Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Một Lần Xuống Núi
Nguyễn Tấn Hưng
Hồ Trường An ơi Hồ Trường An, xin anh cảm
phiền cho tôi lấn anh một cái để xen vô
lãnh vực "giao lưu văn hóa" một chút coi! Anh
phải biết tôi định viết bài này để anh
bớt "đía" về việc làm như... chỉ có mỗi
mình anh là quen hết văn nghệ sĩ Việt Nam. Ðủ
mọi thời kỳ từ tiền chiến, cận đại,
hiện đại, và luôn cả đến hải ngoại. Tối
ngày anh hết
giai thoại hồng
thì lại giai thoại
xanh, hết tâm trạng vàng thì lại tâm trạng
tím. Tôi chỉ muốn làm "người viết mới
tháng này" trong bộ môn hồng xanh vàng tím của
anh thôi.
Câu chuyện phải nói là bắt đầu từ thầy
Từ Mẫn. Số là trong lúc nói chuyện về
một cuốn sách tôi định nhờ thầy xuất
bản giùm, thầy đã khuyên tôi nhiều điều
rất quý giá. Ðại để là trong khi viết văn
phải chú ý, đừng để cho sự ảnh hưởng
của cá nhân mình hoặc miền của mình sinh
trưởng hay đang sống lấn át cái căn bản
của văn chương chữ nghĩa. Ðừng để câu
đối thoại lấn át dòng văn. Chẳng hạn như
trong đối thoại có thể dùng chữ "biểu,"
"... đã biểu anh làm giúp em cái này tại sao anh
không làm?," thí dụ như vậy. Nhưng, chữ
"biểu" không thể sử dụng trong dòng văn, vì
nó đụng chạm với chữ "bảo" căn bản của
ngôn ngữ Việt, tiếng nói chung cho cả ba Miền,
cho toàn quân toàn dân, cho quốc gia lẫn cộng
sản. Rồi cụ thể hơn thầy nói rằng cuốn
sách của Hồ Ðình Nghiêm đã bị những
"thợ đọc" của nhà Văn Nghệ sửa chữa rất
nhiều về lỗi địa phương trước khi
in. Thầy cũng cho biết chính Kiệt Tấn cũng
mắc phải lỗi này (nhưng chẳng biết có
"bị" sửa hay không?). Tôi giựt mình, bèn
hỏi thăm số phần của tôi, số phần của
Một Ðời Ðể Học
. Không biết thầy
"nịnh" tôi ở điểm nào, chẳng lẽ tôi sắp
Vào Thiền
chăng, mà thầy nói ngay rằng
"chưa thấy." Tôi mừng thầm vậy thôi chớ
tôi không tin lời thầy đâu, làm gì một
cây bút miền Nam trật trờ như tôi lại
không phạm lỗi này!
Nhưng cái "khổ nạn" của tôi không nằm tại
đó, mà ở chỗ thầy Từ Mẫn có lòng
thăm hỏi về việc phát hành cuốn sách của
tôi. Tình thiệt, tôi khoe "hình như khả quan
lắm, Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết như
vậy." Nhưng thầy đã làm tôi buồn hiu ngay
sau đó. Thầy bảo "vậy à, ở bên này sách
của anh phát hành chậm lắm." Thôi chết
rồi, không buồn hiu sao được khi mà sách
bán không chạy ở Cali, một trung tâm văn hóa
văn học lớn nhất ở hải ngoại!
Rồi có lẽ kiếp trước tôi khéo tu, căn duyên
nhân quả của tôi chắc cũng được vuông tròn,
cho nên tôi không thèm than trời trách đất chi
hết, mà tôi than thở với anh bạn đàn anh, rằng
"sách của thằng em bán ế qua anh ơi, điệu
này chắc phải dẹp nghề..." Chẳng biết anh
có sợ tôi dẹp nghề hoặc đổi nghề nhảy
ra lo làm giàu thiệt như tôi nói hay không, anh
bèn khuyên tôi vài câu và tống cho tôi một
đạo bùa hộ mạng: Hưng... Ðạo Vương phải
làm như vầy như vầy. Tôi liền làm theo,
đúng như lời căn dặn: gửi mây cho gió.
Ngày anh Bùi Bảo Trúc gọi điện thoại cho tôi trong
sở tôi rất ngạc nhiên và hồi hộp. Ngạc
nhiên và hồi hộp đây không phải chỉ vì nghe
tả cảnh làm việc ở đài VOA. Hoặc là quan
điểm làm việc khách quan của anh đối với
các tác giả, người mới nổi hay kẻ đang
chìm. Cũng như quan điểm làm việc độc
lập của anh ít ra trên bình diện nhà xuất
bản, cái đang hưng thịnh và cái sắp sập
tiệm. Và kinh nghiệm đọc năm ba quyển sách
mới tìm được một cuốn cần phải
điểm..., (cũng nên biết tánh anh Trúc ảnh
nói chuyện điện thoại theo kiểu mệt không
chịu nghỉ). Mà là sự ngạc nhiên và hồi hộp
về thân phận của tôi, của đứa con tinh thần
của tôi. Anh cho biết anh đã mua và đọc sách
của tôi rồi và có chương trình nói về nó
vào trung tuần tháng tư tới. Tôi tự kết
luận suông, như vậy mình viết cũng đâu
đến nỗi tệ, chỉ tại mình không biết
cách bán sách của mình thôi. Hóa ra câu châm
ngôn này của Mỹ cũng chí lý lắm:
It takes
a foul to paint a picture, but it takes a wiser man to sell
it
. Có lẽ sự phát hành không thành công vì
sự quảng cáo không đúng chỗ đúng
mức? Ôi, chữ nghĩa văn chương mà đem
đặt kế bên vấn đề thương mại nghe
ra nó rẻ tiền làm sao, rẻ như bèo vậy.
Cuối tuần đó giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, mới
bay về từ Chicago, lại gọi điện thoại cho tôi
cho biết anh đã nhận được sách tặng và
có nhã ý mời tôi về thủ đô Hoa Thịnh Ðốn
chơi. Ðể luôn thể gặp bạn bè văn nghệ sĩ
trong vùng nhân dịp anh tổ chức buổi thuyết
trình về văn học, với thuyết trình viên là
anh Nguyễn Hưng Quốc từ bên Pháp sang. Ðề
tài và cũng là tựa sách của anh Quốc:
Tìm
Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam
. Tôi trả
lời anh rằng để tôi sắp xếp, rồi nếu
lên được tôi sẽ cho anh hay. Thật ra tôi không
muốn mình làm cái bóng mờ trước một
người dù trong tương lai sẽ là một nhân
tài lớn cho văn học Việt Nam. Nhưng, cuối
cùng hai vợ chồng tôi quyết định cùng đi
vì tôi biết đây là dịp tốt nhất để
tôi có thể gặp hết một lần các anh
chị em trong Văn Bút Miền Ðông Hoa Kỳ. Tôi
không thể bỏ lỡ cơ hội bằng vàng này
được.
Sau khoảng 6 giờ lái xe và 15 phút lạc đường
(quẹo về phía Tây theo exit chỉ qua vùng Springfield
từ xa lộ I-95 theo mạn Nam đi lên), tôi tìm
được nhà anh chị Bích. Người ra cửa đón
tụi tôi không phải là ông bà chủ nhà mới
là lạ. Qua vài câu chào hỏi tôi biết ngay người
mình đang tay bắt mặt mừng là người hiền
(hiền nhân) từ Paris, vì anh Quốc đã đến
đấy từ ngày hôm trước. Tụi tôi kéo nhau
vào phòng khách nói chuyện. Một lúc sau chị Bích
mới ra hỏi thăm và lại mất hút trở
vào trong để... makeup. Như vậy kể ra người
bạn văn nghệ đầu tiên tôi gặp trong đời
là anh chàng trẻ tuổi tài hoa này. Vì hồi xưa
khi còn ở quê nhà, mặc dù tôi có vài lần
ghé báo quán Văn ở số 38 Phạm Ngũ Lão (trong
đó có một lần tôi mặc quân phục tới đòi
tiền nhuận bút), tôi có giáp mặt với một
số anh em tại đó nhưng tôi không rõ ai là
ai, kể cả Trần Phong Giao đang làm tổng thư ký
tòa soạn. Không biết sao mấy ông nhà văn hồi
đó ít nói và hờ hững với tôi quá xá!
Tôi thấy Nguyễn Hưng Quốc là người dễ
làm quen, dễ kết bạn, dễ làm thân qua cách
thức nói chuyện hết sức là bình dân và
cởi mở của anh. Tôi không biết anh có một
cái nhìn tương tự ngược lại cho tụi tôi hay
không. Nếu không được như vậy thì tội
cho tụi tôi quá! Anh cho biết qua
tên thật, tuổi tác và hoàn cảnh gia đình
hiện thời. Cũng như một vài chi tiết về
nơi sinh trưởng, nơi vật lộn với đời
lúc trưởng thành và sự học hành đỗ
đạt, v.v.. Những chi tiết cá nhân này dĩ
nhiên tôi không được phép tiết lộ ra
đây. Phần tôi thì dễ quá, tôi tặng anh
cuốn sách của tôi và đại khái nói như
ngụ ý: đọc đi, văn là người mà lị, cả
cuộc đời tôi nằm hết trong đó đó.
Ngay lúc ấy có thân nhân của anh Quốc tới
thăm. Những người này đang sống tại Hoa Kỳ,
trong số có anh Tuấn, em bà con chú bác với anh
Quốc đến từ New York. Anh Tuấn có mang theo một
cái máy quay phim cầm tay để quay phim video tape
cho anh Quốc làm kỷ niệm chuyến viếng thăm
nước Mỹ của anh. Chắc chắn một trong
những minh tinh thượng hạng trong cuốn băng
đó là tôi.
Anh Bích bận công chuyện chắc còn lâu mới
về. Chị Bích đưa tụi tôi đi vòng vòng xem
nhà. Một cái thư viện thì đúng hơn vì đâu
đâu cũng có kệ sách và sách, tầng chính
cũng như basement. Nói không ngoa, hai ba chục ngàn cuốn
thì có. Xong, chị xuống bếp làm cơm cho tụi tôi
ăn. Món thịt ram mặn, món thịt xào với đậu
dẹp (snow peas) và củ cải trắng, và món canh chua tép
lột vỏ nấu với đậu bắp, khóm và cà
chua. Khác với món canh chua miền Nam, món canh chua
này có mùi sả, có những tép sả chặt khúc dài
độ ba lóng tay bỏ vô làm gia vị. Anh Quốc và
vợ chồng tôi ăn ngon miệng lắm, nói xin lỗi,
không biết vì chị Bích làm món ăn ngon hay là
vì tụi tôi đói bụng.
Khoảng ba giờ chiều thì có anh Giang Hữu Tuyên, chủ
báo
Hoa Thịnh Ðốn Việt Báo
, và anh Ngô Vương
Toại, chủ báo
Diễn Ðàn Tự Do
đến chơi. Ban
đầu tôi tưởng hai anh này tới chơi không thôi
ai dè họ tới chơi có mục đích. Lúc họ bày ra
máy thâu băng cassette loại bỏ túi tôi mới chưng
hững. Làm cái gì đây? Phỏng vấn, họ định
phỏng vấn anh Quốc! Tôi xin rút lui có trật
tự vì thấy mình không hợp với cái ngữ
này. Nhưng hai anh Toại và Tuyên không cho, bảo là:
tới đây thì phải ở lại đây
... Anh Quốc
yêu cầu chỉ xem đây là buổi hội thảo về
thơ, tay tư khơi khơi vậy thôi, chớ đừng cho
là một cuộc phỏng vấn chính thức. Nhờ vậy
lâu lâu tôi mới xía vô một vài điều cho ra
vẻ tay tư. Bây giờ đụng vô thơ, tôi mới
thấy mình thật sự là một cái bóng hết
sức mờ trước một túi thơ có quá nhiều
ngăn như anh Quốc. Trong buổi nói chuyện khơi
khơi này coi vậy mà có nhiều cái hay, những
cái hay mà ngay cả những người đi dự buổi
thuyết trình chính thức của anh ngày hôm sau cũng
không được thưởng lãm. Như bốn sự thay
đổi chính của cộng sản đối với nền văn
học hiện nay trong nước chẳng hạn.!
Cuộc hội thảo đang đi đến phần kết thúc
thì cũng vừa lúc anh Bích về. Anh là một tâm
hồn trẻ, hăng say hoạt động với tiếng nói
điềm đạm và mái tóc đã hoa râm. Tôi xiết
chặt tay anh thân mật chào hỏi. Nhưng, công tác
chính bây giờ là gấp rút chuẩn bị mọi thứ
cho buổi đại hội quần hùng, văn hào thi bá
ngay tối hôm đó. Món ăn chính sẽ không là bê
thui mà là thịt bò (tender loin?) ướp ngũ vị hương
(của Ðại Hàn pha chế?) nướng than (charcoal) ngoài
trời. Có lẽ biết có anh Quốc và vợ chồng
tôi đến nên sau nhiều ngày liên tiếp mưa dầm
gió bấc, ông trời thương tình thưởng cho Hoa
Thịnh Ðốn hai ngày nắng ấm cuối tuần rất
thích hợp cho việc nướng barbecue. Món phụ thì
có bánh cuốn Bắc nhưn thịt, với củ hành
thái mỏng chiên vàng như tôm chấy rải lên
mặt. Thêm món chả lụa và rau cải tươi ăn
sống như cần tây, carrot, cà chua, olive. Ðặc
biệt có nồi canh chua ăn với bún rau sống,
lúc nào như cũng sẵn sàng trên lo than, ăn dài
hạn như ăn bún riêu...
Trong giới cầm bút tại địa phương, người tôi
gặp trước tiên là chị Trương Anh Thụy, đi cùng
với phu quân là anh Long. Chị Bích vồn vã giới
thiệu "đây chị Thụy đây, ối giời ơi,
người ta còn là một nhà thơ đấy, thi sĩ
đấy."
Tôi chào chị
Tôi thấy chị đẹp và hiền
Ðã vậy còn có nốt ruồi duyên dưới cằm
Rồi tất cả chúng tôi cùng đi xuống basement
là chỗ sẽ nhập tiệc, vì sắp đến giờ
thiên hạ rủ nhau kéo đến. Dặn kỹ là sáu giờ,
nhưng bây giờ đã bảy giờ hơn, giờ Việt
Nam vẫn là giờ dây thung. Người đến kế
chị Thụy cũng là một nhà thơ, đồng thời là
một nhà văn: Phan Tấn Hải. Lại hiền, nói năng
chậm rãi hòa nhã. Rồi tới giáo sư dạy võ
Hồ Bửu, to con đạo mạo, nhưng trên gương mặt
tôi nào thấy đao kiếm, roi quyền gì của
Tây Sơn đâu.
Tới phiên anh chị Quỳnh Giao và Dương Ngọc
Hoán. Qua vài câu xã giao tôi thấy chị Quỳnh Giao
có cách nói của một người quý phái,
khác hẳn với anh Hoán. Hình như tôi thấy có
điều gì không ổn, mà thôi chưa tiết
lộ bây giờ được, để dành đó, sẽ trở
lại vấn đề này. Tưởng là gặp bồ nhà
trong đoàn người áo trắng, vì tôi có đọc
bài của Quỳnh Giao trong một số
Lướt
Sóng
. Ai dè chị cho biết chị chưa hề
viết cho báo Hải Quân bao giờ làm tôi... xụi
lơ. Thì ra có nhiều người lấy trùng bút
hiệu Quỳnh Giao của chị. Nhưng nếu nội dung bài
viết có liên quan đến nhạc thì mới có thể
là bài của chị thôi, chị phụ đề thêm cho tôi
rõ. Anh Bích (tưởng tôi không biết) nói Quỳnh
Giao là ca sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước
đây. Không nhớ nổi là đã có lần nào
tôi làm khán thính giả nhìn chị đang hát ở
trên sân khấu hay không, nhưng bây giờ thì tôi
cảm thấy rất hân hạnh được dịp làm quen
và thấy tận mắt người ca sĩ duyên dáng
này. Vẫn trẻ đẹp như thuở nào phải không
anh chị em? Tôi quý chị!
"Thấy mặt là tôi biết ngay, giống cái hình,"
một câu nói vui như tiếng chim sâu văng vẳng
bên tai tôi, trong lúc tôi, anh Long, và anh Bửu đang
phụ ăn (chớ không phải nướng) mấy miếng
thịt chín tới ngoài patio. Người phụ trách
nướng thịt là Giang Hữu Tuyên. Tôi nhủ thầm
giống cái hình trên sách của mình thì đỡ
chớ giống cái hình "the most wanted" thì... "bỏ
mẹ" (nháy theo giọng đãi bôi của ai đây?). "Như
vậy tôi đoán chị là...," "Nguyễn thị Hoàng
Bắc," anh Bích nói thay tôi. "Vậy à, rất hân
hạnh được biết chị." Tôi ngạc nhiên cũng
phải vì chị Hoàng Bắc có nét mặt dễ thương
trong vóc dáng nhỏ con mảnh khảnh. Tôi trau đổi
với chị vài câu xã giao.
Cầm dĩa thịt trở vào trong tôi đi tìm bà xã tôi,
may quá, nàng đang nói chuyện với chị Thụy. Anh
Bích chuẩn bị màn giới thiệu anh Quốc và hai
đứa tôi với mọi người. Khách khứa lúc này
coi như đã tới đông đủ, đứng chật cả căn
phòng rộng. Tụi tôi biết qua anh Ðặng Ðình
Khiết, chủ nhà sách
Thế Hệ
kiêm phó nhòm
đêm nay. Anh Khiết xông xáo, bặt thiệp ra phết,
vậy mà hỏi ra cũng còn độc thân. Ngô Vương
Toại sau màn hội thảo tay tư xin phép vọt đi có
công chuyện riêng, chắc về nựng bà xã, cũng
đã trở lại. Anh Bùi Bảo Trúc thì dễ nhận ra
lắm vì anh cao hơn ai hết. Nhưng cây trúc này hơi
mập và những lá trúc đầu cành lại quăn và
dài tự nhiên như Trần văn Trạch vậy. Rồi
Hoàng Xuân Sơn, hiền lành và bình dân hơn cái
hình trong tập
Viễn Phố
nhiều (cái hình này
trông vừa già vừa
mean
). Rồi đến Ngọc Dũng
với mái tóc trắng nhiều hơn đen. Lẽ ra tôi
phải gọi Ngọc Dũng bằng bác vì anh cùng thời
với Mai Thảo (tôi vẫn gọi ông Võ Phiến, ông
Mai Thảo bằng bác), nhưng thấy lớn nhỏ ai cũng
gọi Ngọc Dũng bằng anh nên tôi cũng gọi anh bằng
anh luôn. Ngọc Dũng ít nói. Chỉ có Nguyễn Mạnh
Hùng là không có một điểm gì đặc sắc
ngoài cái dáng dấp nhỏ con, tép riu, vậy mà là
công thần rất lớn trong vùng. Vì không có anh
thì không có trường đại học George Mason. Mà
không có trường đại học George Mason thì không
có cái trung tâm ra mắt sách khang trang, sang trọng
đó cho dân cầm bút. Dân cầm bút không những
ở miền Ðông, ở Canada mà luôn cả miền Tây
Hoa Kỳ nữa.
Rồi thêm một nhóm vừa tới muộn: vợ chồng
anh Trương Hồng Sơn, vợ chồng chuyên viên tin
tức đài VOA Nguyễn Thiên Ân (em của đại tá Nguyễn
văn Ánh, tham mưu trưởng dài hạn của Hải Quân),
và nhạc sĩ đẹp trai, trẻ tuổi Trần Lãng Minh...
Lợi dụng lúc anh chị em đông đủ, tôi làm một
phát ra mắt sách không kèn không trống. Tôi mang
cả thùng sách ra ký tặng từng người, tặng
luôn mấy đứa cháu con anh Trương Hồng Sơn
mặc dù tụi nó đòi trả tiền. Ðã mang tiếng
Hưng... Ðạo Vương thì lâu lâu cũng phải biết
xài giấy Trần Hưng Ðạo chớ. Tôi theo thứ
tự do anh Bích sắp đặt, hiển nhiên người
nào coi như ngồi chiếu cạp điều mới được
tặng trước (bây giờ tôi quên mất ai tiếp
theo ai), nhưng lần này quả không có vụ nịnh đầm
nữa. Chỉ có một vụ nịnh đầm là trường
hợp của anh Dương Ngọc Hoán thôi. Thuở đời
nay tôi mới viết bốn chữ "Mến tặng anh
chị...," thì anh Bích cho ý kiến... "Quỳnh Giao và
Dương Ngọc Hoán." Tôi phân trần "đã nói anh
chị thì phải để anh trước chị mới hợp
chớ." Anh Bích ngăn "không được, không
được... cứ phải để Quỳnh Giao trước,
không riêng gì chị ấy mà anh ấy vẫn thích
thế hơn." Chết cửa tử cho đấng râu mày,
qua bên này không còn là số một nữa. Nếu
vậy, theo tôi, phải viết lại "Mến tặng
chị anh..." Bởi như tôi đã nói ở trên,
hình như có sự không ổn (hay là rất yên
ôn) giữa hai vợ chồng văn nghệ sĩ này.
Trong lúc đàm đạo, thông thường việc đáng
bàn vẫn là
những sự thực cần được
nói ra
. Ngặt một nỗi chỉ toàn là phe ta
không mới khổ. Chính anh Nguyễn Hưng Quốc
cũng tiết lộ là đã nghe đầy hai lỗ
tai. Còn riêng tôi thì thú thiệt chắc cũng
sắp... điếc. Bây giờ dẫu có ba đầu
sáu tay tôi cũng không dám nói ra những chuyện
này. Những chuyện mà người trong làng hầu
như ai cũng biết, chỉ có tôi thân phận... ếch
ngồi đáy giếng nên chưa biết mà thôi. Không
biết anh Nguyễn Hưng Quốc thì sao, chớ tấm
lòng của tôi vốn mở ra như tờ giấy trắng,
vì đây là lần... xuống núi đầu đời
của tôi. Trang giấy này nay như đã mang những
dòng chữ, rất tiếc có những dòng đục bên
những dòng trong, dù phải đứng bên bờ vực
nào. Ðó có phải là những gì đã làm nên
thơ phú, văn chương? Có hay không có một dòng
thơ văn không trong không đục?
"Bài phỏng vấn trả lời trên
Làng Văn
hay
lắm, nhưng phe đảng quá, nhắc toàn là dân
gốc miền Nam," chị Hoàng Bắc "kê" tôi như
vậy. Tôi biết là chị chỉ nói đùa với
tôi thôi. Nhưng có hay không có một sự phe
đảng trong văn nghệ chớ? Tôi nghĩ là có, nhưng
với cá nhân mà thôi, không phải ở chính văn
chương, thi ca. Trong văn chương, thi ca, theo tôi nghĩ,
người cầm bút đều muốn tiến tới cái
không có Trung Nam Bắc, không có Chúa cũng không
có Phật..., nói chung là không biên giới. Tôi
nhớ đại khái tôi nói với chị Hoàng Bắc "tại
vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến
chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết
đâu sau khi đọc bài này lại có người chẳng
khiếu nại tôi rằng "khi răng mà không bênh mấy
o
lớp lớp phù sa
của mình, ai lại dựa hơi
mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu
nào câu nấy cứ "un point final" bằng... "nhá,
nhá." Thấy chưa chị Hoàng Bắc, lần sau
chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng
thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một
chỗ khác tuyệt vời hơn. Số là tôi kề,
sát quá thành hôn, tai chị và rất thiệt tình
hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?," chị như đi
guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai
gian hả?" Cho tới bây giờ tôi không biết phải
khen chị Hoàng Bắc giữa đẹp với trẻ cái nào
trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con hiểu
lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả
thôi nghen) nói mãi "thành cà rem nước dừa,"
nên xin ngưng bà Hoàng Bắc ở đây đi. Nhưng
trước khi ngưng thì tôi cũng vái trời bà xã
tôi đừng kiểm duyệt đoạn này.
Giờ tâm tình cá nhân lẻ tẻ coi như chấm dứt
khi chị Hoàng Bắc (lại bả nữa) dám nhảy ra làm
thiên sứ đi một vòng phát bánh thánh cho từng
người (Moravian cookies, loại bánh nhỏ như bánh bèo
Búng của Bình Dương, mỏng như bánh tráng Thành của
Nha Trang, chỉ có bán tại tiểu bang North Carolina do tụi
tôi mang lên từ nhà). Vì tiếp theo đó là chương
trình văn nghệ bỏ túi do anh Bích khởi xướng.
Chị Quỳnh Giao được mọi người đồng ý mời
lên hát trước. Chị bắt đầu bằng một bài
thơ của Thanh Tâm Tuyền do Phạm Ðình Chương phổ
nhạc, bài gì nhỉ? À, bài
Ðêm Màu Hồng
,
một đoạn thơ trích trong
Bài Ca Ngợi Tình Yêu
thì phải. Với một giọng ca thính phòng như vậy
và với lối đệm dương cầm như vậy chẳng
trách tại sao chị có cái nhìn lên. Hình như trong
tôi ngoài sự khen ngợi ra còn có lòng mến
phục. Vỗ tay và bis, bis là chuyện đương
nhiên. Chị hát cho anh chị em nghe tiếp bài "Kỷ
Niệm," chỉ tổ làm cho lòng người thêm vương
vấn. Kế đến là anh Trần Lãng Minh với
một bài do chính anh phổ nhạc từ thơ của một
người bạn. Mặc dù sở trường của anh là
Tây ban cầm nhưng với lối đệm dương cầm
đó, theo tôi, anh cũng lả lướt lắm. Tuy nhiên,
có lẽ không muốn phô trương cái sở đoản của
mình (?) anh đệm đàn và ngâm tiếp một bài thơ,
bài
Trở Về
(chỉ tại vì nhà anh Bích không
có Tây ban cầm?). Rồi đến lượt cặp song
ca Quỳnh Giao, Dương Ngọc Hoán hát bài rất đặc
biệt chính... vợ đã dạy chồng từ thuở bơ
vơ mới về. Bài này hay, và tất nhiên sau bao
năm dạy dỗ anh Hoán hát bè, hát chẻ rất
vững. Ðến phiên anh Hoàng Xuân Sơn ca hai bài
với sự phụ họa dương cầm của chị Quỳnh
Giao. Phải nói là anh Sơn ca rất có giọng. Tới
đây, tài năng ca cũng như ngâm đã bắt
đầu... xuống dốc. Anh Giang Hữu Tuyên ngâm
bài
Tôi Thấy Tôi Về
của anh, rồi anh Bích
hát một bài nữa với... vắng bóng tiếng
đàn. Những ngôi sao sáng chói kể như
đã... rụng hết. Sang phần đọc thơ, chỉ đọc
thôi, khởi đầu là anh Bùi Bảo Trúc với bài
Lời Gửi Một Mối Tình 40
. Rồi anh Phan
Tấn Hải đọc tiếp thơ "tiền chiến" của
mình (tại vì thơ "hậu chiến" của anh nhiều quá
nên anh không nhớ nổi?). Buổi hợp mặt chấm
dứt khi anh Nguyễn Thiên Ân từ chối không chịu
làm gì hết kể cả ca... vọng cổ. Và vì
trời đã khuya quá khuya...
Ðêm hôm đó vợ chồng tôi tá túc ở nhà
anh chị Bích, còn anh Nguyễn Hưng Quốc đi theo
mấy người bà con. Ðặt lưng xuống giường
mới hay mệt lã cả người.
Ngày hôm sau, trưa trờ trưa trật tôi mới
đưa bà xã ra nhà hàng Sài Gòn Deli, như đã
hứa. Sài Gòn Deli là quán ăn đặc biệt của
các bạn văn nghệ. Nơi đó, có Ngô Vương Toại
giử két, có Hoàng Xuân Sơn chạy bàn. Giang Hữu
Tuyên và một người bạn mới nữa mới quen
là Nguyễn Ðình Hùng đang... làm khách ăn
sáng. Không ngại ngùng chút nào hết, mấy anh
bạn của tôi bàn chuyện văn nghệ văn gừng,
sách vở báo chí vang rân. Tôi hơi ngượng
với những thực khách đang ngồi xung quanh,
họ lom lom ngó hai vợ chồng tôi quá chừng. Khổ
nỗi bà xã của tôi không ăn được món bún
ốc của người Bắc. Không phải vợ tôi chê
món Bắc, mà sở dĩ không ăn được là
tại vì bộ đồ đang mặc, trắng như tuyết
từ đầu đến chân. Lơ tơ mơ, cô nàng
đã bị hai ba đốm vàng vàng của nước sốt
cà văng lên áo. Rốt cuộc tôi phải lãnh trọng
trách làm láng hai tô. Ý là có báo động,
có đề phòng mà tôi cũng bị vài đốm vàng
văng lên áo. Tôi cũng đang mặc áo trắng. Mới
hay có ăn bún ốc được hay không cũng phải
coi ngày giờ và lựa áo quần.
Nguyễn Ðình Hùng còn trẻ, độc thân nhưng
tóc đã bạc không thua gì anh Ngọc Dũng. Hùng thành
thật, tự nhiên và rất dễ kết thân. Anh dám
lãnh sứ mạng làm tài xế đưa vợ chồng tôi
đi "tham quan" đây đó. Và theo kinh nghiệm cho biết,
cứ giao nhiệm vụ lái xe cho một "thổ địa
thổ công" là an toàn nhất. Vợ chồng tôi rất
đỗi ngạc nhiên thấy khu thương xá Eden trên
đại lộ Wilson không khác gì một trung tâm thương
mãi riêng của Việt Nam, trên xứ Việt Nam. Toàn
là dân da vàng, mắt nâu, mũi tẹt, tóc đen dập
dìu như chợ Tết mặc dù bây giờ là ngày
lễ Phục Sinh. Tôi ghé vào nhà sách
Thế Hệ
của Ðặng Ðình Khiết và nhà sách
Alpha
của
Trần Phùng Linh Duyên. Lần đầu tiên thấy sách
mình bày bán ở tiệm sách, nằm đúng vị trí
của nó, tôi thực sự lấy làm hân hoan mãn
nguyện. Tôi lựa mua mấy cuốn sách và mấy
cuốn vần trong khi vợ tôi lựa hột xoàn và
nữ trang. So hai thứ, rõ ràng văn chương... hải
ngoại rẻ... hơn bèo Mỹ nhiều.
Không hẹn mà gặp, Nguyễn Hưng Quốc cũng mò
vào mấy tiệm sách. Và rốt cuộc, gần đến
giờ diễn thuyết, anh Quốc nhờ Nguyễn Ðình
Hùng đưa tới trường đại học George Mason luôn
cho khỏi lạc đường. Bỏ đám em út đi sau. Biết
giờ Việt Nam vẫn là giờ dây thung, mặc dù
đây là buổi nói chuyện chính thức có giấy
mời và thông báo cho tất cả đồng bào trong
vùng, Hùng vẫn đủ thì giờ đưa tụi tôi trở
về lấy xe và ăn bữa ăn trưa ở Sài Gòn
Deli. Tụi tôi đến phòng hội ít ra cũng còn
sớm hơn anh Ngọc Dũng và phu nhân. Tôi chỉ còn
một chút thì giờ đủ để tặng sách cho anh
Võ Ðình và chị Nguyễn thị Thanh Bình rồi ngồi
vào hàng ghế đầu (tụi tôi "được" anh Bích
xếp ngồi hàng ghế "danh dự" cho tiện việc
giới thiệu).
Nội dung bài diễn thuyết của Nguyễn Hưng Quốc
thì không thể nói hết ra đây được, chỉ phải
đọc cuốn sách của anh là tiện nhất. Nhưng về
hình thức thì rõ ràng anh không thiếu cái phong
cách diễn giảng của một giáo sư đại học Việt
Nam. Tôi không biết phải đọc lại cuốn
Nghệ Thuật Nói Trước Công Chúng
của
Nguyễn Hiến Lê bao nhiêu lần nữa thì mới
nói thao thao bất tuyệt, không cần giấy tờ
như anh. Bởi vậy số tôi từ nhỏ đến lớn
không bao giờ được làm thầy, chỉ được
làm học trò thôi, học cho đến cả một
đời. Có lẽ anh Quốc xài giờ Việt Nam làm
tại Paris nên không có gắn dây thung, anh dừng
lại sau đúng một tiếng đồng hồ để
chuyển sang phần hội thảo và tranh luận. Phần
này hào hứng không kém. Và một lần nữa
tôi mến phục tài xoay sở khéo léo của anh
Quốc khi trả lời những câu hỏi hơi có
phần nặng ký.
Trong phần bổ túc thêm về cái "ta" và cái "tôi"
khác biệt giữa thơ tiền chiến và thơ cận
đại của anh Quốc, anh Võ Ðình đã cho tôi thấy
anh có những nhận xét rất sâu sắc và có tài
hùng biện. Còn chị Nguyễn thị Thanh Bình, nghe
vậy chớ không thanh bình chút nào hết cho những
ai bị chị chất vấn. Chị Thanh Bình trẻ đẹp. Bây
giờ nói ra câu này tôi chỉ sợ bạn đọc
cười tôi là dân nịnh đầm thôi, làm như
hễ là nhà văn nữ thì phải trẻ đẹp. Nhưng
mà tôi nói thiệt. Và lần này khác với
trường hợp chị Hoàng Bắc, tôi khen chị Thanh
Bình trẻ trước đẹp sau. Cái đẹp của người
đàn bà bao giờ cũng rắc rối quá đi
thôi. Tôi thấy chị đẹp ở mái tóc Sylvie Vartan
đen mượt đó. Rất tiếc nếu chị để
dài thêm tí nữa thì Thanh Bình của Xóm Mới
này có lẽ sẽ thành Thùy Trang (nữ ca sĩ trong ban
nhạc Lực Lượng Ðặc Biệt) nhà thờ Núi ngày
xưa, đã một thời hớp hồn tôi.
Well
,
có nịnh đầm hay không là anh Nguyễn Hưng Quốc
kia, anh dám cho chị Nguyễn thị Thanh Bình lên cao
hơn thần tượng thơ, Phạm Thiên Thư, của
chị. Theo anh Quốc, thơ của Phạm Thiên Thư không
có gì mới lạ hết (xin dừng lại ở tập
Ðộng Hoa Vàng mà thôi).
Buổi hội thảo chấm dứt lúc sáu giờ
hơn. Vợ chồng tôi có lẽ là người ở xa
nhất phải về ngay trong đêm. Tôi chỉ nói chuyện
với anh Võ Ðình vài lời rồi phải quay ra lo
chuyện khác. "Cuối tháng tới anh phải lên đây
dự buổi ra mắt sách của Thanh Bình, anh không lên
thì làm sao làm bạn văn với Thanh Bình
được." "Ðể anh chị sắp xếp rồi nếu
thuận tiện thì anh chị sẽ lên" vợ tôi trả
lời thay cho tôi. "Anh lái xe hay chị lái xe? Nhưng
chị phải xúi vô cho ảnh đi, rồi tới nhà tụi
em chơi... À, có ông Mai Thảo qua nữa đó, ông Mai
Thảo viết tựa sách cho anh phải không?" Tôi gật
đầu, "ừa, mình chung một sư phụ hả?" "Anh có
quen anh Nguyễn Mộng Giác không? Anh Giác so với
ông Mai Thảo..." Ấy chết, lại
những sự thật
cần được nói ra...
Hai vợ chồng tôi phải vọt gấp vì trời bên
ngoài đã tối, không kịp bắt tay từ giã
nhiều người. Với sáu tiếng bồng bềnh
trên xa lộ, tụi tôi dự trù sẽ về đến
nhà lúc một giờ khuya. Chẳng biết có nên
khai bệnh nghỉ ngày hôm sau không? Trên đường
đi hai vợ chồng tôi lấy làm thích thú nhắc
lại những gì đã xảy ra trong hai ngày vừa
qua. Tựu trung, tấm thâm tình của anh chị em đã
dành cho anh Quốc và hai đứa tôi thật là sâu
đậm không sao tả nổi. Tôi bỗng có cái cảm
giác như tôi đang thực sự bước vào một
đại gia đình mới. Bây giờ với một số
anh chị em ở đây, và trong tương lai với thật
nhiều anh chị em khác ở khắp các phương
trời. Những người đã tự nhiên coi nhau như
ruột thịt, chân tay thủ túc, mặc dù nhiều
người chưa biết được mặt mũi, tánh tình
như thế nào. Như những khóa sinh của một khóa
sĩ quan chẳng hạn, đúng là huynh đệ chi binh,
sống chết có nhau.
"Chị đoán coi em bao nhiêu tuổi," vợ tôi đưa
đề nghị. "Tôi trông chị khoảng ba mươi trở
lại," chị Bích cho ý kiến. "Còn chú Quốc nữa,
chú đoán xem chị bao nhiêu tuổi nè." "Em nghĩ
chị khoảng hai mươi lăm." "Thôi đi, chú nịnh
vừa vừa chớ, chị hai mươi lăm tuổi làm
sao có con mười tám tuổi được." "Thiệt
mà, trông chị trẻ cỡ đó..." Những câu nói
này làm tôi nở lỗ mũi nhiều hơn là
vợ tôi. Tôi biết vợ tôi nhan sắc dễ coi
bởi vậy tôi hay "xách" đi khoe. Chỉ kẹt cái
vợ tôi ít khi chịu đi chung với... hoàng tử
lọ lem của mình (nói vậy chớ tôi nào có
lọ lem cho lắm phải không?). Sở dĩ vợ tôi
không chịu đi chung với tôi cũng có nhiều lý
do. Thứ nhất là hợp hành ở đâu cũng
vậy, khói thuốc mù mịt, cay xé mắt là chỗ
vợ tôi không thích (chị Bích chắc cũng chạy
làng vụ này luôn). Thứ đến là sự bơ vơ
lạc lõng bên cạnh những tâm hồn đã không
những lớn mà còn nặng về... văn chương
thi phú. Tôi không biết các đấng phu quân của
các văn nghệ sĩ phái nữ có cảm thấy như
vậy hay không? Tội cho vợ tôi quá. May là mấy
chị Hoàng Bắc, Thanh Bình, Trương Anh Thụy, Quỳnh
Giao... có lòng để tâm săn sóc đến. "Chị có
cảm nghĩ như thế nào khi có anh viết văn,"
chị Thanh Bình hỏi vợ tôi như vậy. "Thì cũng
hãnh diện lây vậy thôi..." vợ tôi trả
lời. Câu trả lời này có vẻ khiêm tốn
quá. Thật ra, trong trường hợp riêng tôi
(không biết có trùng hợp với ai khác không),
tâm hồn vợ tôi rõ ràng đã dự phần,
ảnh hưởng đến và lấp lánh trên dòng
"văn chương" (nếu được gọi là văn chương)
của tôi. Chính vợ tôi phản đối và kiểm
duyệt những đoạn tôi định lăm le làm một
Kiệt Tấn thứ hai. "Anh không nên viết như
vậy," vợ tôi rầy. Dĩ nhiên những đoạn
Kiệt Tấn của tôi đã không là Kiệt Tấn cho
nên mới bị cái hậu quả thật là tang thương
đó. Và có lẽ chính vì thế mà một vài
bạn tâm giao chê "văn chương" của tôi viết
hiền quá. Ðành chịu, mặc dù tôi chưa biết
chữ hiền đây là để đối chiếu với
chữ nào: dữ, bạo, trật búa, ác ôn côn
đồ, v.v. Miễn "hiền" mà được tiếp
tục viết là được rồi. Vì từ khi trở
lại với bút giấy mực, hình như tôi hay quên
những công việc sơn nhà, sửa nhà, dọn vườn,
cắt cỏ, rửa nhà tắm, chùi cầu tiêu...
Những gì tôi ghi vội lại đây chẳng qua là
những phút sơ giao cùng bằng hữu mà thôi, cho
nên nếu có gì thiếu sót, hiển nhiên có
rồi, thì chỉ mong anh chị em nghĩ tình bỏ qua
cho. Có lẽ tôi chưa thật sự được thức
khuya nên chẳng biết đêm dài. Nhưng, điều
tôi mong mỏi là đừng ai vì những dòng chữ
này mà tự mình biến thể. Thử hỏi nếu
cắt "tai mũi họng" của chị Hoàng Bắc (danh xưng
riêng của chị đó), thì than ôi Hoàng Bắc còn
đâu là Hoàng Bắc nữa.
Chuyến hành hương đầu đời của tôi đương
nhiên là chuyến đi thành công. Mặc dù trong
chuyến hành hương này tôi chưa gặp Phật
gặp Chúa, nhưng ít ra tôi đã gặp những
người bạn hiền không những mang dáng dấp
tiên phong đạo cốt mà còn chất chứa những
tâm hồn vương lên vượt thoát. Có lẽ tôi
nên bỏ cái am Winston-Salem của tôi để thường
xuyên xuống núi hành hương, cho ngòi bút của
mình được thêm phần chất liệu.
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp