Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tựa cho Một Lần Xuống Núi

Phạm Thăng

    

     Tôi đang ngồi lúi húi xới đất cho líp cải xanh ngoài vườn nhỏ sau nhà thì nghe tiếng vợ gọi vui vẻ:

     - Có thư và sách nè anh!

     - Ủa, anh phát thơ đi sớm quá hả? Của ai vậy em?

     - Ơ... ơ... có một bao bì lớn của Nguyễn Tấn Hưng. Chắc là sách.

     Mở bao bì ra, đúng là sách của ông Trùm "Một." Nhưng chưa phải là sách, chỉ là xấp bản thảo còn nguyên vẹn mùi thơm của giấy. Một lá thơ rớt ra. Ðọc vội vàng, tôi cảm thấy "quây mòng mòng" còn hơn... cuốc đất mấy ngày nay. Tôi nói lầm thầm:

     "Ác thiệt! Chàng nầy sáng tác hăng quá, rồi lại nhờ mình viết tựa! Thà là cuốc đất mười bữa, nửa tháng còn sướng hơn! Biết ổng viết cái gì đây? nếu nói về đồng quê, miệt vườn thì mình còn hụ hợ được, chớ viết chuyện ra khơi, biển cả... thì mình bù trất rồi... Ông nầy chắc dư biết viết tựa khó ngàn lần viết bạt, phải nắm vững văn phong, văn khí của tác giả." Mà với Nguyễn Tấn Hưng, anh Mai Thảo đã nói rất nhiều và đầy đủ trong lời Vào Tập của hai cuốn sách đầu tay của Hưng:

     Ðọc hết Một Chuyến Ra Khơi, đọc tiếp tới Một Ðời Ðể Học, tôi thấy được những gì? Thấy được mấy điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương. Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.

     Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao, viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng
...

     Vậy là đủ "một Nguyễn Tấn Hưng" rồi, và còn gì để viết nữa đây? Chỉ liếc thấy xấp giấy chi chít chữ, chưa thấy lá thơ, vợ tôi đem tôi về thực tế:

     - Anh có sách đọc ngày nay rồi đó nghen. Nhưng tới giờ cơm rồi. Phải ăn trước đó.

     Nghe vợ nhắc, tôi quên lững cái "công tác đề tựa" nặng nề mà nhớ là mình sắp được đọc một cuốn sách mới trinh nguyên, chưa một ai đọc trước mình, tôi ngoan ngoản ra bàn ăn.

     Vợ tôi biết tôi có tật lạ lùng là khi có cuốn sách nào thích chí thì quên ăn và không thèm làm gì khác, và mỗi lần tôi đọc sách, tôi nằm dài trên giường, đấp mền tận cổ... thật nghiêm túc. Có lần tôi giải thích:

     - Không có gì sung sướng cho bằng khi đọc một cuốn sách hay, hấp dẫn mà bị... lạnh cẳng. Mình ở xứ lạnh mà.

     Ðó đâu phải là tật, cũng như lúc nhỏ, chú tôi có kể cho nghe: Mỗi lần ông tôi đọc sách (chữ nho) là ông phải ngồi dựa vào cái gối xếp trên bộ ngựa trải chiếu hẵn hòi, mới cầm sách đọc. Không bao giờ ông nằm võng mà đọc sách, nơi nầy ông chỉ nằm hút thuốc, phà khói, mơ màng thôi.

     Tôi bỏ lá thơ vào hộc bàn, tạm quên, để chỉ hưởng thú đọc sách của Ông Trùm nầy, rồi... tới đâu hay tới đó.

     Vừa ở trang đầu, liếc thấy hai chữ "Miệt Vườn" tôi hơi yên chí, lật rẹt rẹt xem sơ sơ bên trong. Phải nói rõ, đây là cái tật. Không phải như nhiều bà, nhiều cô có tật đọc trước mấy trang cuối cùng để biết kết quả của nhân vật trong tiểu thuyết Quỳnh Dao, La Lan... mà tôi chỉ muốn tìm coi có nhân vật tên John, tên Bob không? Không phải tôi kỳ thị mà vì tôi "kỵ" đọc những chuyện mới xảy ra "hôm qua, hôm nay" mà mình sống tạm bợ xứ người thường gặp hoài.

     Tôi lật sơ để tự giải đáp thắc mắc trong tôi: Anh bạn Hưng nầy là dân "áo-trắng-bâu-vuông-có-viền-xanh-lật-sau-ót" mà nói chuyện Xuống Núi, là xuống làm sao?

     Nhờ lật rẹt rẹt để chợt thấy nhiều chữ in hoa, tên của phụ nữ: Cao Bình Minh, Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, "bốn con chuột dừa" rồi có "múi bưởi Biên Hòa" Trần Kim Vy, theo sau có tên phụ nữ nữa... nhảy nhót trong sách. Tôi yên chí vì biết anh bạn trẻ nầy viết ký sự về bạn bè, trong đó có nhiều cây viết nữ miền Nam mà từ lâu tôi được đọc trên báo Làng Văn , chỉ "văn kỳ thinh, bất kiến kỳ hình..." vậy là sẽ có những đoạn "vẽ lại" dung nhan các người đẹp rồi đây!

     Mèn ơi, sao mà chàng nầy có duyên vậy? Tôi chưa hết vui mừng khi xẹt tới trang 118 để thấy vài địa danh xứ Hoa Kỳ in hoa: Sông Muối (Salt River), Stuart Mountain Dam... tôi hơi ngợ, nhưng liền đó là những giòng chữ tả cảnh. A! cái gì chớ tả cảnh là tôi mê quá rồi!

     Như có lần tôi nói với bạn bè trong sách của tôi: Tôi sanh dưới chưn con ngựa, tuổi Canh Ngọ, mang giòng máu giang hồ, chạy mệt quên thôi, nên tôi đi đây, đi đó, từ hồi lưu lạc xứ người có đi Âu, Á, mà xứ Cờ Hoa sát bên lại chưa có dịp đi. Hôm nay có Nguyễn Tấn Hưng viết về Một Lần Xuống Núi , dẫn mình và độc giả đi theo, (không tốn xu nào đó nhe), tôi mừng vì yên chí, ôm xấp bản thảo lên giường, đấp mền ngay ngắn, sung sướng theo chưn bạn trẻ nầy... xuống núi.

     Tôi "nhập cuộc" với Nguyễn Tấn Hưng liền khi đọc những cuộc hội họp bạn bè trong một khung cảnh thật văn nghệ, với những khuôn mặt mà tôi có biết tên tuổi. Hưng có lối kể chuyện trung thực, kể một lèo, không cần giũa gọt mà sao nghe như có âm thanh trong trang sách, có hình tượng nhảy múa trước mặt, ví dụ như trang 11, 12, Hưng viết trơn tuột mà độc giả tưởng chừng như có một người đẹp đất Thần Kinh duyên dáng là Hoàng Bắc đứng trước Hưng để chất vấn... và cậu ta đang mĩm cười... duyên để vừa phân trần, vừa ga-lăng, nịnh đầm:

     - "Tại vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết đâu sau khi đọc bài này lại có người chẳng khiếu nại tôi rằng "khi răng mà không bênh mấy o "lớp lớp phù sa" của mình, ai lại dựa hơi mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu nào câu nấy cứ "un point final" bằng... "nhá, nhá." Thấy chưa chị Hoàng Bắc, lần sau chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một chỗ khác tuyệt vời hơn. Số là tôi kề, sát quá thành hôn, tai chị và rất thiệt tình hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?", chị như đi guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai gian hả?" Cho tới bây giờ tôi không biết phải khen chị Hoàng Bắc giữa đẹp với trẻ cái nào trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con hiểu lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả thôi nghen) nói mãi "thành cà rem nước dừa" ...

     Cứ đọc đoạn trên, độc giả sẽ hình dung một Nguyễn Tấn Hưng lém lỉnh trước một nhà văn nữ miền Trung khả ái, duyên dáng, xinh xinh.

     Còn gì vui hơn khi biết "Làng Văn" có nhiều người đẹp như vậy. Mà không phải một người, chúng ta cứ theo chuyến hành hương đầu đời (lời tác giả, trang 19) để còn thấy thêm nhiều bạn hiền nữa.

     Tôi còn đang ao ước làm sao được đi thiệt, bằng xương, bằng thịt, không phải theo chân tưởng tượng như vầy thì tay dở đến trang "Văn Minh Miệt Vườn" để được Nguyễn Tấn Hưng kể lại Mỹ Tho, Gò Công của Hưng, không có miệt Long Hồ của tôi. Ðúng ra bên Cái Bè, Cai Lậy, Bến Tranh, Chợ Gạo của Mỹ Tho có nhiều vườn hơn Long Hồ, Vũng Liêm xứ Vãng của tôi, nhưng tác giả coi mình ở Miệt Ruộng là khiêm nhường chăng?

     Không sao, Miệt Vườn, Ruộng gì cũng được. Vì Hưng đã đưa độc giả vào cuộc giải thích mấy chữ Văn Minh Miệt Vườn, và đấy là bài nói chuyện tại trường Ðại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, vào ngày 25-06-1989, của anh.

     Mấy tháng vừa qua, nhà xuất bản Phù Sa do nhà văn Nguyễn văn Ba chủ trương, đã tập họp và xuất bản 2 cuốn TUYỂN TẬP NHỮNG CÂY VIẾT MIỀN NAM đã làm văn giới có lời dị nghị: "Chà! Có mùi địa phương rồi đây!"

     Giờ đây, đọc bài nói chuyện của Nguyễn Tấn Hưng mới thấy nhà văn hải quân nầy "chịu giải thích" và có lý. Còn đối với người miền Nam, sở dĩ có sự rầm rộ vác bút xuống đường là tại vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân Nam ta mới "được" nếm mùi bỏ xứ ra đi. Dám nói nếu không có cuộc đại loạn, đổi đời thì trong văn học Việt Nam sẽ không có những áng văn chương, biết đâu sau này sẽ trở thành bất hủ, cho quê hương miền Nam được viết lên từ hải ngoại (trang 139).

     Tôi nhớ có dịp được đọc thơ của một văn hữu lớn tuổi cũng có nói:

     - Thời gian sau nầy (có nghĩa là sau khi chúng ta bỏ xứ ra đi) có nhiều cây viết gốc miền Nam nổi lên quá. Vì các anh mới lần đầu tiên bỏ nơi chôn nhau cắt rún, tâm trạng còn cô đọng hình ảnh thân thương, những kỷ niệm vừa để lại sau lưng, nên cầm viết lên là viết được ngay dễ dàng những sự việc còn mới ràng ràng chưa phai trong ký ức...

     Ðúng lắm. Tôi chịu các lập luận này. Vì cứ suy nghĩ theo bản thân của tôi, lúc còn nhỏ, từ năm 1940, đã biết đọc văn của Truyền Bá, Hoa Mai, Sách Hồng rồi leo sang Phổ Thông bán nguyệt san, Tiểu Thuyết Thứ Bảy ... của các văn sĩ miền Bắc. Tôi còn thuộc lòng bảng Mục lục của Phổ Thông : Ai lên xứ Cát, Ngựa đã thuần rồi, mời ngài lên v.v. Tôi đọc và đã hiểu rõ văn phong miền Bắc để khi có một chút "lợn cợn" nào không hiểu, lại hỏi chị tôi, cô gái Nam rặc ròng. Lúc đó tôi không nghe ai bàn đến văn phong miền Nam hay Trung, Bắc gì cả, chỉ biết là sách báo do các nhà văn lớn: Lê văn Trương, Tchya, Ngọc Giao, Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố... cũng hay, cũng dễ hiểu như Hồ Biểu Chánh, Phú Ðức...

     Ai ai chúng tôi đều hăm mộ, kịp đến Hiệp định Genève 1954, tôi được hân hạnh quen biết thêm các cụ Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc, Võ Ðức Diên, các ông Nguyễn Doãn Vượng, các anh Lê văn Siêu, Vũ Bằng v.v. để được đọc và thấm thía nỗi sầu ly hương của các anh lúc đó.

     Lúc bấy giờ, những bạn cùng trang lứa tuổi tôi, chắc xúc động nhiều với các văn nhân, ký giả, thi sĩ, nhạc sĩ miền Bắc... các anh đang nhắc nhở vùng trời thơ ấu thân thương của mình trong các ký sự, hồi ký, chuyện ngắn, ca khúc... để cho chúng tôi, những bạn trẻ người Nam biết và thương mến thêm những đền đài, núi non, sông ngòi xứ Thăng Long, để cảm thấy thoang thoảng mùi hoa sữa (dầu chưa thấy bao giờ) để cảm biết trong tưởng tượng thế nào là gió heo may, mà trong Nam chỉ có gió chướng, gió bấc...

     Tại sao những bài đó có sức hút như vậy? Bởi vì các văn nghệ sĩ đó vừa "bước ra khỏi" cái nôi đầy kỷ niệm thân yêu của mình - Tâm trạng còn mới nguyên thì lời văn, tiếng nhạc chắc chắn còn đượm nồng tình quê hương. Các anh chờ trở lại (theo lời Hiệp định Genève: 2 năm sẽ có Tổng tuyển cử) mà phải chờ... chờ hoài... đến 10, 15 năm sau... lúc đó chúng ta hết còn thấy bài nào kể lại quê Bắc nữa, cho dầu là Vũ Bằng viết về Miếng Ngon Hà Nội vẫn còn đó, anh đã hết hứng để viết về Hà Nội, mà đành viết... chuyện trong Nam.

     Các nhà văn người Nam, trước hay sau di cư 1954, viết văn, viết báo vẫn xài giọng văn chung chung, nghĩa là không rặc giọng Nam bộ, chỉ trừ Hồ Biểu Chánh với nhiều tiểu thuyết: Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng v.v. Phú Ðức với Châu về hiệp phố , một nhà văn lão thành (tôi quên tên) với chuyện Võ đông sơ-Bạch thu hà v.v. rồi kế đến Nam Ðình Nguyễn Thế Phương, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên... sao họ không bị ảnh hưởng, để đến sang đây mới có nhóm người gốc miền Nam viết với văn phong miền Nam?

     Cứ xin đan cử về tôi (xin đừng rầy tôi quá chủ quan). Từ lúc vào "ăn cơm nhựt trình" năm 1952, rồi năm 1955 quen các ký giả Bắc, Trung, Nam trong nhà báo, tôi có sẵn trang báo trong tay sao không viết? mà phải đợi sang đây mới... cầm bút lên? và khi viết lại viết với giọng đặc sệt miệt vườn?

     Như đã trình bày ở trên, tôi cũng giống như anh Lê văn Siêu, Vũ Bằng... lúc 1954. Tôi bỏ ruộng vườn, mồ mả ông bà, sang đây... nhớ quá, lần đầu trong đời mà.

     Khác hơn các anh di cư 1954 từ miền Bắc vô Nam rồi nay lại bỏ xứ - Cái xứ sau này chỉ là tạm bợ, ít có kỷ niệm như nơi chôn nhau cắt rún. Chúng tôi nhớ thì phải thốt lên, không bằng lời, thì bằng lời văn mộc mạc để kể chuyện quê mình, nơi có vườn, có ruộng, có âm thanh, có tiếng nói của nơi đó (phải không Hưng?). Từ đó, dầu có muốn viết theo lối văn đã thấm trong đầu từ lâu, cũng không thể nào viết câu:

     - Nè, thằng tư Thẹo đâu rồi. In như có trái dừa rụng sau hè. Tao nghe nó rớt cái bịch. Chạy ra lượm vô nghen .

     Chẳng lẽ với lời bà mẹ quê Nam, mà viết:

     - Tư Thẹo đâu rồi. Dường như có quả dừa rơi đánh xạt sau vườn đấy. Mày ra nhặt vào nhé .

     Mà đâu phải chỉ có các cây viết miền Nam qua đây mới nhớ quê, mới viết. Anh chị em miền Trung nữa chớ, nào là Võ Ðình với Mấy món Tết mặn mà , một Túy Hồng với Hạt gạo Huyền Trân , hoặc một Huyền Châu với Mùa Xuân trên Gò Bồi ... (trang 139).

     Tôi xin mạn phép nói lan man hơi nhiều để góp thêm ý vào chặng hành trình thứ hai của "chàng." Bây giờ mời các bạn nhảy phóng theo tác giả đến tiểu bang New Jersey. Hãy chạy mau mới kịp vì anh hải quân này lái xe... ẩu lắm, mặc cho các cô gái Mỹ ở đấy bóp kèn inh ỏi, cứ lái phom phom như lời văn tuôn chảy nhẹ nhàng trên giấy.

     Nhờ tác giả dẫn độc giả đi từ trang 29 đến trang 41 để tìm bắt mạch ông lang tây Lê văn Lân mà mình biết thêm tiểu bang Mỹ nhiều đèn xanh đèn đỏ, xa lộ lớn xa lộ nhỏ...

     Không biết những trang của chặng thứ ba, Nói chuyện với đàn em , Nguyễn Tấn Hưng có thấy hãnh diện là được quen biết nhiều các văn nghệ sĩ Việt Nam tại xứ người chăng, chớ tôi và bạn đọc thích vô cùng, vì ở chặng này, được biết rất nhiều văn nghệ sĩ thành danh trên văn đàn mà từ lâu mình nghe tiếng.

     Hãy đọc chầm chậm mới thấy Nguyễn Tấn Hưng "giỏi thiệt." Anh khai toẹt tác phẩm nào của ai, nội dung hay ho, phong phú ra sao? Hãy theo tác giả vào đoạn đường này để thấy miệt vườn Mỹ Tho sum suê văn nghệ sĩ cũng như dừa xiêm Bến Tre, cam ngọt Cái Bè... Mà sao lại có nhiều nữ giới quá? Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn... mười một (lời tác giả).

     Gì chớ nhà văn nữ của Miệt Vườn mà Hưng kể nơi chương nầy vừa đẹp lại vừa giỏi mà... dữ (trong văn chương) để có nhiều người mến mộ và trồng cây si:

     Thiên hạ mười phương đã ngất ngư,
     Kẻ mong thành cá, kẻ thành sư.
     Tên bay một phát, chim bầy rớt,
     Khoái chí chưa tề, bớ tiểu thư
.

     (thơ Cung Vũ)

     Phải thú thiệt, tôi đọc chương nầy tới hai lần mới qua chương kế và tôi tin là độc giả khi đọc đến đây cũng sẽ như tôi. Tác giả kể tác phẩm cũng như tâm tánh con người của nhiều cây viết miền Nam đàn em (lời tác giả) nam cũng như nữ, minh bạch, rõ ràng theo khả năng từng người... vậy mà khi đọc xong, cứ phải mơ màng nghĩ tới "bốn con chuột dừa" của Bến Tre và "múi bưởi" Biên Hòa?

     Ðúng là văn võ song toàn như Hưng đã "dám" ghi vào chặng 5. Anh chàng thủy thủ bộc trực ngày xưa chỉ biết có hoa biển và sóng cuộn bạc đầu, thấy sao nói vậy, vậy mà giờ đây nhảy tọt vào văn giới để... đẻ ra tác phẩm văn chương. Chúng ta hảy theo hành trình của nhà võ nầy khi muốn mặc thêm áo nhà văn để thấy tâm trạng nôn nao của người ham "thai nghén văn nghệ."

     Có mang thai thì phải có sanh, rồi nào là kêu Thầy, rước Mụ, ký tên vào khai sanh v.v... bao nhiêu tâm tư lo lắng cho đứa con của mình... Hởi bạn đọc! bạn đang muốn thành văn sĩ có tác phẩm ra mắt bàng dân thiên hạ? Hãy theo Nguyễn Tấn Hưng ở chặng nầy để... rút kinh nghiệm. Bảo đảm không khô khan đâu, hãy đọc mới thấy cái lo của người cha khi đứa con tinh thần chưa ra đời, không biết mặt mũi ra làm sao mà vẫn cứ thấy đời đáng yêu quá chừng (trang 86).

     Nguyễn Tấn Hưng có cái duyên như vậy đó làm cho tôi cứ tiếc hùi hụi, nếu một con giáp về trước, tôi cũng ở tuổi Hưng bây giờ mà không bị Cộng Sản làm cho tha hương, tôi có được diễm phúc như anh: quen nhiều bạn nam nữ có tài danh, có duyên, có sắc? để có dịp viết riêng một cuốn về giao tình giữa mấy bà và tác giả...

     Còn đang tiếc rẻ nghĩ ngợi thì thấy tác giả phân trần: Tìm hiểu về bản sắc và chất liệu của các nhà văn nhà thơ nữ thì nẫm nay "bà già trầu" đã tắm rửa kỳ cọ sạch sẽ hết trơn trên các mặt báo, thì làm sao "ông Trùm" có thể bí mật thò bàn tay ngọc thọc bàn tay vàng vào đó, đặng mà mò mẫm sờ nắn thêm cho được nữa đây? (trang 96).

     À, té ra chuyện viết những "giai thoại hồng" toàn là những nữ văn, thi sĩ (như gánh Phụng Hảo năm 1958, toàn là nữ ban), Nguyễn Tấn Hưng còn thua Phù Lưu thái thái một bước, anh phải nhận là không tài nào viết như máy theo kiểu Hồ Trường An, chỉ đôi ba tháng mà hoàn tất năm bảy trăm trang nhỏ to về các nữ sĩ...

     Nguyễn Tấn Hưng ơi là Nguyễn Tấn Hưng! Tôi đang muốn trách anh chàng "Trùm" nầy cứ loay hoay với đề tài văn học mà hổng dẫn độc giả và tôi "đi," thì đến chương Tây Du. Vậy là như người đang khát mà gặp nước đá chanh, tôi say sưa uống những dòng chữ tả cảnh vùng đất đỏ Arizona, Hưng dẫn chúng ta đến ốc đảo Ðào Hoa, nhà của nữ họa sĩ Thu Hương với sân chim, với tiếng hót trong hoa lá, rồi sau đó đi về hướng Grand Canyon, một trong những kỳ quan thế giới (lời tác giả).

     Tôi không trích dẫn hết cái hay, cái lạ... nhiều lắm, nhiều lắm, do Hưng kể nơi đây, mà chỉ mời các bạn có óc say mê phiêu lưu lại trót mang... kiếp nghèo, không tiền đi du lịch, cứ theo "ké" Nguyễn Tấn Hưng ở chương nầy.

     Ðang rung cảm với thiên nhiên miền Trung xứ Cờ Hoa thì chợt đến chặng đường nói về những tác phẩm Miệt Vườn.

     Chúng ta đã nghe nhiều lời khen, tiếng phê bình về tuyển tập trên 6 tháng nay ở khắp nơi rồi. Nhưng hãy nghe thêm lời chỉ dẫn của Hưng ở chương nầy mà tìm đọc những sáng tác văn chương đó để thấy tình yêu quê hương phảng phất thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt lươn ở một làng gần Cái Răng, một chuyến quá giang trên phà Rạch Miễu, một lần làm rể ở bên nhà vợ, một con sóng ở bãi biển Vũng Tàu, một trái bần chua bên cồn Rồng, một con rắn vú nàng trong gốc tre già, một tuồng hát bội ở Lăng Ông Bà Chiểu, một căn nhà bỏ lại sau lưng, một cô nhi viện ở Sa Ðéc, một đứa em xấu số trong gia đình, một giấc mơ trở thành văn sĩ, một đời làm bầu gánh cải lương, một tâm tình của bà mẹ già lo cho đứa con tật nguyền, một buổi hái cau hay một màn đánh đáo ... (trang 139).

     Cuốn sách nào hễ có đoạn dẫn nhập thì phải có đoạn kết, tôi đọc mải miết Nguyễn Tấn Hưng theo các chặng đường mà lòng thấp thỏm sợ... tới đích rồi chăng. Bởi vì lời văn anh bình dị nhưng đầy đủ vui buồn, lại có tí xíu tếu tếu nên đọc không chán. Ðoạn đường xuống núi của anh cứ chạy phom phom không có viên sỏi, cục đá nào nằm cản lối. Sao mà nó như con tàu lướt trên sóng êm.

     Qua hết vùng đất đỏ khô cằn, đi dần đến vùng Cali, nơi mà chỗ nào cũng phố xá người Việt, bảng hiệu chữ Việt, giao thiệp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ... Sướng chưa? Ðừng dại gì mở miệng nói tiếng Mỹ mà thành nhà quê (trang 141).

     Nghe mà thèm. Nếu có lá me bay bay vai áo thì ngỡ là đang đi trên đường Gia Long, nào phải là Bolsa, phải không Hưng?

     Ông Trùm của một thuở ơi! Tôi say mê theo lời văn chơn chất của anh suốt nữa ngày rồi đó. Nhờ anh, tôi và đọc giả biết mùi của Las Vegas, thiên đường hay địa ngục (?) địa giới, được biết dung nhan và tác phẩm các văn nghệ sĩ miền Nam đang sống xa quê hương. Nhờ anh tôi mới biết xứ dừa Bến Tre có 4 con chuột xinh xinh. Tôi chắc rằng 4 con chuột biết uống nước dừa nầy phải là Chuột Bạch mao, hồng nhĩ, mắt đỏ như cườm, dễ thương như vậy, ai nở đem Ngũ vị hương và Tàu vị yểu ướp vào ăn cho uổng.

     Vậy để cám ơn "ông Trùm" "hải quân" "lái xe xuống núi" nầy, tôi liền ngồi vào bàn để viết gởi sang... không phải lời Tựa mà chỉ một câu: Một lần đi là biết bao lần nhung nhớ ...

Calgary, tháng 5 năm 1991
Phạm Thăng

Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp