Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Ðiểm sách Một Nỗi Buồn Riêng
Võ Kỳ Ðiền
Con Người Và Bút Pháp
của Nguyễn Tấn Hưng
qua "MỘT NỖI BUỒN RIÊNG"*
Chiều nay tôi lại được cái vinh hạnh lấn chiếm đài
phát thanh, nói theo kiểu Kiệt Tấn, để giới thiệu nhà văn
kiêm chủ nhân nhà xuất bản
Miệt Vườn
Nguyễn Tấn Hưng
với quyển
Một Nỗi Buồn Riêng
mới ra lò còn thơm phức
mùi giấy mực.
Tôi quen biết với Nguyễn Tấn Hưng qua thơ từ trao đổi cho
nhau từ năm 1988, khi anh hoàn thành tập truyện đầu tay
Một
Ðời Ðể Học
và gởi tặng. Tôi đọc xong và biết rằng
Hưng sẽ là một cây viết có hạng, không những vì nghệ
thuật viết lách, vì lối văn trôi chảy mà điểm nổi bật
ở tác giả là cái sức sống phi thường, cái nghị lực phi
thường hiếm hoi ở một nhà văn mới bắt đầu sáng tác.
Cái ưu điểm nầy vẫn được thể hiện đều đặn ở các
tác phẩm sau. Khi anh nhờ tôi viết bạt cho cuốn
Một Cảnh
Hai Quê
(1989) tôi cũng hứa liều, nhưng trong bụng tin rằng
anh không thế nào thực hiện nổi. Làm sao trong một năm
mà viết được ba bốn cuốn liên tiếp.
Một Ðời Ðể
Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Chuyến Ra Khơi
... Tôi vốn
làm biếng lắm và không có thì giờ nhiều. Nhè đâu mới
vừa hứa xong thì bản thảo được gởi ngay đến nằm chình
ình trên bàn viết với bức thơ nhỏ kèm theo - "... biết anh
bận lắm nhưng rán giúp dùm thằng em." Rồi sau đó năm, bảy
cuốn nữa tác giả gởi tặng ào ào, đọc vừa hết cuốn
nầy thì nhận tiếp theo cuốn kia, như vậy là tác giả Nguyễn
Tấn Hưng ở góc trời Winston-Salem kia viết không kịp thở và
bạn bè cùng độc giả, trong đó có tôi, đọc cũng không kịp
thở. Vừa qua, tôi nhận được quyển ký sự
Một Lần
Xuống Núi
rồi tiếp sau đó vài tuần là tập truyện
Một
Nỗi Buồn Riêng
. Trong bao thơ gởi kèm tờ giấy nhỏ, ôi
cái tờ giấy oan nghiệt có một câu viết khiến tôi xao
xuyến - "... hổng chừng thằng em sẽ ra mắt sách ở
Montréal..."
Quí vị cũng biết theo luật giang hồ của văn giới, một tác
giả chỉ nhận xét phê bình hay viết tựa, viết bạt cho tác
giả bạn chỉ một lần và duy nhất một lần thôi. Ðiều nầy
không bắt buộc nhưng là một thông lệ, một qui ước. Tại
sao vậy? Khi nhận định về một tác giả những nét chính
yếu, ưu khuyết điểm phải được tìm ra, ghi nhận đầy
đủ. Nếu viết thêm lần nữa, thì cũng lập lại những ý
đó mà thôi. Tôi yên chí, đọc sách chùa của bạn gởi cho
mà không sợ bị bắt làm công quả. Tôi đã viết cho Nguyễn
Tấn Hưng bài bạt quyển
Một Cảnh Hai Quê
rồi, từ năm 1989
lận!
Nhè đâu, một hôm ông Chủ tịch Văn Bút Québec khều tôi
cười cười:
- Nói cái nầy anh nghe, có ba tác giả "ngoại quốc" muốn
qua Montréal mình ra mắt sách, vui lắm, toàn là anh em thân
tình, tôi đã nhận lời hết rồi...
Tôi vừa nghe vừa run, chưa kịp hỏi gì hết thì được nghe
tiếp:
- Tất cả có ba người: Thụy Khanh, Nguyễn văn Ba, Nguyễn
Tấn Hưng... thì mình cũng có ba người.
Tôi hỏi:
- Mình cũng có ba người, ai vậy?
Ông Chủ tịch Lưu Nguyễn cười và nói tỉnh rụi:
- Thì anh Trang Châu, anh Ðỗ Quý Toàn với anh nè...
Trời đất! Cái vụ Võ Ðình vừa mới xảy ra, rồi kéo dài
thêm những vụ rắc rối bên lề, anh em Văn Bút Việt Nam Hải
Ngoại với Văn Bút Québec muốn khùng luôn hơi sức đâu còn
viết lách với nói năng. Nhưng dầu sao thì bạn Lưu Nguyễn
đã hứa rồi, mọi chuyện đâu vào đó như "ván đã đóng
hòm" làm sao mà cạy cho ra. Tôi suy nghĩ thiệt khôn ngoan giành
trước - Tôi chọn nói cho Thụy Khanh. Dầu sao thì Thụy Khanh
cũng đẹp đẽ, duyên dáng hơn hai ông bạn "miệt vườn" của
tôi. Một bên là dân Parisiense sang trọng quí phái, một bên
là dân ở Nha Mân, Sa Ðéc với Quơn Long, Bình Phục Nhứt, Mỹ
Tho, các bạn nghĩ coi mình phải chọn ai? Dễ quá mà!
Nhưng ở đời, mười chuyện mình muốn thì hết chín không
như ý. Việc công việc tư dồn dập, thành ra trời xui đất
khiến sao đó loay hoay anh Trang Châu đặt cọc cô Thụy Khanh,
Ðỗ Quý Toàn xí phần Nguyễn văn Ba, và ông Trùm Nguyễn Tấn
Hưng lọt vô vòng tay thầy giáo làng là tôi đây. Tôi đâm
nghi ngờ có sự âm mưu sắp xếp của ông Chủ tịch Lưu Nguyễn
với ông Tổng thơ ký Lê Tấn Lộc trong vụ nầy. Thôi không
biết là duyên hay nợ, cũng đành rán mà ôm ông Trùm, chớ
thiệt tình trong bụng, muốn ôm người khác! Thành ra hôm nay
tôi nói hay hay dở ông Trùm rán mà gồng mình chịu trận. Một
lần cho tởn tới già... Nhưng cuối cùng thì tôi thấy hình
như mọi sự có bàn tay của định mệnh an bài. Hôm gặp Kiệt
Tấn trong cơn say nhè, anh ta chỉ vào mặt tôi nói - Hồ
Trường An, Nguyễn văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng thuộc văn chương
miệt vườn, còn Võ Kỳ Ðiền không phải, bạn thuộc văn
chương miệt cù lao. Tôi ngớ ra, sau vài phút mới hiểu,
mình được sanh đẻ ở cù lao Phú Quốc rồi lại viết về cù
lao Bidong, hiện đang sinh sống ở cù lao Montréal. Văn chương
cù lao đi chung với văn chương miệt vườn là xứng đào
xứng kép. Thôi vậy cũng hay. Thành ra hôm nay là buổi nói
chuyện của nhà văn cù lao Võ Kỳ Ðiền nói về con người và
tác phẩm của nhà văn miệt vườn Nguyễn Tấn Hưng.
Trước khi đi vào câu chuyện, tôi xin phép được nêu lên
đây vài thuật ngữ mà tôi sẽ phải dùng vì đó là những chữ
riêng biệt của Nguyễn Tấn Hưng. Nói về Nguyễn Tấn Hưng
mà không dùng những chữ của Nguyễn Tấn Hưng thì làm sao
trình bày hết được con người Nguyễn Tấn Hưng!
Ðó là những chữ "đàn anh, đàn em." Nguyễn Tấn Hưng bắt
đầu làm quen với văn giới lúc còn ở bên quê nhà, hồi
còn đi học rồi đi lính. Theo như tôi biết, anh đã viết
cho báo
Văn
của Mai Thảo và có đến tòa soạn để gặp nhà
văn nầy. Bẵng đi một giai đoạn dài - đi lính, chạy giặc,
tỵ nạn, đi học lại - anh bắt đầu cầm bút lại và bài vở
có đăng khắp trên các mặt báo hải ngoại. Và tôi cũng cẩn
thận ghi chú là anh dùng chữ "đàn anh, đàn em" không có nghĩa
là viết cao viết thấp, viết hay viết dở, cũng không phải
là viết trước viết sau mà là căn cứ vào tuổi tác. Hễ
lớn tuổi là anh mà nhỏ tuổi là em, nói theo kiểu nhà binh,
trong quân trường, khóa đàn anh, đàn em. Tôi may mắn được
sanh ra trước Hưng vài ba năm nên được làm anh, ngon lành.
Còn ông bạn Nguyễn Hữu Chung tuy lớn tuổi hơn tôi nữa nhưng
vì ở xa lại không quen biết nhau, có lẽ thế hệ của anh Chung
là thế hệ "già" quá rồi nên Hưng không biết, tính tuổi lộn
gần mười năm, kêu Chung bằng đàn em ngon ơ! Lần đầu
tiên khi đọc ngang qua chỗ sai sót nầy, tôi khoái hết sức làm
im thinh thích, không cho Hưng hay, trong bụng muốn để ông bạn
già Nguyễn Hữu Chung làm đàn em của tôi luôn, lâu chừng nào
hay chừng nấy, cầu trời khẩn Phật đừng có ai nhắc nhở
để Nguyễn Tấn Hưng đính chánh, mấy thuở được làm đàn
anh của một người nổi tiếng như Nguyễn Hữu Chung!
Danh từ thứ hai mà Nguyễn Tấn Hưng ưa nhắc đi nhắc lại là
chữ "Văn chương miền Nam." Anh tha thiết chữ nầy cho đến
nỗi hai lần anh lên Washington D.C. là hai lần anh nhắc đến nó
trong những bài nói chuyện - Lần đầu trong buổi ra mắt sách
Giai Thoại Hồng
của Hồ Trường An, Hưng đã thuyết trình
đề tài
Ðôi Lời Về Văn Chương Miệt Vườn
(tại trường
Ðại Học George Mason, thủ đô Washington vào ngày 25-6-1989).
Lần thứ hai, buổi ra mắt hai quyển
Tuyển Tập Những Cây
Viết Miền Nam
và
Một Chuyến Ra Khơi
, Nguyễn Tấn Hưng
đã nhắc lại vấn đề nầy trong bài
Tính Chất Chung Quyết
Trong Văn Chương Miệt Vườn
. Trong các nhà văn có văn phong
miền Nam, Nguyễn Tấn Hưng là người dan díu, mê man mấy chữ
"Miền Nam" lẫn "Miệt Vườn" nhứt. Nguyễn văn Ba cũng có
niềm say nầy nhưng xét ra thua cái đam mê của Nguyễn Tấn Hưng
xa lắm. Do đó mà sau loạt bài nói chuyện về đề tài nầy,
ông Trùm bị một độc giả là ông Nguyễn Hoàng làm một bài
thơ dũa một mách te tua, đại ý cho là kỳ thị Nam Bắc. Thực
ra theo chỗ tôi thấy, Hưng không bao giờ có ý xấu nầy, anh
kính trọng Mai Thảo chơi với Nguyễn Mộng Giác, Hà Huyền Chi,
Duy Lam... nghĩa là ai anh cũng quí trọng như nhau, đâu có phân
biệt nhưng vì anh thích viết theo lối văn phong địa phương
quá sức, thành ra ưa nhắc đi nhắc lại mà thôi. Vì anh
thường dùng lẫn lộn chữ "văn chương miền Nam" với "văn
phong miền Nam" nên mới có sự hiểu lầm đó. Văn phong miền
Nam là một khuynh hướng nhỏ, một cách viết với giọng văn
của miền Nam, nằm trong một nền văn học miền Nam. Văn
chương miền Nam, là một nền văn chương gồm tất cả các
cây viết Nam Trung Bắc... tất cả cùng đóng góp công sức
tài năng nghệ thuật của mình cho quê hương, đất nước.
Những nhà văn nầy sống bên bờ sông Gianh như Ðào Duy Từ,
Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào thời Trịnh Nguyễn hoặc
bên nầy vĩ tuyến 17, sau năm 1954 như Mai Thảo, Thanh Tâm
Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam...
Ðể trả lời cho sự hiểu lầm nầy, ông Trùm đặt tên luôn
cho nhà xuất bản của mình là nhà xuất bản
Miệt Vườn
.
Nguyễn Tấn Hưng cũng không tha thứ cho bất cứ ai đụng chạm
tới anh em cầm bút của nhóm nầy như trường hợp Trần Vũ
nhận định trong bài
Những Vòng Tường Ghetto
đăng trên
Hợp Lưu số 2 và ông Trùm đã đập lại thẳng tay như
sau - "... mới có một hai tác phẩm trình làng mà dám
viết một bài như vậy thì còn chữ nào đúng hơn hai chữ
lộng ngôn để dùng, phải không quí vị!"
Danh từ thứ ba của Nguyễn Tấn Hưng là danh từ ông Trùm. Ðây
là tên mà tác giả tự đặt cho mình qua nhan đề của tác phẩm
Một Thuở Làm "Trùm"
. Quyển nầy gây xao động trong dư
luận văn giới, cũng có kẻ chê, cũng lắm người khen. Dầu
khen hay chê, tác phẩm nầy là một tác phẩm nổi tiếng làm nên
tên tuổi của Nguyễn Tấn Hưng. Danh hiệu ông Trùm nổi bật,
bạn bè gọi mãi thành tên. Nguyễn Tấn Hưng biến thành ông
Trùm. Trùm đây là trùm tình báo, Trưởng Phòng Nhì Vùng 4
Duyên Hải, Ðặc Khu Phú Quốc. Chữ "trùm" được đóng trong
ngoặc kép vừa có ý nói lên sự thật mình là cấp trên của
một số đàn em thân tính vừa có ý mỉa mai, giễu cợt cái
chức vụ an ninh tình báo...
Ðại khái Nguyễn Tấn Hưng có thói quen dùng những chữ thoạt
mới nhìn qua thì có vẻ ngang tàng nhưng xét kỹ thì thấy nét
dễ thương của nó. Nét dễ thương của một người còn mang
trong mình dòng máu ruộng vườn miền Nam. Nhưng những người
nông dân miền Nam cũng có chung gốc gác là nông dân đất Bắc,
vì nghèo khổ (làm ruộng, đi lính, bị đày...) nên phải mạo
hiểm làm cuộc Nam tiến theo chính sách đồn điền của chúa
Nguyễn, tìm đất mới khai phá để sống còn. Họ vừa chiến
đấu vừa cày cấy. Tính tình do đó mà nẩy nở phát sinh
theo hai chiều hướng đối nghịch. Khi thiệt hiện tánh chất
phác, khi thiệt ngang tàng, dữ dội, càng ngày càng khác
biệt với nếp sống nếp suy nghĩ của người giàu có, người
trí thức còn lại ở đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Bởi
vì những người nông dân miền Nam đó vừa làm dân, vừa phải
làm hết. Nguyễn Tấn Hưng thừa hưởng trọn vẹn hai đặc
tánh nầy của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh hơn các bạn văn của anh.
Chúng ta hãy nghe anh Võ Ðình nhận xét - "Nhưng Nguyễn Tấn
Hưng có những đặc biệt khác với những người kia là Nguyễn
Tấn Hưng đã lớn lên, đã trưởng thành trong quân đội...
là cái điểm rất đặc biệt mà những người kia, những Võ
Kỳ Ðiền, Kiệt Tấn, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn văn Ba... không
có. Hồ Trường An cũng từng ở trong quân đội nhưng Hồ
Trường An chỉ là sĩ quan văn phòng, từng thú nhận là tôi
chỉ ngồi chơi lai rai vậy thôi. Chứ còn ông Nguyễn Tấn
Hưng nầy thì phải lên tàu, trôi dạt khắp đó đây."
Cái dòng máu lính thú của tổ tiên thời Trịnh Nguyễn được
tăng cường bổ xung bằng những năm gia nhập binh chủng hải
quân rồi thêm những năm theo ngành khoa học, ngành điện tử
ở Ðại Học đã khiến cho Nguyễn Tấn Hưng xông xáo, lăn
xả, bất chấp mọi trở ngại. Con người lý trí vượt trội
con người tình cảm. Nguyễn Hưng Quốc có lần đã nói - Có
nhà văn thiên về tâm, có nhà văn thiên về trí. Theo tôi,
Nguyễn Tấn Hưng là một nghệ sĩ đa tài - anh viết văn,
làm thơ, viết biên khảo, đặt nhạc - nhưng dù bộ môn
nào lý trí anh cũng vượt trội hơn tình cảm. Chúng ta thử
nghe đôi lời than thở, chỉ hơi buồn mà không có nước mắt
rưng rưng:
Chàng còn đâu nội ngoại để về. Ðể viếng thăm
trong những khi rỗi rảnh hay để tá túc trong những khi hoạn
nạn. Nội ngoại của chàng giờ ở xa lắm, mút tận bên kia
bờ đại dương. Cái cơn bão ngoài đời dẫu có chợt đến
rồi cũng chợt đi, nhưng những cơn bão trong lòng Quốc thì
hình như mãi mãi không bao giờ tắt lịm. Ngày nào còn Cộng
sản ngự trị trên miền đất nước thân yêu thì ngày về
lại cố hương, tìm gặp những người thân thương của Quốc
như mãi mãi còn xa
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 33).
hoặc:
Thình lình, mắt Gia bỗng hoa lên với cảnh vó câu.
Rập rình chiến mã, gươm đao. Bất giác, chàng không còn
nhớ gì nữa, lắp bắp hát luôn câu kết, như cố tình
muốn đưa cái dĩ vãng không mấy vàng son của thời đại mình,
thật nhanh chóng, vào lãng quên
(truyện ngắn
Ðưa Dĩ
Vãng Vào Lãng Quên
trang 47).
Có những giây phút rảnh rỗi, Nguyễn Tấn Hưng nhớ về Việt
Nam thân yêu, nhớ mảnh vườn nhỏ ở quê nội, quê ngoại,
nhớ lu nước mát sau hè, nhớ cây cau già trước ngõ, nhớ
chiếc võng cho thằng Sơn Nhái, nhớ thương đời sống binh
ngũ hải hồ. Cứ coi cách anh miêu tả, anh thương mến nó
biết bao nhiêu vậy mà khi kết luận anh viết tỉnh queo theo
như trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư:
Chàng ngửa mặt thì thầm trong bóng đêm:
- Ôi, không có cảnh biệt ly nhưng sao mà buồn vậy!
Hoặc đã nương theo câu vọng cổ:
Rồi đành cam thọ tử vì mắc kế của Lữ Mông...
Cái tình cảm dào dạt phong phú của người nông dân ruộng
vườn bị cái lý trí của người khoa học, người quân nhân
chận đứng. Nguyễn Tấn Hưng đã kìm hãm được sự xúc
động. Lúc nào cũng vậy, đời anh là một chuỗi ngày
phấn đấu vui sống vươn lên trên nỗi khổ đau. Do đó
mà có lần tôi đã viết cho Hưng: "Cái lý trí lấn áp tình
cảm trong tập truyện là một khuyết điểm đồng thời cũng
là một ưu điểm. Từ lâu trong tiểu thuyết của ta chứa
đựng nhiều nước mắt quá, mỗi lần đọc xong một tác
phẩm, cả người như muốn bịnh. Tôi muốn thấy nụ cười
thay cho nước mắt... thấy được niềm vui sống, dù đang
ở trên xứ người. Chỉ cần bao nhiêu đó nhà văn Nguyễn
Tấn Hưng cũng đủ được mọi người trân trọng quý mến."
Nhưng có phải cái lý trí, cái sức mạnh tinh thần đó làm
nên nhà văn Nguyễn Tấn Hưng? Không phải. Nguyễn Tấn Hưng
sở dĩ được nổi tiếng mau lẹ nhờ ở bút pháp đặc biệt.
Ngòi bút của Nguyễn Tấn Hưng khỏe mạnh, tung hoành, trôi
chảy. Võ Ðình đã ghi nhận cách viết của anh như sau: "lúc
nào cũng viết một cách rầm rộ, vui vẻ và thoải mái như
vậy, khơi khơi như vậy." Ðể thấy rõ nét cái bút pháp
đặt biệt Nguyễn Tấn Hưng, chúng ta thử làm cuộc so sánh
nho nhỏ với vài tác giả cùng nhóm thuộc văn phong miền Nam.
Theo tôi thì không ai có đủ thẩm quyền nói về điều nầy
hơn Hồ Trường An hết. Có lần trong cuộc phỏng vấn, Hồ
Trường An đã nhận định về văn mình... Văn tôi hơi giống
văn của Kiệt Tấn, của Nguyễn Ðức Lập và của Nguyễn Tấn
Hưng ở vài chỗ. Có lẽ bởi vì Kiệt Tấn, Nguyễn Tấn
Hưng và tôi đều ở trên phần đất Tiền Giang (tỉnh Mỹ Tho
và tỉnh Vĩnh Long) nên có cùng một ngôn ngữ chăng?
Tôi đồng ý điểm ghi nhận nầy ở câu "... giống một vài
chỗ." Bạn Hồ Trường An đã kỹ lưỡng khi viết chỉ có bấy
nhiêu vì Kiệt Tấn, Hồ Trường An và Nguyễn Tấn Hưng, xét
về bút pháp khác xa nhau nhiều lắm. Nguyễn Tấn Hưng nghĩ
sao viết vậy, câu văn khỏe mạnh, trôi chảy, tự nhiên không
trau chuốt. Xét theo tính cách giáo khoa thì văn Nguyễn Tấn
Hưng rất gọn gàng, gồm có chủ từ, động từ, túc
từ... minh bạch. Trong khi đó văn của Kiệt Tấn rất nhiều
trạng từ, tĩnh từ (Nguyễn Hưng Quốc đã viết "Ông không
mừng, ông mừng húm. Ông không khoái, ông khoái chí tử,
ông không quên, ông quên tuốt luốt, ông không hôn, ông hôn
chùn chụt)...
Riêng văn của Hồ Trường An vì mê Hồ Biểu Chánh nên trong
văn có hơi hám của lối biền ngẫu, tứ lục thời quốc ngữ
phôi thai đầu thế kỷ. Hồ Trường An viết "tim bảy lỗ
héo khô, gan bảy lá héo hắt" hoặc "chưa chi mà chị đổ hô
con hai Túy Hoa nầy hỗn dữ, bửa đầu mãnh hỗ, bóp cổ
Thiên Lôi, xé đôi gấu ngựa, vật ngửa Chằng Tinh."
Không cường điệu đầy xúc cảm như Kiệt Tấn, không dài dòng
đối chọi mỹ miều như Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng không
viết thì thôi mà hễ viết thì như "lên xe sang số và đạp
hết ga, chạy thẳng một mạch không quanh qua quẹo lại, không
biểu diễn uốn éo gì ráo. Nếu gặp chướng ngại vật, như
có ai láng cháng chê tới chê lui, là tài xế phóng xe lên cán
luôn, chết bỏ rán chịu." Vậy mà lại hay, mới
lạ chớ! Chúng ta thử đọc một đoạn anh tả cảnh bão tố:
Bất thình lình, trên trời như
có một đoàn chim sắt đang bay tới, rất đông: h... ùm, ùm
ùm... Dưới đất cũng vậy, một đoàn tàu đang chạy ngang
qua: h... ùm, ùm ùm... Mang theo những tiếng sét đồng loạt
nổ long trời, và những lằn chớp xanh ma trơi bủa vây tứ
phía. Có lẽ trời đang sập thiệt. Quốc thấy mình như
đang lạc vào chốn địa đàng của loài khủng long, với những
tiếng gào thét thất thanh trước khi lâm chiến, tử nạn.
Chàng chạy lại khung cửa kéo, slide door, rọi đèn pin ra ngoài.
Nhờ bóng tối bên trong mà chàng thấy rõ hết. Trời đất,
những hạt mưa nằm ngang dầy đặc, vùn vụt bay không ngớt
dưới sức mạnh của cuồng phong. Những thân cây to lớn ở
bìa rừng phía sau nhà cong vòng như những cây sào của các lực
sĩ điền kinh. Ngọn nhịp lên nhịp xuống như ngọn cần câu
cắm đang bị cá ăn. Những con đom đóm bay đêm đã bị đánh
rạt xuống lớp cỏ, đang nằm im một chỗ thoi thóp chớp
...
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 21).
Có thể xem đây là một đoạn văn tiêu biểu cho bút pháp
Nguyễn Tấn Hưng, lối viết đơn giản như nói chuyện "có
lẽ trời đất đang sập thiệt" thể hiện được cái tánh
tình vừa chơn chất vừa dễ thương. Chúng ta cũng dễ
dàng bắt gặp nét ruộng vườn bị lai giống với óc khoa
học phối họp với tinh thần xông xáo. Sự quan sát bén
nhạy, trí nhớ sáng suốt Nguyễn Tấn Hưng đã hấp thụ
và đồng hóa cuộc sống ở Mỹ rất nhanh, khác hẳn với
các bạn văn khác cuộc sống ở xứ người khó khăn, lợn
cợn như nước với dầu. Việc nầy chúng ta thấy rõ
anh dùng nhiều từ ngữ địa phương một cách tự nhiên,
không cố ý. Tuy nhiên do ảnh hưởng nếp sống mới, một
hiện tượng lạ là anh lại ít dùng ca dao, câu hò, câu hát
như phần đông cây viết miền Nam, bạn anh. Tôi nói anh
dùng nhiều từ ngữ địa phương có hai ý. Từ ngữ địa
phương cũ là nơi anh đã sống nửa đoạn đời đầu ở
Bình Phục Nhứt, ở Mỹ Tho... và từ ngữ địa phương mới,
là vùng đất anh định cư ở Mỹ, Winston-Salem. Anh nói tiếng
địa phương miệt vườn Hậu giang, Tiền giang khơi khơi,
đồng thời anh nói tiếng Mỹ, chửi thề tiếng Mỹ... cũng
khơi khơi.
Ta đọc thử một đoạn:
... duy nhất chỉ có sự dẫn nhiệt từ từ, heat transfer,
từ điểm nóng đến điểm lạnh tựa hồ như những phân tử
không khí đã đặc lại thành chất cứng. Máy lạnh. Rõ
ràng chàng cần gấp một cái máy lạnh. Chàng đề máy, máy
nổ ngọt ngào. Gạt cần điều chỉnh air-conditional từ vị trí
normal qua gạch maximum, chàng mở quạt ở tốc độ thiệt
lớn, high. Hơi nóng phả vào mặt thiếu điều muốn cháy
râu, phỏng trán.
- Damn it!
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 12).
Trong một đoạn ngắn 9, 10 dòng, Nguyễn Tấn Hưng đã dùng tới
6 tiếng Mỹ anh nói tiếng trơn tru như chúng ta nói... tiếng
Việt. Ðây là một hiện tượng mới phát xuất ở trong các
tác phẩm hải ngoại. Tôi cũng tìm gặp nhiều tác giả khác ở
Mỹ thì viết xen trộn tiếng Mỹ (Anh), tiếng Pháp ở bên Tây,
tiếng Hòa Lan ở xứ đất thấp và tiếng Ðức ở xứ sở của
Hít Le... Tôi không có ý kiến về việc pha trộn nầy. Tuy
nhiên vì tôi là thầy giáo, ngày xưa có dạy học, tôi không
thể tưởng tượng được nếu các nhà giáo Việt Nam mình bây
giờ, gặp phải một bài văn mà đầy tiếng Mỹ, tiếng Tây,
tiếng Ðức, tiếng Na Uy... thì các vị đó là sao đọc, làm
sao hiểu và làm sao giảng dạy cho học trò?
Ðiều nhận xét cuối cùng, chúng ta cùng nhau bàn về tánh
cách thành thực của Nguyễn Tấn Hưng. Nhà phê bình Nguyễn
Hưng Quốc đã viết "Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh
giá tư tưởng một triết gia là tính chất độc sáng. Tiêu
chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tư tưởng một nhà văn
là sự chân thành." Và ông đã đánh giá và tin tưởng nhà
văn Kiệt Tấn là thành thật nhứt. Ông cũng tỏ ý hoài nghi
về sự thành thật của các nhà văn khác. Riêng tôi, tôi
cũng tin là nhà văn Kiệt Tấn trong tác phẩm chứa đầy sự
thành thật nhưng nếu so sánh kỹ với ông Trùm thì e rằng
chúng ta phải cùng nhau xét lại. Nói chung các nhà văn miền
Nam ít hay nhiều đều bộc lộ nét mộc mạc, thành thật.
Hình như tất cả đều có nhu cầu bộc bạch tâm sự, kể lể
chuyện đời riêng tư của mình khác hẳn đa số các nhà văn
gốc Trung, gốc Bắc. Vì lẽ đó, ta đọc trong truyện của
họ, nhân vật chánh xưng "tôi" dễ dàng tự nhiên. Trong tác
phẩm, Kiệt Tấn đã viết về gia đình mình, cha mẹ, anh
chị, cùng các người yêu rất rõ, rất kỹ. Nhưng anh đã
viết về những cảnh sống nghèo khổ ở nơi thâm sơn cùng
cốc, cha mẹ anh gốc nông dân thật quê mùa không miếng
đất cắm dùi, người chú thứ chín thì câm, người anh
tuy học giỏi nhưng nghèo phải bỏ học đi làm thợ mộc, còn
các người yêu của anh là Tuyết bán quán ở bắc Mỹ Thuận,
Hoa bến đò Rạch Miễu, mấy em Hồng, Tuyết ở Ngã Năm,
Ngã ba... cho đến khi du học thì người yêu của Kiệt Tấn
cũng là những em đầm Diane, Danielle và một đám yêu nữ
tóc vàng, mắc xanh gặp trên tàu, ở quán rượu... Nhưng
thực tế thì bạn Kiệt Tấn đã giấu đi phân nửa tài sản
mà ông có. Kiệt Tấn đã bỏ qua giai đoạn thành công, giàu
sang của gia đình anh. Như tiệm bán đồ gỗ của ba má anh
lớn nhứt nhì ở Vĩnh Long, người anh vào quân đội làm
quận trưởng một quận lớn, anh Lê Tấn Lộc và Kiệt Tấn
đều học giỏi và đi du học ở Paris và khi về nước thì giữ
các địa vị trọng yếu trong chánh quyền, và hầu như trong
tất cả truyện ngắn, truyện dài của Kiệt Tấn hình ảnh
người vợ chỉ xuất hiện để canh chừng ông chồng hoang
đàng, rượu chè be bét... Anh giấu đi mất biệt bà Kiệt
Tấn, một thời là hoa khôi của tỉnh Vĩnh Long, bà Kiệt
Tấn đẹp cho đến nỗi dầu anh đi năm sông bảy suối, cuối
cùng cũng phải quay trở về cầu Cái Cá tình nguyện đặt
dưới quyền sai khiến, cằn nhằn của bà. Như vậy Kiệt
Tấn chỉ thành khẩn khai báo với độc giả có phân nửa.
Trong khi đó thì ông Trùm tuy làm nghề tình báo nhưng cuộc
đời có bao nhiêu đều khai ra tuốt luốt hết. Anh cũng nói
về cái quê mùa nghèo khổ của gia đình (cha mẹ ở thôn quê,
làm nghề buôn gỗ, lúc nhỏ đi trọ học ở Mỹ Tho vất
vả... rồi cuộc đời tỵ nạn đầy mồ hôi, nước mắt). Anh
viết luôn những tánh xấu như khi làm Trùm ăn hối lộ, tham
nhũng... Nhưng Nguyễn Tấn Hưng thành thật hơn các bạn
khác khi anh can đảm viết về những cái tốt, cái hay của
mình, cùng vợ và con.
Người Việt Nam ta, mấy ngàn năm ảnh hưởng văn hóa Trung
Hoa nên sống khép kín. Ðiều gì thuộc về mình, vợ và
con cùng nhà cửa phải giấu thiệt kỹ và nếu cần phải nói
thì nên bỏ bớt đi, hạ thấp xuống. Nhà thì tệ xá, vợ
thì tiện nội, còn mình thì kẻ hèn nầy, bỉ nhân, tại
hạ... Thoạt nhìn thì như vậy là khiêm tốn nhưng xét ra
cho cùng là giả dối, thiếu sự thành thật. Con mình đẹp,
vợ mình đẹp tại sao lại phải giấu biệt đi, tại sao lại
nói xấu? Nhà mình lớn, sang trọng, tại sao lại nói nhỏ
hẹp, mình học giỏi, bằng cấp lớn tại sao phải nói ngược
lại? Tôi đồng ý với Nguyễn Tấn Hưng hoàn toàn khi anh
trình bày rất chính xác tài năng học hành anh đang có, cái
nhan sắc tươi mỡn đẹp như rau non mới hái ngoài vườn của
vợ anh và đứa con gái lớn xinh xắn, đẹp đẽ mà vợ chồng
anh sung sướng dẫn con đi dự giải tuyển lựa hoa hậu của
tiểu bang (truyện ngắn
Hoa Hậu Xứ Dương Ðào
trang 147).
Như vậy rõ ràng Nguyễn Tấn Hưng là nhà văn thành thực nhất
trong số những người thành thực. Anh đã vượt lên trên
sự khiêm tốn giả vờ của một quan niệm già nua, cũ kỹ đồng
thời điều nầy cũng xác nhận được tính cách hội nhập mau
chóng vào xã hội thực tế của đất Bắc Mỹ của anh. Và cũng
nhờ cái đặc tánh nầy, nền văn học Việt Nam ở hải ngoại
có được thêm một ngòi bút đặc biệt... khi chơn chất,
lúc bạt mạng, nói theo kiểu phê bình của Trần Vũ!
Riêng tôi, tôi yêu quí và trân trọng ngòi bút "khi chơn chất,
lúc bạt mạng" của ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng biết bao nhiêu!
Võ Kỳ Ðiền
* Bài nói chuyện ra mắt sách
Một Nỗi Buồn Riêng
của Nguyễn Tấn Hưng tại Montréal ngày 17-10-1992.
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp