay tháo lui. Nhưng đến chỗ phải
dừng chân thì con số bỗng nhiên bị đứt khoảng, nhảy vọt.
Thì ra con anh và cô bạn gái đứng kế bên vừa mới rời sân
khấu, nên đã chưa kịp thay bộ đồ xanh trắng đỏ. Ðợi
một hồi lâu, anh mới thấy con anh trong phòng sửa soạn, son
phấn bước ra. Duyên dáng, rực rỡ trong cái áo dài dạ tiệc
bằng sa-teng trắng, không khác gì một cô dâu trong cái áo
cưới đắc tiền ở các xứ Tây phương. Và anh là người
cha sắp sửa gả,
give away
, con gái mình. Anh chạy lại
với Thủy Tiên, hỏi:
- Có vui không con?
- Vui lắm ba!
- Còn cô bạn của con đâu?
- Susan cũng sẽ tới ngay bây giờ, ba. Ba biết hôn, con
nhỏ đó giàu lắm. Ba của nó là chủ hãng bán xe Ford ở thành
phố này đó. Nó nói năm rồi nó cũng có đi dự thi như vầy
và chiếm được giải á hậu.
- Thiệt có chuyện như vậy à?
Anh Hữu định bụng sẽ chào hỏi ông chủ hãng xe Ford, ba của
Susan. Bề gì Susan cũng là bạn thân nhất của Thủy Tiên trong
đám bạn mới này. Nhưng tới chừng giáp mặt, anh cảm thấy
ông tướng xe hơi to con, bụng phệ coi bộ không coi thiên
hạ vào đâu hết, nên thôi. Mà có làm chủ mười hãng xe
hay là triệu phú gì gì đi nữa thì bây giờ vẫn phải xếp
hàng chờ kêu tên dài dài như mọi người khác... Ðộ nửa
giờ sau, anh Hữu nghe tiếng người xướng ngôn viên trên máy
phóng thanh:
- Thí sinh kế tiếp là cô Thủy Tiên Nguyễn, dưới sự dìu
dắt của cha cô là ông Hữu Nguyễn. Cô cao 5 bộ 5 inches,
nặng 110 cân, có biệt tài về... Mộng ước của cô là sẽ
trở thành...
Anh Hữu trang trọng xếp bàn tay đặt vòng lên bụng mình cho
con gái vin vào. Cả hai bước ra sân khấu dưới ánh đèn huy
hoàng màu sắc. Trong những tràng pháo tay vang dội. Cùng
những ánh chớp không ngừng của các máy chụp hình, trong số
có một cái đặc biệt hơn từ phía vợ anh. Thật ra trong
giây phút đó, khác với những người Mỹ, anh Hữu chẳng
thấy gì làm vinh hạnh, vui sướng hết. Anh chỉ cảm thấy nó
giả tạo, vô lý làm sao? Ðang làm ăn ngon lành bỗng nhiên
lại bị người ta bắt phải bỏ tiền ra, để mua một cái cơ
hội chường mặt lên ánh đèn màu cho bàng quang chiêm ngưỡng,
chấm điểm! Nhưng dù có thích hay không thích, vở tuồng
của anh chỉ được đóng đến đó là chấm dứt. Anh bước
xuống những bậc tam cấp, rời khỏi sân khấu, và đi lại
dãy ghế ngồi kế bên vợ anh như cũ. Trong khi Thủy Tiên
quay trở vào trong hậu trường để chuẩn bị màn trình diễn
tập thể một lần cuối. Anh hỏi vợ:
- Sao, em thấy cha con anh đi đứng có đường hoàng,
bệ vệ như người ta không?
- Ai thèm để ý đến anh mà ở đó đường hoàng, bệ vệ.
Người ta chỉ nhắm vào con Thủy Tiên xem tướng đi, tướng
đứng của nó có yêu kiều diễm lệ hay không thôi. Em thấy
nó ăn đèn dữ lắm, trông nó mỹ miều sắc sảo hơn nhiều
đứa khác. Nhưng tiếc một điểm là nụ cười của nó không
được tự nhiên.
- Coi vậy chớ đâu phải dễ đóng kịch em. Không có chuyện
gì bắt tức cười hết mà biểu nó nhe cái răng khễnh ra hoài
cũng khó. Em mà bước lên đó chưa chắc em đã làm được
như nó.
Anh Hữu nghe một tiếng "hứ" nhỏ bên tai...
Lớp trình diễn cá nhân coi như đã xong. Bây giờ tất cả
các thí sinh đã được điều động tập hợp trở lại tại
sân khấu. Không còn xanh, đỏ nữa nhưng cũng xếp thành hai
nhóm riêng rẽ hai bên. Ðứng trên các bậc tam cấp dài làm
bằng gỗ, như những băng dài trong sân đá banh. Nhưng, giờ
phút hồi hộp đã đến. Theo tiếng gọi của xướng ngôn viên,
từ trong bầy thiên nga... ngỗn ngang trăm mối tơ vò trong
bụng đó, hai mươi thí sinh thực sự được chấm vào chung
kết sẽ lần lượt bước ra. Kêu đến đứa thứ mười lăm
rồi mà không có tên con mình, vợ anh Hữu thấy tay chưn mình
bắt đầu lạnh ngắt. Chị tìm lấy tay chồng, nắm chặt cho
bớt phần hồi hộp. Nhạc vẫn trổi đều đặn và tên gọi
cũng tuần tự vang lên trên hệ thống âm thanh. Chị cảm thấy
bực bội với "ban giám khảo." Rõ tụi này đàng điếm, gian
lận. Nhưng, đến đứa thứ mười chín, thì chị không còn
kềm giữ được nữa. Chị cảm thấy nhẹ nhỏm cả người,
quay qua ôm choàng lấy chồng chị, mừng vui:
- Hay hôn, em nói với anh là thế nào con Thủy Tiên của mình
cũng được vô chung kết. Quả không sai.
Anh Hữu định hỏi: "Em nói với anh hồi nào?" Nhưng thôi.
Sợ vô tình cắt đứt niềm vui của vợ. Anh phụ họa bằng
một cái xiết nhẹ vòng ôm. Hơn một trăm thí sinh không
được chọn, giờ phải buồn tủi chuồng lẹ vô phía sau hậu
trường. Tội nghiệp quá, anh Hữu thấy nhiều cô ôm mặt
khóc ngon ơ. Làm anh xốn xang nghĩ tới thân phận sắp tới
của con mình. Còn một cửa ải nữa để bước qua. Vì khác
với những cuộc thi hoa hậu chuyên nghiệp, thường phải qua
đợt 12 rồi 5, đằng này để rút gọn chương trình, xướng
ngôn viên cho biết á hậu và hoa hậu sẽ được chọn thẳng từ
hai mươi thí sinh vừa mới được vào chung kết.
Tiếp theo đó là phần giới thiệu cựu hoa hậu. Với đầy
đủ tiểu sử và quá trình hoạt động cho... "công ty chế tạo
hoa hậu." Cựu hoa hậu đương nhiên sẽ là người có cái hân
hạnh đứng ra cài cái vương miện hoa hậu cho tân hoa hậu. Cô
dạo bước một vòng, dơ tay vẫy vẫy như những minh tinh màn
bạc, rồi trở về ngồi trên chiếc ngai vàng của mình,
được đặt ngay giữa và ở trên tầng cao nhất của những
bậc tam cấp.
Những điệu trống thúc giục liên hồi của khúc nhạc đệm đã
làm mọi người đang hồi hộp càng hồi hộp thêm. Vì phải
thấp thỏm chờ đợi cái giây phút tuyên bố ai là á hậu và ai
là hoa hậu. Trong số hai mươi thí sinh đang đứng thành một
hàng ngang kia, cô nào cũng có thể là á hậu hoặc hoa hậu
hết. Nhưng, tiếp theo đó, từng cô một không theo thứ
tự đứng trong hàng mà theo vần abc, một lần nữa được kêu
tên. Một lần nữa được bước nhích tới đứng riêng rẽ
một mình trước hàng hoa khôi đồng hạng. Một lần nữa
được bàng dân thiên hạ ngắm nhìn, vỗ tay hoan hô rầm rộ.
Và một lần nữa được "ban giám khảo" chấm điểm. Rồi,
những gì mọi người chờ đợi đột nhiên đến: Mary Ann
Smith, á hậu... Và Susan Ford Nicolas, hoa hậu...
Tuy có tiếng xì xào, khen chê trong đám đông, nhưng có lẽ
không mấy ai lấy làm ngạc nhiên về cái kết quả vừa tuyên
bố đó. Chức á hậu được trao cho một cô Mỹ đen có mái
tóc kéo dài ra và nước da hơi mởn mởn. Còn chức hoa hậu
trao cho cô Mỹ trắng tóc vàng đứng kế bên Thủy Tiên, tức
Susan, con gái của ông chủ hãng xe Ford. Vương miện hoa hậu
được cài lên và những giọt nước mắt mừng vui rưng rưng
nhỏ xuống. Tiểu sử và quá trình hoạt động cho... "công
ty sản xuất hoa hậu" được đề cao. Anh Hữu để ý nghe rõ
từng tiếng một, rồi quay sang an ủi vợ:
- Em có nghe người xướng ngôn viên nói gì không? Con nhỏ
được giải hoa hậu là đứa chiếm giải á hậu của năm
rồi! Cộng thêm năm ngàn đô-la tiền bảo trợ. Còn con
nhỏ giựt giải á hậu là đứa được nhiều hãng xưởng
bảo trợ nhứt trong năm nay. Tiền bảo trợ của nó dâng cho
"hãng thầu hoa hậu" đã lên đến tám ngàn đô-la lận. Mình
chỉ đóng cho con mình có ba trăm đồng lệ phí mà được vào
chung kết, có lãnh cái cúp chung kết, là quá đủ rồi. Ðòi
hỏi gì nữa.
- Thì em cũng biết như vậy.
Vợ chồng anh Hữu rời hàng ghế bước tới đón con và đưa
ngay lên phòng trọ. Thủy Tiên không có ý gì buồn và còn bảo:
"Hai đứa tụi nó rất xứng đáng!" Chờ cho Thủy Tiên thay
chiếc áo dạ tiệc, mặc lại bộ đồ jean thường ngày cho
thoải mái, anh chị Hữu lật đật thu dọn hành trang xuống
lobby, làm thủ tục trả phòng và về ngay trong đêm. Mười
một giờ hơn, theo đồng hồ chỉ trên tường.
Suốt đoạn đường về, trong khi vợ và con gái anh ngủ gà ngủ
gật, anh Hữu cứ bâng khuâng suy nghĩ hoài. Thì ra chuyện "thi
hoa hậu" chẳng qua chỉ là chuyện làm ăn hợp pháp trong một
"ngành kỹ nghệ thương mại" ở các nước tân tiến mà thôi.
Nếu anh có gan, dám nhảy ra làm một hãng "chế tạo hoa hậu"
riêng cho dân tị nạn mình thì anh cũng có thể hốt bạc như ai.
Hằng năm, anh chỉ cần kéo cái "đám xiệc" của mình đi trình
diễn vòng vòng ở các cộng đồng tị nạn, như những ban nhạc
sống, là đủ làm giàu rồi.
Xa hơn một bước nữa, anh có thể trở về Việt Nam. Ði
dạo từng tỉnh một từ mũi Cà Mau ra đến ải Nam Quan. Trong
một năm, hễ có bao nhiêu tỉnh là có bấy nhiêu hoa hậu. Rồi
hoa hậu ba miền Huế, Sài Gòn, Hà Nội. Và cả đến hoa hậu
toàn quốc nữa chi. Cũng là một hình thức giúp nước, phát
triển kinh tế vậy?
Nhưng anh bỗng giựt mình, không được đâu! Ðảng và nhà
nước ta xưa nay thường hay tráo trở, lật lọng. Mang tiền
về Việt Nam kinh doanh kiểu này thì trước sau gì cũng mất cả
chì lẫn chài. Cứ tưởng tượng đương làm ăn ngon lành mà
đảng và nhà nước ta cứ mắt nhắm mắt mở đi theo đường
lối của Mác-Lê, quốc hữu hóa "hãng chế tạo hoa hậu" của
anh thì còn gì cơ nghiệp? Hoặc giả đảng và nhà nước ta
không thèm quốc hữu hóa đi nữa mà, điêu ngoa hơn, bắt anh
vô "hợp tác xã chế tạo hoa hậu" thì hậu quả biết sao
lường? Có phải đảng và nhà nước ta xưa nay không khác gì
con cọp chỉ biết ăn thịt sống. Và nếu không có những miếng
thịt sống "hợp tác xã" đó thì làm sao cọp ta có thể gầm
lên những cơn "tham nhũng" cho nổi đây chớ. Chừng đó thay
vì năm trăm hay một ngàn đô, đảng và nhà nước ta ra lịnh
cho anh phải vơ vét cho được năm chục hay một trăm cây thì chỉ
có nước... phải bỏ nước ra đi lần nữa. Thôi, hễ con
cọp cộng sản còn đó thì anh cũng chẳng dại gì về nước
vuốt râu hùm!
Nhưng, câu chuyện hoa hậu xứ dương đào đến đây nào đã
hết đâu. Vì độ một tuần sau, chiều ngày ấy đi làm
về, anh Hữu vừa mới lót tót bước vô nhà thì vợ anh khoe:
- Anh coi nè, khi không mà nó gửi thư tiếp cho con Thủy Tiên
và yêu cầu con mình giới thiệu cho "công ty bọn nó" một đứa
khác, để đi dự thi trong năm tới. Thiệt tình...
Vậy thì rõ ràng làm gì có vụ cô giáo, thầy giáo giới
thiệu? Anh Hữu lại sợ vợ anh cầm lòng không đậu, dám
bắt chước vợ ông chủ hãng xe Ford ở Charlotte, xúi chồng
dẫn con gái đi thi một lần nữa, cho nên anh lắp bắp đề
nghị:
- Nè, chắc ăn hơn hết là em cứ tìm mấy bà Việt Nam quanh
quẩn đâu đây. Em coi có con mẹ nào mà em ghét nhứt đó, rồi
hãy điền tên con của con mẻ vào tấm giấy này.
Vậy mà vợ anh vẫn chưa đồng ý:
- Hừ, phải lựa người nào mình thương thì mình mới
giới thiệu cho chớ.
Anh Hữu chịu thua luôn. Rõ hoa hậu với đàn bà...
back to top
08. ÐƯỜNG LÊN DỐC NÚI
NGUYỄN TẤN HƯNG
Thường, con người ta hay đứng núi này trông núi nọ. Thân
tâm phàm tục mà cứ... hễ được voi thì lại đòi tiên. Túi
tham không đáy. Lòng ham muốn như chẳng bao giờ vơi. Nhớ
hồi nào tay lấm chân bùn đầu tắt mặt tối, làm hùn hục
như trâu như chó, thì cái ước mơ duy nhất có lẽ là: sẽ
có một ngày nào đó... học hành thi đỗ ra làm quan. Áo gấm
về làng. Một người làm quan cả họ được nhờ mà. Và
lẽ dĩ nhiên, không phải là làm quan dưới thời Cộng hòa. Vì
làm quan dưới thời Cộng hòa là kể như nghèo khạc ra tro,
nghèo ho ra máu. Nếu không biết tìm đi cổng hậu, xin vào
những chỗ có nhẫm xà, có đồng vô đồng ra.
Sang bên Mỹ này cũng vậy. Ai ai cũng có một thuở ban đầu
gian truân khổ ải, tróc vảy trầy vi, cố đem hết sức lao
động của mình ra để đổi lấy bát cơm. Một số ít may
mắn hơn, đem đổi lấy nhà lầu xe hơi. Nhưng cái ước mơ
duy nhất thì hình như cũng chẳng có mấy gì thay đổi. Rằng
có một ngày nào đó... học hành thi đỗ ra làm kỹ sư. Rạng
mặt rỡ mày với thiên hạ. Nhưng kỹ sư bên này lại khác với
làm quan ta hồi xưa ở một điểm, là cả họ chẳng thấy ai
mảy may được nhờ. Họa hoằn lắm thì cũng chỉ được có
mỗi một cái là tấm thân mình nhàn hạ. Hàng ngày thắt
cà-ra-hoách nhảy vô văn phòng, ngồi bàn viết, vắt chân tréo
nguẩy, chổng đảnh với người ta.
Ðó là trường hợp của Trách. Cái tên, Trách, mới nghe qua
lần đầu mười người như một, ai ai cũng mường tượng như
có cái gì đó thật là kỳ khu, quái đản ở nơi con người
chàng. Như hầu hết bạn bè của chàng đều đã tiết lộ như
vậy. Nhưng, trong thâm tâm, chàng chẳng bao giờ dám trách
phiền cha mẹ đã đặt cho mình cái tên không mấy thanh tao nhã
nhặn đó. Mà trái lại, chàng còn phải mang ơn sâu nghĩa nặng
nữa là đằng khác. Tại vì chàng thuộc dòng Thân Trọng, một
dòng dõi danh tiếng của miền cố đô Huế. Họ Thân (Trọng)
không dân (toàn làm quan), họ Hà (Thúc) không nhà (toàn ở nhà
chính phủ). Sang cả lắm. Chẳng khác gì những người cung
nữ luôn ở công thự, ngự công xa, xài công quỹ và, hiển
nhiên, làm đĩ công khai. Thành thử đôi khi cũng tiếng tăm
lắm lắm. Riêng phần Trách, nội cái tên Thân Trọng Trách
của chàng không thôi, cũng phải nói rất là văn hoa chữ
nghĩa. So với các Tôn Thất, Tôn Nữ thì cũng rất "mệ,"
rất "mụ" đó chớ!
Khác với bàng quan thiên hạ vốn là khách tục trần vẫn hay
mắc cái nghiệp được voi thì lại đòi tiên, bản thân Trách,
là người coi như đã được voi, chỉ thèm đòi trâu ngựa.
Vì chàng thấy sau một thời gian dài làm việc ở văn phòng,
với bút mực giấy tờ chồng chất, với máy
computer
vô
hồn thiếu hẳn tình người, với cô thơ ký có cặp đùi
trắng muốt, với bốn bức tường kín mít lặng thinh... chàng
thấy người mình như nhũn ra, yếu xìu. Mấy con chuột hồi
nào nằm sắp lớp trên cánh tay, trên ngực, bụng, bắp đùi,
bắp chuối đã từ từ lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà bò đi
đâu mất hết. Và người chàng càng lúc càng nặng cân ra,
không chóng thì chầy, có ngày chàng sẽ trở thành chú Hỏa.
Rồi chàng cũng sẽ chết vì bệnh đứt gân máu trong nay mai.
Chàng rất thèm mỗi ngày được nhảy ra góc đường đứng vá
xe, hay trèo lên xích lô đạp đạp vòng quanh thành phố, hoặc
còng lưng kéo xe ba gác khắp các vỉa hè... Nghĩa là làm cái
gì cũng được, miễn sao vận dụng chân tay cho máu chảy về
tim, cho hệ thống tuần hoàn lưu thông không trở ngại. Vì
nếu không làm được như vậy thì chàng sẽ chết bất đắc
kỳ tử. Như bác sĩ đã tiên liệu! Bằng những kiến thức
vay mượn từ đời này sang đời khác! Chưa hẳn đã là chân
lý, nhưng chàng phải nghe theo! Khổ thay, ở bên này không có
chỗ vá xe, cũng không có xe xích lô hay xe ba gác cho chàng. Cho
nên Trách đành phải áp dụng một phương thức khác, tuy không
hấp dẫn mấy vì chẳng hề sinh lợi cho chàng đến một xu,
là phải chạy bộ theo kiểu Mỹ,
jogging
. Mỗi ngày, phải
có tối thiểu nửa tiếng, hay một dặm rưỡi đoạn trường
với cái vận tốc rùa bò của tấm thân đã bắt đầu bệ vệ,
rung rinh.
Tuy nhiên, cái mập ú như heo kia không mấy sợ mà chỉ sợ có
mỗi cái lên tăng-xông máu. Cả cuộc đời chàng, hơn hai
mươi năm sống ở Việt Nam, Trách có bao giờ biết đo máu
một lần là gì. Và những năm đầu ở bên này cũng vậy,
chàng không có thì giờ để ý đến mấy chuyện lẩm cẩm
đó. Tuổi chàng đang độ thanh xuân, lại độc thân, vui
tính, làm tình mạnh thì làm gì có chuyện lên máu. Cho đến
một ngày thật hết sức tình cờ, chàng khám phá ra, không
phải mình mà là người bạn Mỹ làm kế bên, sắp sửa chết
đến nơi...
Trách hỏi cô thơ ký:
- Ê, Diane này, nảy giờ mầy có thấy thằng Jim ở đâu
không, sao tao tìm nó khắp nơi mà không gặp?
Cô thơ ký vừa cười vừa trả lời:
- Ủa, chớ bộ mầy chẳng hay gì sao? Nó đã hết hơi,
ngất xỉu khi lết tới phòng y tế và người ta đã chở nó
vô nhà thương cứu cấp rồi. Nghe nói áp huyết của nó lên
đến 155/115 gì lận.
- Thiệt vậy à! Tao mới thấy nó mặt mày tươi rói,
cười cười nói nói với bạn bè buổi trưa này, sao lại có
chuyện như vậy được hả?
Cô thơ ký lẳng lơ:
- Hừm, nó chỉ được cái mã bề ngoài, bên trong nát
bét. Mày cũng vậy thôi, Trách ơi! Hãy đi đo thử áp
huyết của mầy đi, rồi biết!
Trách cười vang:
- Tao? Một tấm thân không bao giờ biết mệt là gì mà
mầy bảo tao đi đo máu? Mầy cứ hay giỡn chơi với tao hoài!
Nói cho ngay, mấy tháng gần đây, không hiểu người ta đã
căn cứ vào đâu mà cứ ùn ùn nhau đua đòi, nào là bỏ hút,
bỏ ăn... mỡ dầu và muối mặn, rồi thậm chí, bỏ ruột
ăn vỏ cho có nhiều chất sợi,
fiber
. Làm như con người
vừa mới khám phá ra một cánh cửa nữa cho cõi huyền vi,
nhằm gấp rút đưa nhân loại vào chốn thiên đường! Nơi
có cảnh trí phù hợp với thân tâm an lạc! Vậy chớ hồi nào
đàn bà đẻ ở Việt Nam vẫn ăn nhiều muối nhiều tiêu cho
mặn mòi, săn da chắc thịt thì đã có sao? Tôm rang quéo,
thịt kho khô đầy muối phải chấm vào nước mắm cho tan bớt
chất mặn thì phải biết! Làm gì đến nỗi ăn không dám
ăn. Phải lựa những món ít
calorie
. Làm gì đến nỗi
uống chẳng dám uống. Phải chọn những thức
diet
và
không có chất cà phê. Vậy, tốt hơn hết, sao không ăn
chay trường luôn đi. Vì ngoài muối tiêu, dầu mỡ,
cholesterol
, thiếu cha gì những chất hóa học còn độc
hơn hơi ngạt đã tồn đọng trong thịt cá, trong sữa, trong
nước, và luôn cả trong rau cải. Làm như càng văn minh tân
tiến là con người càng đi lần vào con đường diệt chủng,
Trách nghĩ. Ðể lập lại thời bán khai, ăn lông ở lỗ.
Như thể đang quay dần về khởi điểm cho một chu kỳ.
Nhưng trời cao quả là có con mắt, thiên bất dung gian, chắc
bởi kiếp trước Trách khéo tu cho nên giờ này bỗng dưng có
một ma lực nào đó đã nắm tay lôi Trách về phòng y tế của
hãng. Và Trách thành thật yêu cầu người y tá:
- Ðâu cô làm ơn đo giùm áp huyết của tôi coi.
Không cần ngẩng đầu lên, như một cái máy, người y tá
trả lời:
- Xin ông điền số an sinh xã hội vào tờ giấy này và
ngồi vào ghế đằng kia.
Trách làm theo lời dặn. Ngay sau đó, người đàn bà nhỏm
dậy đi vào phòng chẩn bệnh "làm việc" với chàng. Cô ta
vạch khuỷu tay Trách, tìm mạch máu lớn nhất để đặt miếng
nghe có dáng giống như đồng tiền tròn, rồi đo tới đo lui
mấy bận. Có lẽ không hài lòng mấy với cái lỗ tai hình
như đang biến chứng của mình, cô lắc đầu, bán tín bán
nghi. Rồi đo lại một lần chót. Sau một hồi đắn đo cân
nhắc, cô cho biết:
- Tôi không hiểu tại làm sao mà ông vẫn còn sống (
still
alive
) và còn trôi nổi vòng quanh (
and floated around
) với
cái đầu trống không của ông (
with your air head
)? Tôi chưa
từng thấy ai có áp huyết cao như ông, đến những 164/133 lận!
Cái gì? 164/133? Rõ kiến thức vay mượn của con người,
để hiểu biết về con người, bao giờ cũng chỉ trong giới
hạn! Trách kết luận như vậy! Trách không lấy gì làm
sợ hãi, vì chàng đâu có hiểu thế nào là những tiêu chuẩn,
những con số mà con người đã đặt ra đâu. Chàng chỉ