Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Ký Sự Văn Học: Một Lời Mời Mọc

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Mời đọc Trầm Hương Hạnh Phúc 02. Mời đọc Chuyện Miệt Vườn 03. Mời đọc Thơ Luân Hoán 04. Mời đọc Tình Nghĩa Thầy Trò 05. Mời đọc Bên Này Bức Tường Bá Linh 06. Mời đọc Sau Cuộc Ðổi Ðời 07. Kỷ Niệm Với "Sư Phụ" 08. Mời đọc Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc 09. Xuân Vũ, Người Anh Xứ Dừa 10. Mời đọc Tiếng Sóng 11. Mời đọc Việt Nam Lục Bát Sử Ca 12. *****
   back to top

01. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC CỦA HOÀNG DU THỤY

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trước 75, Hoàng Du Thụy có bài viết ở các báo Lướt Sóng, Tuổi Ngọc và một vài tờ báo của các binh chủng khác. Ở hải ngoại, chị bắt đầu cầm bút trở lại với báo Phổ Thông trong năm 86, rồi chính thức được giới thiệu là người viết mới trên Làng Vă n với bài Ðời Ta vào tháng 10, năm 87 và trên Văn với bài Sông Không Ra Biển vào tháng 10, năm 88.

     Sự xuất hiện của Hoàng Du Thụy ngay bước đầu thật ra cũng chẳng gây một tiếng vang nào lớn. Nhưng với loạt bài liên tiếp sau đó đăng trên Làng Văn gồm Bông Hồng Trên Ðường Walkley, Một Ngày Rất Mới, Buổi Chợ Tan, Giấc Miên Trường, Ngày Ðầu Ðưa Con Ði Nhà Trẻ (Thơ) ... và trên Văn với những bài Ðêm Trăng, Chúc Mừng Năm Mới, Ðếm (Thơ), Giá Tình Yêu ... Hoàng Du Thụy nghiễm nhiên là một ngôi sao sáng trên văn đàn. Dù chỉ trong một thời gian rất ngắn.

     Trong lá thư đề ngày 30 tháng 5 1989, Hoàng Du Thụy nhắn nhủ với tôi rằng: Số là do sự xúi bảo của anh, bỗng nhiên Thụy có ý định ra một tập truyện... Sẵn đây, Thụy gửi đến anh xấp bản thảo cuốn TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC , nhờ anh đọc và nhuận sắc giùm. Xong, nếu có thể được, xin anh viết cho Thụy vài dòng giới thiệu...

     Viết bài giới thiệu? Sao lại có chuyện này? Vậy chớ những nhà văn lớn xưa nay vẫn thường hay viết tựa như Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An... đâu, sao không nhờ mà lại nhờ tôi? Thiệt tình, ngoài sự ngạc nhiên ra tôi còn gặp phải cái lúng túng! Vì tôi tự biết thân phận mình chưa đủ lông đủ cánh thì làm sao mà làm chuyện bay bổng như vầy. Tôi viết thư giải bày cùng chị và có thêm một câu thòng: Tôi chưa hiểu rõ ý chị ở chỗ vài dòng giới thiệu là như thế nào... Với khả năng của tôi, có với cao cho lắm thì chỉ viết nổi cho chị cái Bạt mà thôi, coi như là cảm nghĩ của một độc giả sau khi đọc tác phẩm vậy.

     Thư phúc đáp đề ngày 21, tháng 6 1989, Hoàng Du Thụy thân tình cho tôi biết: Chắc mình chỉ xin anh cái Bạt thôi, vấn đề giới thiệu thấy ra không cần thiết cho lắm. Có hai lý do. Lý do thứ nhất là Thụy thích tung tác phẩm mình ra theo kiểu "thả nổi," tùy độc giả phê phán. Nếu có lời giới thiệu, không nhiều thì ít độc giả sẽ bị ảnh hưởng bởi ông hay bà giới thiệu. Còn lý do thứ hai, lý do mà Thụy nhờ anh viết Bạt là... tại vì... Vì sao? Vì văn phong của chị là văn phong miền Nam và tôi là một cây bút miền Nam? Vậy chớ những bậc đàn anh của tôi như Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Sâm... không ai hội đủ điều kiện sao? Nhưng thiệt tình nếu đem tôi ra mà so sánh và chiếu theo công tâm mà nói, rõ ràng các bậc đàn anh này không ai có một tầm mức, kích thước đúng với tiêu chuẩn do chị đề ra, mới khổ. Bởi... tại vì anh là lính biển, mà truyện của Thụy nghiêng về lính biển nhiều hơn. Vả lại, anh là người đầu tiên được hân hạnh làm bạn văn với Thụy đó .

     Thì ra vậy. Số phần tôi dù ở đâu, dù ở lãnh vực nào rồi như cũng có người dành sẵn cho mình một chỗ... đứng. Tôi ngang nhiên có được cái cơ hội học làm người viết Bạt. Kinh nghiệm từ ông Mai Thảo cho biết để rút ngắn lại những đường đất và nối liền lại những xa cách, văn chương vẫn có được cho nó và cho người cái hiệu lực tuyệt vời , cái "hữu duyên thiên lý" giữa những người cầm bút với nhau. Bằng thư từ. Và bằng điện thoại, với một giọng nói rất còn e ấp. Cũng như kinh nghiệm từ Hồ Trường An cho biết phải đọc cuốn sách hai lần mới viết nổi cho Hưng một cái Bạt có hồn . Vậy tôi phải đọc TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC đến bao nhiêu lần đây? Học thuộc lòng luôn chăng? Nói gì thì nói, tôi không lợi dụng việc viết Bạt cho một người bạn để nói lên cái quan điểm rộng lớn của mình đối với văn chương, cũng không trình bày những nhận xét của thầy dành cho học trò hay của đàn anh nói với đàn em như nhiều người đi trước đã làm. Ở đây, dù khen hay chê thì cũng chỉ là những tâm tình giữa một người cầm bút với một người cầm bút, của một bạn văn đối với văn chương của bạn mình mà thôi. Ðó, âu cũng là cái điểm rất hay của sự "thả nổi" vậy.

     Hoàng Du Thụy thuộc dòng dõi hoàng tộc, một Công Tằng Tôn Nữ. Thêm vào những Công Tằng Tôn Nữ đi trước như Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương (Tôn Nữ Hỷ Khương), Công Tằng Tôn Nữ Tri Túc (Cỏ Tháng Giêng), Công Tằng Tôn Nữ Ðoan Trang (Quỳnh Giao), Công Tằng Tôn Nữ Như Ý (Quỳnh Như), Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang (Thanh Nhung)... cho vườn văn nghệ hải ngoại thêm phần hương sắc. Nhưng, Công Tằng Tôn Nữ... Hoàng Du Thụy là một Công Tằng Tôn Nữ mất gốc, một quận chúa chưa hề đặt chân lên đất thần kinh bao giờ. Trong quá khứ có thể nói Hoàng Du Thụy chỉ là một học sinh duyên dáng của trường nữ Gia Long và là một sinh viên có vẻ đẹp mặn mà dễ gây sóng gió của trường Ðại Học Sư Phạm mà thôi.

     Nhưng, đọc xong TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC tôi có cảm nghĩ gì đây? Nhiều lắm!

     Trước hết, TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC gồm mười ba truyện ngắn rất dễ thương, mười ba đóa hoa có sức quyến rủ muôn loài ong bướm xa gần, đã ngoi lên từ tấm lòng bao la của biển. Hoàng Du Thụy, qua mười ba truyện ngắn tiêu biểu này, đã chứng tỏ là một nhà văn có vốn sống rất dồi dào và phong phú về mặt tình cảm. Không riêng gì tình yêu mà luôn cả tình mẫu tử, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình chòm xóm, tình đồng hương, tình nhân loại..., và tình bồng bềnh với chữ nghĩa với mơ mộng gió trăng... đều thoát ra ngùn ngụt trong văn chương của chị. Ðiểm cũng nên biết là ngoại trừ cái truyện ngắn dạt dào yêu thương đầu tiên, Sông Không Ra Biển , đã được giới thiệu trên tập san Văn , mười hai truyện ngắn còn lại chưa hề đăng báo, chưa hề trình làng. Ðiều này cho thấy sức sáng tác của Hoàng Du Thụy rất mạnh, rất vững cho một bước đăng trình dài, đầy hứa hẹn trong tương lai.

     Với lối văn kể chuyện rất giản dị và trong sáng, Hoàng Du Thụy đã dễ dàng lôi cuốn người đọc vào truyện của mình, những truyện có tính cách sống thật như ở ngoài đời. Bạn đọc cảm thấy gần gũi với tác giả hơn qua từng nhân vật, qua từng hoàn cảnh trạng huống đang xảy ra trước mắt như một đoạn phim. Có thể nói bên nam có Kiệt Tấn và tôi, bây giờ bên nữ có chị, thích phơi bày trần truồng cái tôi của mình. Cái tôi thường rất đáng ghét như nhiều người quan niệm, nhưng biết sử dụng đúng chỗ đúng lúc, thì cái đáng ghét kia đôi khi lại thành cái dễ thương. Cũng như tôi cảm thấy gần gũi Nguyễn Xuân Hoàng với Tự Truyện Của Một Người Vô Tích Sự hơn là những truyện khác của anh. Hoặc với một Nguyễn Ý Thuần cũng vậy, Người Lính Còn Lại . Chỉ khác Kiệt Tấn và tôi ở điểm là Hoàng Du Thụy đã cố tình gói ghém và đưa cái tôi của mình vào nhiều nhân vật chính khác nhau, trong nhiều không gian và thời gian khác nhau. Tuy nhiên, với một cái khéo nhìn, người đọc sẽ nhận ra ngay. Bởi vậy mặc dù không hoàn toàn là tự truyện, truyện của Hoàng Du Thụy mang nặng tính chất tự truyện. Và chính cái tính chất tự truyện chân thật đó nó đã tạo nên giá trị cho quyển sách.

     Hoàng Du Thụy là nhà văn có khiếu viết về truyện tình. Dựng lại những mối tình xa xưa cũng như làm nên những mối tình thời đại. Nhưng, những tình tiết và những xảy đến trong các truyện tình này đều không thể tìm thấy trong mấy quyển tiểu thuyết viết theo kiểu feuilleton . Vì nó sống thực. Vì nó không là hư cấu, tưởng tượng. Trong mười ba truyện, hết sáu truyện đã là truyện tình. Và với một tâm hồn lãng mạn và dám sống, Hoàng Du Thụy bằng một diễn tả trân trọng và thiết tha, đã đưa độc giả vào tuổi tình yêu vụng dại, hồn nhiên của thời học trò ( Sông Ơi, Chảy Về Ðâu ), vào những lần đùa giỡn với tình yêu cùng những anh chàng lính tàu trong thời trái chín ( Sông Không Ra Biển Chuyện Kể Sau Mười Lăm Năm ), vào những theo đuổi, tìm tòi, cân nhắc trong già dặn tình đời nơi xứ lạ quê người ( Cánh Cửa Chưa Khép Kín Màu Quan San ), cũng như vào một lần nào đó đã bị lợi dụng trân tráo trong cảnh buôn bán chợ trời ở Việt Nam ( Vết Chàm ). Truyện tình của Hoàng Du Thụy nhìn chung không mấy gì thác loạn, chỉ là những khơi khơi buông thả theo dòng đời. Nhưng, theo tôi, những chuyện tình này rất đẹp. Ðẹp như những gì còn sót lại, cô đọng lại thành một kỷ niệm khó quên, của một thời sống qua trong tuổi tình yêu mà chúng ta ai ai cũng có. Giọng văn cũng chừng mực, tự chủ, kìm giữ không cho bị cuốn hút vào một xô đẩy nào của tâm hồn. Vậy mà cảm động. Và cái đẹp là sự thu tròn lại, không cho rớt xuống của một hạt lệ long lanh. Truyện tình viết được như thế là hay . Chính ông Mai Thảo đã có lời khen như vậy.

     Hoàng Du Thụy là nhà văn thích lăn xả vào cuộc đời. Bằng những kinh nghiệm sống có thể từ chính bản thân mình, chị viết lại những sinh hoạt bên lề xã hội một cách rất trung thực. Trong số mười ba truyện ngắn, gần phân nửa đã bắt đầu từ một bối cảnh Việt Nam và kết thúc trên xứ người, Canada. Cảnh sống quê nhà sau 75 hiện ra mồn một. Một cách tang thương, tủi nhục. Nhưng chị không hề chĩa mũi dùi vào chế độ và bọn cầm quyền, chị chỉ đưa ra những hậu quả não nề mà người dân phải chịu. Bằng hình ảnh những tên sinh viên ba mươi nhảy ra lên lớp làm trò hề trong các trường Ðại học ( Truyện Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ Quên Ché Sấm ). Bằng các vụ lường gạt tận tình của bọn đầu nậu vượt biên. Sự tán tận lương tâm không những xảy ra trong xóm giềng thân thuộc với nhau ( Truyện Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ Quên ) mà luôn cả cho những người tù cô thế vừa mới được thả về ( Lòng Tin ). Bằng những ân oán giang hồ trên đất chợ trời đã dần dà trở thành như một phong tục mới ( Vết Chàm ). Bằng những tính toán, lợi dụng không tình người trong những gia đình có cảnh Bắc Nam sum hợp trong Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ( Nữ Sanh Ngoại Tộc ). Và bằng cái cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con, chờ cháu. Những đứa con vượt biên đã ra đi không bao giờ trở lại, cũng như những đứa cháu mới sinh ra trên đất người không bao giờ được thấy mặt ( Cho Buổi Chiều Sắp Tắt ). Với ngần ấy hỗn độn của sân khấu cuộc đời, vụt đến sau cuộc đổi đời, đã được Hoàng Du Thụy diễn tả sắc nét ở mọi phương diện. Bởi chị là nhà văn sành tâm lý, không những ở người trẻ kẻ già mà luôn cả nam lẫn nữ nữa.

     Ðêm Chong Ðèn là một tùy bút viết về một ngày trôi qua cho một tâm hồn trơ trọi nơi đất lạ quê xa, gợi ý từ một cơ hội bất ngờ đã dẫn dắt tác giả đến giây phút được phải chong đèn, say sưa đọc quyển Ðêm Chong Ðèn của Hồ Trường An.

     Và sau cùng, Trầm Hương Hạnh Phúc là một kết cuộc rất tuyệt vời, rất nên thơ. Của một gia đình nửa chừng xuân nói chung và của một người cầm bút nói riêng. Tâm sự thầm kín của một người vợ, người mẹ là sự lén lút dấn thân vào văn chương, lấp lánh trong toàn bộ tập truyện, đã được giải tỏa một cách tốt đẹp nhẹ nhàng như những vần thơ ru con. Một mình cặm cụi sáng tác trong âm thầm che dấu, nhưng rồi cũng có ngày bộc lộ ra. Vì đã đến lúc cần phải chứng tỏ cho người bạn đời, cho đấng phu quân của mình biết qua một điều. Thế nào là nỗi vinh hạnh của một người đàn ông đang nắm trong tay mình một trái tim mộng mơ quyến rủ của một nhà văn nữ... Thử hỏi ai dám nói đây không phải là tự truyện của Hoàng Du Thụy?

     Bây giờ, nếu đi sâu vào chi tiết thì tác phẩm nào lại không có những đoạn văn bóng bẩy, trong sáng, gây xúc động trong lòng người đọc đáng trích dẫn làm bằng, cũng như những đoạn văn rườm rà, tối nghĩa độc giả đọc lên đôi khi không hiểu ý tác giả muốn nói gì, gởi gấm tâm sự mình cho ai... Nhưng tôi không thể làm việc điểm sách trong khi viết Bạt được, cho nên chỉ biết nhường chỗ cho bạn đọc lướt qua cánh cửa vừa hé mở, bước vào một thế giới mới có hoa thơm cỏ lạ của vườn văn.

     Lời nói sau cùng của riêng tôi với Hoàng Du Thụy, TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC tuy là tác phẩm đầu tay nhưng là tác phẩm để đời của một nhà văn nữ.

     Winston-Salem, NC, vào Thu năm Kỷ Tỵ

   back to top

02. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN CHUYỆN MIỆT VƯỜN CỦA HỒ TRƯỜNG AN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Xưa nay, Tựa hay Bạt thường do những người đi trước viết để giới thiệu những kẻ đi sau. Nhưng dạo gần đây, nhiều người đi sau cũng hay viết Bạt cho những người đi trước. Bởi lẽ, ngoài phần giới thiệu, còn để ghi lại một thân tình, một kỷ niệm giữa những bằng hữu thâm giao.

     Với Hồ Trường An, vợ chồng chúng tôi có cái may mắn được gặp anh một lần tại tư gia nhà văn nữ Nguyễn thị Thanh Bình. Một đêm hội ngộ thì đúng hơn, vì cùng với gia chủ, chúng tôi bàn luận chuyện văn chương, đấu láo chuyện trong làng đến gần sáng trắng mới chịu tan hàng đi ngủ. Tuy một lần thôi mà từ đó anh em chúng tôi đã coi nhau như đào viên kết nghĩa. Ðó cũng là lần duy nhất cho đến nay, Hồ Trường An đã đến Hoa Kỳ, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, nhân dịp buổi ra mắt sách Giai Thoại Hồng của anh, do Trung tâm văn bút Miền đông bảo trợ. Có lẽ chính vì vậy mà sau Nguyễn Ngọc Bích, Thích Như Ðiển, Võ Ðình, Võ Phiến... thì đến phiên tôi, riêng tôi, được cái hân hạnh viết vài dòng cho tác phẩm của anh chăng?

     Cũng đồng thời với văn phong miền Nam, điểm chung; nhưng, những cây bút miền Nam đều có vị trí riêng biệt của mình vì nếp sống và suy tư của họ không giống nhau, điểm riêng. Lê Bảo Trân, Phạm Thăng, Xuân Tước... nghiêng về phong tục tập quán và tâm tình người dân miền Nam; qua các anh, độc giả sẽ tìm được đời sống và kiến thức của dân quê miền Nam thời trước. Anh Vân, Hải Bằng, Võ Kỳ Ðiền, Xuân Vũ... cũng diễn tả về xã hội miền Nam và đời sống dân miền Nam nhưng thiên về chống Cộng, chống Xã hội chủ nghĩa. Hứa Hoành, một mình một cõi, với sử ký và địa lý lồng trong văn chương nhằm ghi lại những địa linh, những nhân kiệt, những chứng tích đậm nét ở miền Nam. Nguyễn văn Sâm, Trần Long Hồ... như cố đi tìm những khắc khoải, suy tư qua hình ảnh người dân miền Nam trong nếp sống thị thành lẫn nơi thôn dã. Những người còn lại, cũng rất quen thuộc với độc giả, như Cao Bình Minh, Hoàng Du Thụy, Huỳnh Hữu Cửu, Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn thị Long An, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn văn Ba, Phan thị Trọng Tuyến, Phùng Nhân, Sĩ Liêm, Trần Kim Vy, Trần thị Kim Lan, Vũ Nam, Ý Ngôn... đều có ít nhiều kể lại những buồn vui, những riêng tư, những xâm nhập từ ngoại cảnh, những bộc phá từ nội tâm của mình.

     Ðặc biệt hơn hết, ở cõi văn chương của Hồ Trường An, chúng ta lại rơi vào một thế giới khác, rất khác: thế giới của đàn bà, rất đàn bà miền Nam. Ở cõi văn chương đó, khi độc giả đọc Hồ Trường An nghĩ sao tôi không biết, chớ riêng tôi, tôi cảm thấy chung quanh mình quây quần bởi một bầy tiên nữ lẫn lộn với một đám hồ ly tinh. Kẻ lẳng lơ mơ mộng, người hiền thục dịu dàng. Kẻ chằng ăn trăn quấn, người chân chỉ hạt bột. Kẻ nhanh nhẩu liếng thoắng, người cục mịch quê mùa. Kẻ ngồi lê đôi mách, người ít nói nghiêm minh... Với tôi, ai cũng đáng yêu hết. Và tất cả đều được xây dựng trên nền tảng gia đình thân tộc, đất nước quê hương thắm đượm tình người.

     Nhưng, đó chỉ là nói đến những người như tôi, đã đọc và biết qua văn phong của Hồ Trường An; chớ còn ai đó không cần biết Bắc Trung Nam, đàn ông hay đàn bà, người già hay kẻ trẻ mà mới đọc anh lần đầu, tác phẩm đầu, quyển sách đầu thì chắc chắn họ sẽ bị anh mê hoặc, hớp hồn bởi lối diễn tả tinh vi tỉ mỉ nhưng phong phú và hấp dẫn về những son phấn lụa là, áo quần nón nảy, màu mè kiểu vở, nữ trang vòng vàng, hoa quả cây kiểng, bánh trái món ăn... Ai cũng bị giọng kèn tiếng quyển của văn chương anh làm cho say sưa, no đủ như chung quanh mình không thấy thiếu một thứ gì trên cõi đời này. Tác phẩm anh, theo tôi, có thể là những liều thuốc an thần rất tốt cho những người đang sống lây lất trong thế giới cộng sản, xã hội chủ nghĩa ngày nay. Không cần cao lương mỹ vị gì hết, chỉ cần "giáo đầu" bằng mấy con mắm thôi (truyện ngắn Lửa Hương Ðêm Tìm Lại ), thì cũng đủ thèm chảy nước miếng và "nhức nhối" lắm rồi:

     Sống vùng quê gần vòng đai thành phố, con cá lá rau có sẵn, vợ chồng em đề huề hưởng thú điền viên. Gần Tết em mua cá cơm để làm mắm nêm, mắm phệt, mua cá linh để làm mắm cá linh bán lai rai trong vùng và bán cho vùng lân cận. Món nem cá cơm của em do bà ngoại em truyền lại làm dân trên tỉnh mê lắm, tìm tới để mua về nhà ăn với bún, thịt phay, rau xắt ghém. Em còn làm món mắm tép chua trộn đu đủ. Món nầy làm bằng tép bạc còn sống nhảy loi choi, chớ bằng không, dùng tép đã chết thì kể như hỏng nặng. Con tép còn sống thả vào rượu nếp hương thì thịt nó ngã nên màu hường như san hô. Khi được ướp muối, cùng tỏi, riềng thì toàn thân con tép dậy lên men dần dần, ngon nhức nhối, màu hường san hô khi lẫn vào đu đủ chín hườm xắt chỉ vẫn còn giữ sắc thắm nguyên sơ trong keo, trong hũ thủy tinh trong vắt. Nhờ chút hoa tay làm mắm mà em kiếm bộn tiền song song với huê lợi ở ruộng vườn.

     Tác phẩm Chuyện Miệt Vườn của Hồ Trường An gồm: Lửa Hương Ðêm Tìm Lại; Xuân Trắng Vườn Mộc Lan; Trầu Xanh Cau Thắm; Tình Ghen Thôn Dã; Sông Lũ Suối Hiền; Xuân Tết Vợ Chồng; Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng; Chiếc Vòng Bát Bửu; Thuở Nguyên Ðán Tươi Hồng; Thai Nghén; Học Trò Mụ Hoạn; Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân; Tên, Thứ, Hỗn Danh; Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi; Hai Nàng Ca Sĩ; Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái . Trong đó, xen kẽ với những truyện ngắn, Tình Ghen Thôn Dã; Chiếc Vòng Bát Bửu; Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân; Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái là những kịch thơ có tầm vóc.

     Tôi nghĩ anh Hồ Trường An chắc đã có dụng ý gì đây khi trao tuyển tập truyện ngắn và kịch thơ này cho tôi, một dân miệt vườn tầm thường như mọi dân miệt vườn khác, viết Bạt. Vì tôi thấy hình như anh đang chọn lọc toàn những truyện độc đáo, những kịch thơ giá trị để đóng lại thành một cuốn sách để đời. Với tôi, xúc động hơn nữa, vì phần lớn những sáng tác này được lấy bối cảnh trên phần đất Mỹ Tho, quê hương của tôi mà cũng là quê ngoại của anh. Những địa danh Trung Lương, Ðạo Thạnh, Ðạo Ngạn, Bến Chùa, Vĩnh Kim, Xoài Hột, Cai Lậy, Cái Bè... rất gần gũi thân thương. Rồi từ đó anh mới đưa tâm tình mình băng qua kinh Chợ Gạo chạy xuống Gò Công, vượt dòng Tiền Giang xuôi về Vĩnh Long, quê nội của anh, lần qua sông Hậu thẳng tới ruộng đồng Cần Thơ, Rạch Giá... Và, hiển nhiên, nào có thiếu Sài thành hoa lệ. Nhứt là Sài thành hoa lệ trong thời Ðệ nhị thế chiến, thời bảo hộ Pháp phồn hoa giả tạo sắp đến ngày tàn (truyện Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi Hai Nàng Ca Sĩ )... Ðã thiệt! Có phải vì vậy, thêm một lý do nữa, tôi được anh dành cho cái hân hạnh viết vài đòng về tác phẩm Chuyện Miệt Vườn của anh?

     Cách dựng truyện của Hồ Trường An xem ra thật rất dễ dàng. Cốt chuyện hầu như không đáng kể. Vì lắm khi chỉ dưới dạng thức một bức thư, một lời tâm sự, một độc thoại một chiều... cứ cho nhân vật của mình thao thao bất tuyệt kể lại chuyện đời riêng tư cùng với một người chị dâu hay một cô em chồng, hoặc một người bà con đang sống ở xa. Nhưng mà rồi đủ hết, nhờ cái nọ xọ cái kia, dây cà ra dây muống. Trong đó, nào là tình cảnh gia đình, cha mẹ, anh chị em, cô bác, láng giềng, chòm xóm cho đến những đám cưới đám hỏi, những ngồi lê đôi mách, những tai vách mạch rừng, những nấu nướng lửa củi, những ăn trưa ăn chiều, những tắm rửa giặt giũ... Ôi thôi, rất là đàn bà, hơn cả đàn bà, đọc thét chỉ sợ... đầu óc, suy tư của mình và của độc giả nữa chớ, rồi lại phải hóa ra... đàn bà luôn!

     Ðây, thêm một đoạn làm quà, dưới ngòi bút Hồ Trường An trong truyện Thai Nghén , cái ăn uống hùng dũng, hung bạo của mấy bà ốm nghén (hai chị em bạn dâu, trong trường hợp này) đang cơn thèm mà bị bà già chồng ra lịnh ăn chay cầu phước cho con, đã như thế này:

     Hai cái gỏi cuốn chấm tương trộn tỏi ớt chưa đã đâu. Cho thêm hai cái bì cuốn nữa đi bà Năm. Chà, nước mắm ớt đệm dưa kiệu xé nhỏ trông ngon mắt quá! Chưa thấm tháp gì sau khi ăn hai cái bì cuốn. Thôi thì cho con mãng xà nầy một tô bún bò xào đi. Có xá xị đó không? Cho một chai đi, nhớ cho thêm nước đá nghen. Thịt bò xào củ hành, sả ớt, đã thơm điếc mũi, lại còn thêm mùi đậu phọng rang giã nhỏ nữa. Ủa, tui mới vừa lủm vài miếng mà tô bún hết mau quá. Thôi thì bà Năm cho thêm cái bánh xèo, nhớ lấy thêm rau sống, dưa leo. Ý chu choa, bụng mình bắt đầu nặng như chiếc ghe chở khẳm rồi đây. Mình ăn như La Sát, Chằng Tinh. Cái miệng mình là miệng cá mập, cá xà, nhưng cái bao tử của mình thì có giới hạn. Ngày mai mình sẽ ra đây tìm ăn bánh cống, ăn mì, hoành thánh, cháo thập cẩm... ăn cho tới tán gia bại sản, bán chồng đợ con luôn... Chỉ có một bữa ngả mặn mà óc hài hước của mình bắt đầu khai triển giống như óc đức ông chồng trời ơi đất hỡi của mình. Bây giờ mình no cành hông, mình yêu đời quá! Kìa có hai chiếc nem chua, để làm chi cho xốn mắt? Bán luôn cho con mẹ chửa nầy đi bà Năm. Bộ bà chê tui ăn không nổi nữa hả? Nè, bà coi nè... Hôm nay tui ngã mặn mà. Tui ăn ngoạn mục, ăn hào hùng cũng như Tống Giang, Lý Quỳ ăn thịt trâu, uống rượu vậy. Một khi đàn bà chửa ăn hàng, tức là đứa con trong bụng mẹ cũng được ăn luôn. Bởi vậy tui mau đói lắm. Hổng chừng chút nữa tui quay trở lại "ních" thêm một chục bánh khọt cuốn rau sống, chấm nước mắm cay, hoặc tui "khỉa" thêm vài cuốn chả giò. Tui không ăn thì thôi, chớ một khi mà nhúng mỏ vào rồi thì tôi ăn như tằm ăn lên, tui táp nuốt như heo nái táp cám sú trong ảng vậy.

     Tiếp theo việc đẻ chửa thì, đối với đàn bà, không gì khác hơn là chuyện ghen. Mỗi người ghen một cách, kẻ dữ dằn như sư tử Hà Ðông, người hiền lành như Ma Sơ, nhưng vào lúc đó tất cả đều trở nên trầm tĩnh, mưu mô, xảo quyệt. Tuy nhiên, kết quả của chuyện bắt ghen, đánh ghen đôi khi cũng cười ra nước mắt như trong truyện Học Trò Mụ Hoạn (Hoạn Thư nói rõ hơn):

     Mỹ Phẩm như cây chuối bị đốn ngọt, ngã rạp xuống. Vợ viên đại úy ré lên:

     - Quỉ thần thiên địa ơi, chị nầy té xỉu trên đống cứt chó rồi. Ði bắt ghen kiểu nầy coi bộ xệ quá xá.

     Mặt Mỹ Phẩm trắng bệch bạc, mắt nhắm nghiền. Một mụ bành kéo nàng ngồi dậy. Một mảng phân chó dính sau lưng chiếc áo dài màu xám vảy cá thu của nàng.

     Trong khi đó vợ Hai Pháp đâu có thì giờ săn sóc, khuyên nhủ em dâu của mình? Chị xông tới thằng chồng dâm bôn và người đàn bà lạ. Hai Pháp cả kinh vớ lộn chiếc quần sa-teng của mụ tình nhơn mặc vào rồi chạy vô đám lau sậy. Mụ tình nhơn bình tĩnh hơn, với chiếc quần tẹc-gan của Hai Pháp mặc vào chạy theo sau, không quên ôm theo mớ quần áo giày dép. Họ lủi vào đám sậy rộng minh mông. Vợ Hai Pháp hò hét lũ bạn rượt theo, nhưng họ chỉ dám xông vào đám bắp. Và trước cảnh tượng khôi hài đó, họ ôm bụng cười lăn, cười tróc mỡ bụng, chảy nước mắt, không nghĩ tới việc truy nã Năm Lịch và cô bồ nhỏ của anh ta.


     Văn chương Hồ Trường An là văn chương chuyện kể, nhưng sở dĩ không khi nào độc giả cảm thấy đơn điệu hay phát ngán là tại vì những phần chuyện kể đó được nối liền với nhau bằng một chất men ướt át cảnh tình. Chính những đoạn văn tả tình, tả cảnh lấp lánh lung linh trong sáng đó đã làm cho văn chương anh trở nên có hồn, có thần, có khí phách. Rải rác ở khắp mọi nơi mọi chỗ, chúng ta luôn luôn bắt gặp hàng hàng lớp lớp những dòng chữ tiêu biểu tuy ngắn ngủi, gọn gàng nhưng đánh mạnh vào con tim người đọc. Những dòng chữ mà (lấy trong truyện ngắn Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng làm thí dụ), theo tôi, không thể nào không làm độc giả sững sờ, ngẩn ngơ:

     Một năm qua, thơ từ đôi bên trao đổi với nhau thưa thớt. Giờ đây, nhìn cây mai đơm những chấm nụ nhỏ như mũi kim đan áo, cô Tư Tuyết Nga cảm thấy giấc mộng lứa đôi của mình tuy có hồng hào nắng mới, nhưng hy vọng của mình thỏn mỏn tàn phai như ánh tà dương...

     Rồi ca dao, truyện tàu, sách tướng, tuồng vọng cổ, tuồng hát bội, sách nghiên cứu đồ cổ, sưu tầm dĩa hát xưa, v.v. tất cả đều nằm gọn trong trí nhớ của anh. Chính những thứ này đã giúp cho anh có một kiến thức sâu rộng bao trùm lên nhiều lãnh vực, địa hạt mà đôi lúc, anh không ngần ngại đưa luôn vào truyện mình (trong Trầu Xanh, Cau Thắm ), cho nhân vật mình lên tiếng làm nũng với chồng như vầy:

     Giọng cô Tư Bé (trong dĩa hát) nhõng nhẽo, dễ thương chi lạ. Khi vừa chạy dứt mặt dĩa thì thầy y tá Cảnh về tới. Cô Hai Phụng Kiều trước đó đã để dành sẵn mâm rượu thịt tươm tất cho chồng. Thầy Cảnh vừa cởi giày, tròng đôi giép vào là cô múc thau nước mát, chìa tấm khăn thơm sạch cho chồng rửa mặt. Cô bắt chước giọng cô Tư Bé (trong dĩa hát) để hỏi chồng đánh xập xám ăn hay thua:

     - Muôn tâu bệ hạ, vừa thấy bệ hạ nhập thành thì lòng thiếp vui mừng không xiết kể. Chẳng hay trận tiền đối chiến với Châu binh, thắng bại lẽ nào vậy a bệ hạ?


     Một đoạn văn độc đáo khác của Hồ Trường An nhằm diễn tả những giọng hát "quỉ khốc thần sầu" của thời đại 20 câu vọng cổ năm xưa (chớ không phải 6 câu ngắn gọn như bây giờ), đã từng vang bóng một thời với những hãng dĩa Pathé, Béka, Asia (truyện Hai Nàng Ca Sĩ ):

     Giọng hát của Năm Hảo Phối lạ lắm, sang sảng mà nhừa nhựa, hát theo dây lòn theo nghĩa tầm nguyên là dây chui theo dây đờn bà, tức là dây dành cho đờn bà hát. Hễ kép nào ca vọng cổ chung với Năm Hảo Phối, tới phiên đương sự hát là nhạc công phải đổi đờn bắt sang dây dành cho đờn ông, phải lên cao cung bậc, nếu không, đương sự hát nghẹt hơi nghẹt họng. Năm Hảo Phối vốn có cặp mắt xanh, biết giá ngọc. Qua thân hình khô khan như cái mo cau của con Lài, y ta bắt gặp một nhơn dáng rất thơ, rất nghệ thuật. Và giọng hát của con nhỏ là một chất thép quí báu có thể đúc rèn nên thanh gươm trứ danh. Y chỉ cho con Lài những cái lắt léo của nhịp nội, nhịp ngoại, song lan. Y giảng cho nó biết cách sử dụng hơi, phải bào mỏng làn hơi cách nào, lúc nào trong câu hát, phải hát cách nào cho tiếng thêm vang lộng và nẩy bật những âm hưởng làm tê điếng người nghe, và phải hát thế nào tạo nên một cảm giác chơi vơi cho thính giả với từng thoáng đồng vọng như từ cõi xa xăm đưa về.

     Và thỉnh thoảng có nhiều bức thư viết rất hay, ngôn từ chí lý, ân oán tỏ phân (nhất là trong truyện ngắn Xuân Tết Vợ Chồng ). Tôi nghĩ độc giả, nhất là độc giả đàn bà, dám có người sẽ sử dụng những bức thư này như một thứ kim chỉ nam, để viết thư cho bạn bè, bằng hữu và những người thân lắm!

     Bước sang lãnh vực kịch thơ, nếu không mất nước, với các màn kịch thơ của Hồ Trường An, chắc hẳn sẽ có một cải cách lớn trong làng sân khấu trình diễn kịch thơ của miền Nam, nối tiếp theo dòng kịch thơ gây tiếng vang từ miền Bắc, với những ngôi sao soạn kịch thơ sáng chói trong thời tiền chiến như Trần Tử Anh ( Nửa Ðêm Truyền Hịch ), Thao Thao ( Quán Biên Thùy ), Nguyễn Bính ( Bóng Giai Nhân ), Vũ Hoàng Chương ( Vân Muội ), Khái Hưng ( Tục Lụy ), Hoàng Công Khanh ( Bến Nước Ngũ Bồ ), Bình Nguyên Lộc (trong Tâm Trạng Hồng )... Rấc tiếc, sân khấu và kịch thơ không có đất dụng võ ở hải ngoại, không thể đương đầu với những show nhạc vàng, nhạc rock-and-roll, nhạc new-waves. Tuy nhiên, nếu ở truyện ngắn không đặt trọng tâm vào cốt chuyện, ở kịch thơ, cốt chuyện lắm lúc gây xúc động bất ngờ. Như vở Chiếc Vòng Bát Bửu chẳng hạn, bà mẹ chồng dùng "chiếc vòng vàng chạm hình bát bửu" để thử thách ba nàng dâu, bằng cách ra cuộc thi thêu mặt gối và ai thắng sẽ được tặng làm quà. Nhưng kết cuộc lại như sau:

     Bà Phủ Thọ (vui vẻ):
     Má mừng chẳng biết nói sao
     Ba dâu tương ái trước sau một lòng

         (mở chiếc hộp sơn son thếp vàng lấy thêm hai chiếc vòng)

     Thiệt ra má có ba vòng
     Thưởng lòng hiếu thảo, nữ công sá gì
     Má già như bóng tà huy
     Nay còn, mai mất, âm ty sẵn chờ
     Mừng nhà chia sớt ấm no
     Vui cảnh hòa thuận, trước giờ buông xuôi
     Con Hai, con Ba, bớ bây
     Cùng con dâu Út xòe tay nhận vòng


     Nhìn chung, kịch thơ của Hồ Trường An mang sắc thái những câu ca dao, câu hò miền Nam nhưng có ngụ ý. Ca dao nào lại không ngụ ý, có phải? Chúng ta có thể xem đây là những bài ngụ ngôn văn vần, để răn đời hay diễn tả những tình cảm chân thật hiền hòa, những cách tỏ tình dung dị mộc mạc của trai tốt gái lành quanh năm sống ở miền quê sông nước phù sa.

     Trong một bài viết ngắn, quả thật, không cách gì nói lên hết được những cái hay cái đẹp của một quyển sách ba bốn trăm trang.

     Giờ, nếu đi xa hơn một chút nữa, nên nói thêm về triết lý sống trong văn chương Hồ Trường An. Với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi có thể nhận ra hai luồng tư tưởng chính. Thứ nhất, tác phẩm Hồ Trường An đã đưa ra cái triết lý sống, cái nhân sinh quan của người miền Nam. Một cách sống, một cách nhìn rất gần gũi, rất hòa hợp với thiên nhiên và tư tưởng Lão Trang. Cái tính xuề xòa, bộc trực, đói ăn khát uống, không thích đẻ ra lắm việc phải làm của người miền Nam, há không phải là sự kết đọng của nguồn tư tưởng vô vi đó hay sao? Và tư tưởng đó, chắc ai ai cũng công nhận, nó bàng bạc và trải khắp mọi tầng lớp, góc cạnh của chữ nghĩa Hồ Trường An! Kế đến là tinh thần Bất nhị của nhà Phật. Có thể nói không một sáng tác nào của Hồ Trường An mà không vẽ lên đôi bờ thiện ác, tốt xấu cận kề, đen trắng phân minh. Ðể rồi lần nào cũng vậy, tác giả luôn luôn đi vào cái kết luận có hậu, phảng phất "tuy hai mà một" kia! Ðúng là Hồ Trường An đã rọi sáng triết lý Phật giáo, thuyết pháp cùng người đọc mà không hề và không cần vẽ lên hình ông Phật hay đắp tượng Bụt!

     Sau hết, văn chương chữ nghĩa viết theo lối chung chung thường sẽ dễ bị lẫn lộn, mờ phai rồi dần dần rơi vào quên lãng. Muốn có một chỗ đứng riêng cho mình trên văn đàn, nhà văn phải có một hướng đi riêng, một lối nhìn riêng và một cách viết riêng. Vậy thì để kết luận, qua tác phẩm Chuyện Miệt Vườn , những gì tôi trình bày trên đây há không phải là những cái riêng của Hồ Trường An, duy nhất cho Hồ Trường An, cậu Ba Thiềng Ðức (xem truyện Tên, Thứ, Hỗn Danh ), mà không ai có thể làm hoặc thay thế được hay sao?

     Winston-Salem, ngày Lao động Quốc tế, 1992

   back to top

03. MỜI ÐỌC: CÁC TẬP THƠ CỦA LUÂN HOÁN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Rất là tình cờ, tôi được nhà thơ gửi tặng cùng một lúc ba tập thơ: Ngơ Ngác Cõi Người, Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu , và Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài . Ðáng lẽ bốn, cho đủ bộ vừa xuất bản tại hải ngoại như anh cho biết, nhưng vì tập thơ Hơi Thở Việt Nam đã bán hết từ lâu. Kèm theo thơ riêng còn có một câu thòng, đại để: "Ðọc đi và lượm ra những cái vụng về, đập thẳng tay cho một bài thật rát da, đừng vị nể như các bạn khác..."

     Thiệt tình mà nói, tôi có hơi ngạc nhiên và mừng rỡ. Cho chính bản thân tôi thôi. Thì ra mình viết riết cũng có người biết đến, tìm kiếm làm quen. Nhất là được một nhà thơ lớn như anh. Không lớn sao được khi anh đã có đến hơn mười tập thơ đã xuất bản trong và ngoài nước, trước và sau 75! Nhưng đằng sau cái vui đó tôi còn đụng phải cái lo! Cái bổn phận phải "đập" hay "gõ" hoặc "vỗ" nên vài dòng cảm tưởng đáp lễ. Không đáp lễ sao được khi bạn thơ đã có tình nghĩ đến bạn văn! Có thể nói niềm đau thương ray rứt nhứt của kẻ cầm bút chính là lúc nâng niu mang tác phẩm mình đem tặng cho người, mà người được tặng không thèm ghé mắt đọc một chữ, thậm chí, hững hờ đến độ không buồn buông một tiếng cám ơn.

     Có người nói: "Mười người cầm bút, nếu có chút chút thực tài và chịu khó kiên trì cố gắng, thì trong năm bảy năm sau có thể sẽ trở thành mười nhà văn." Câu này hình như chẳng có gì sai. Rồi: "Trong năm bảy năm nữa, mười nhà văn đó sẽ trở thành ba nhà phê bình, năm nhà vừa phê bình vừa viết văn, và còn lại vỏn vẹn chỉ có hai người viết văn thuần túy thôi." Câu này thì chưa chắc đã hoàn toàn đúng hẳn. Tuy nhiên, mặc dù không hoàn toàn đúng hẳn, tôi vẫn muốn được làm một trong hai "ông thần" viết văn thuần túy còn lại đó! Tôi không muốn làm... nhà phê bình. Ðối với tôi, thơ ai làm cũng hay hết và văn ai viết cũng giỏi hết. Hình như càng tránh ra xa cái vòng khen chê lẩn quẩn thì càng đỡ phiền, tôi nghĩ!

     Nhưng muốn là một việc mà làm được hay không là một việc khác. Vì nếu tôi cam tâm làm như vậy thì hóa ra tôi là kẻ đứng bên lề, chẳng có bằng hữu tâm giao gì với ai ráo trọi, có phải? Bởi thế cho nên, có lẽ trước sau gì tôi cũng sẽ rơi vào trường hợp của năm "ông thánh" vừa viết văn vừa phê bình kia. Còn việc vui chơi với ba ông "thái thượng lão quân" thì chắc còn lâu, họa hoằn mười lăm hai chục năm kế tiếp nữa, và chỉ khi nào tôi hết ý cạn lời để viết văn thì tôi mới tính sang chuyện đó được... À quên, xin lỗi, riêng về hoàn cảnh của các nhà phê bình chuyên nghiệp thì lại khác một trời một vực, tôi không dám lạm bàn ở đây.

     Tánh tôi lại thích cà kê dê ngỗng về ba cái giao tình, kỷ niệm vui buồn giữa bằng hữu với nhau. Ký sự văn học, viết theo kiểu Một Lần Xuống Núi cho đời thêm vui vậy thôi. Thành thử, với tôi, phần nói về văn thơ của bạn bè tôi quen, chỉ là phần phụ thuộc. Trật trúng chẳng màng. Lắm khi chỉ là vài lời "bốc thơm" cho bạn mình vui là đủ rồi. Vả lại khi nói đến thơ, như trường hợp của anh Luân Hoán ở đây, coi vậy chớ mà khó. "Bốc thơm" không phải chỗ lại càng thêm trật đường rầy à nghen. Ối, mà cũng đâu ai dám bắt bẻ gì mình điều gì, vì với thơ, mỗi người có quyền thưởng thức một cách mà lị.

     Ðể coi, Ngơ Ngác Cõi Người là tập ghi lại tâm sự hơi đau thương của một người rời bỏ quê hương đất nước, ra đi... bằng máy bay, và nỗi niềm ngơ ngác khi lao đao sống gửi nơi xứ lạ quê người. Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu , đúng là tập thơ tình chính hiệu con nai vàng. Và Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài là những dòng hoài hương, nối tiếp nhau bằng nhiều hình ảnh, địa danh quen thuộc. Nhiều nhất ở quanh vùng Ðà Nẵng - Quảng Nam, dĩ nhiên, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ. Và có một đôi lần lang bang tới Sài Gòn, Bình Dương, Bến Tre...

     Nhìn chung, qua ba tập thơ tiêu biểu vừa kể trên, theo tôi, thơ Luân Hoán có nét "thơ học trò" của Nguyên Sa qua "áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường," và "thơ tiền chiến" của Hữu Loan trong niềm đau thời đại "nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người gái nhỏ hậu phương..." Với anh, rằng thì là:

     Em có nhớ trong sân trường bữa ấy
     Giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông


     hoặc:

     Thôi đừng nói ta đi đây, tạm biệt
     Nhớ vô cùng dù nhớ để buồn nôn
     Vở kịch lớn diễn trong nhà hát lớn
     Hình ảnh cuối cùng tặng kẻ cô đơn


     Ðành rằng, mốt "thơ học trò" và "thơ tiền chiến" của Luân Hoán, cũng như của Phan Ni Tấn, Trần Mộng Tú, Ðặng thị Quế Phượng, Cao Bình Minh..., chưa chắc đã làm hài lòng những người đã và đang đi tìm những đường nét mới lạ - lắm khi đi đến cầu kỳ quái đản hoặc khó hiểu - trong thơ... chẳng hạn từ những tiếng thơ đã có chỗ đứng riêng trên văn đàn hải ngoại như Trân Sa, Hàn Song Tường, Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn, Thường Quán, Ðỗ Khiêm..., nhưng với riêng tôi, tôi vẫn còn thấy thích lắm. Vì nếu tôi không thích, không mến yêu cái tuổi học trò và cái thời tiền chiến, thì chắc tôi đã không viết lên Một Ðời Ðể Học ! Cái không khí học trò và tiền chiến đó nó vẫn còn nhẹ nhàng và gợi cảm như dạo nào. Bởi vậy, có rất nhiều câu thơ của Luân Hoán hễ đọc qua một lần là tôi cứ nhớ hoài, tỉ như:

     Mua trăm vui lấp một sầu
     Phờ râu lấp mãi gốc sầu vẫn xanh


     Ối mà thôi, nếu bàn kỹ thơ Luân Hoán thì chắc phải viết thành sách. Và hiển nhiên tôi không khoái làm việc này. Tôi muốn nói chuyện riêng tư giữa Luân Hoán và tôi thôi... Lúc tôi có ý sắp "đập" vài chữ cảm tưởng cho thơ anh thì tôi được điện thoại.

     - Hello.

     - Hello, "ông Trùm" đó hả?

     Trời đất, giờ này thì còn ai gọi giây nói cho tôi vậy cà! Mắt nhắm mắt mở, tôi cũng ù ù cạt cạt:

     - Hưng đây, xin lỗi ai đầu giây vậy?

     - Luân Hoán! Anh đang làm gì đó? Có nhận được mấy tập thơ tôi gửi tặng chưa?

     Thôi chết rồi, nhận hổm rày cũng đã hai ba tuần, nhưng đinh ninh là cứ để đó, chừng nào làm xong "bổn phận công dân" thì sẽ gửi qua thông báo luôn. Không ngờ anh đang băn khoăn lo lắng dữ. Mà nói cho ngay, gì chớ chuyện thư từ, sách vở từ bên Gia Nã Ðại gửi qua Mỹ bị thất lạc liên miên, hoặc trục trặc vì nhân viên bưu điện đình công, vẫn xảy ra dài dài nên anh gọi hỏi thăm cho chắc ăn thì cũng phải. Tôi trả lời ngay:

     - Dạ, nhận được rồi anh. Sắp đọc xong!

     - Vậy cũng mừng... À, bên anh bây giờ mấy giờ rồi?

     Tôi liếc qua những con số trên đồng hồ dạ quang:

     - Dạ, gần hai giờ.

     - Chết cha, bộ đang ngủ hả? Thôi ngủ lại đi! Xin lỗi nghen, tôi cứ tưởng bên anh cùng giờ với giờ Cali...

     Lại thêm một đêm mơ mơ màng màng! Ðâu làm sao ngủ lại dễ dàng khi mà đã... nửa khuya thức giấc! Mà kể cũng lạ, tuồng như là có huông vậy. Vì dạo gần đây tôi cứ bị bằng hữu, bà con bên trời Âu buồn tình riêng dựng dậy vào lúc canh hai, canh ba lia chia. Ðể anh khỏi ngỡ ngàng, tôi hỏi lại:

     - Anh đang làm gì bên đó?

     - Ði chơi mới về.

     Chẳng biết vì ngáy ngủ hay vì lẽ gì khác, tôi bỗng tự nhiên nói khơi khơi:

     - Mới đi chợ về à!

     - Ði chơi chớ không phải đi chợ. Chợ búa gì giờ này. Thôi, ngủ đi. Bye.

     - Bye.

     Ðặt lưng nằm xuống giường, ngẫm nghĩ hoài, không hiểu vì sao mà tôi nghe chữ "chơi" ra chữ "chợ" cho được chớ? Chẳng lẽ mình bị hearing problem ? Một hồi lâu, tôi nghiệm ra, có thể tại vì thơ của anh hình như đã phần nào ăn sâu vào tâm trí của tôi. Từ lúc mới đăng báo, trong nhiều trường hợp. Vì vậy, mặc dù chưa gặp anh lần nào nhưng trong đầu tôi có lẽ cũng đã vẽ ra một Luân Hoán, một anh chàng tối ngày chỉ biết lo việc chợ búa, cơm nước, giặt giũ cho vợ nhà. Bởi lẽ:

     Trộn chút tình ta vào bột giặt
     Vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau


     Rồi nếu có rảnh rỗi thì lại thả hồn mình hướng về quê hương làm thơ thương nhớ:

     Treo lòng lên mũi Chân Mây
     Lim dim nghe tiếng lá cây trở mình
     . . .
     Treo lòng lên đỉnh Hải Vân
     Nghe sa diệp thạch bần thần thở ra
...

     hoặc là làm thơ tình:

     Mỗi lần sắp sửa yêu ai
     Tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
     Tưởng như có triệu vi trùng
     Ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình
...

     Vậy thì thử hỏi làm sao mà anh không quên giờ giấc cho được? Làm sao mà không làm thơ thiệt nhiều và dễ dàng như thở cho được? Thôi thì, tôi phải để anh hãy tiếp tục thơ thẩn nữa đi, đi chợ, đi chơi nữa đi...

   back to top

04. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TÌNH NGHĨA THẦY TRÒ CỦA SĨ LIÊM

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Với những ai khác thì sao tôi không biết, chớ riêng tôi, được đọc bản thảo và viết bạt cho một tác phẩm, kể ra, phải nói đó là một hân hạnh không nhỏ cho người cầm bút. Nhất là khi viết bạt cho tác phẩm đầu tay của một bạn văn mà mình yêu mến. Ðó là trường hợp giữa Sĩ Liêm và tôi.

     Sĩ Liêm là một cây bút miền Nam, với văn phong miền Nam rõ rệt, cho nên cũng cần nhắc sơ qua các cây bút miền Nam để ít ra thấy được vị trí của anh trong bút nhóm này, và sau đó, trên văn đàn hải ngoại.

     Nếu tính theo tuổi tác thì những người chào đời vào thập niên 21-30 trở về trước còn cầm bút sáng tác, và đôi khi sáng tác mạnh nữa là khác, thì có Phạm Thăng, Thừa Phong, Xuân Tước, Xuân Vũ. Lớp sinh ra vào khoảng 31-40 thì có Anh Vân, Hải Bằng, Hồ Trường An, Huỳnh Hữu Cửu, Hứa Hoành, Kiệt Tấn, Lê Bảo Trân, Nguyễn thị Long An, Nguyễn văn Sâm, Sĩ Trung, Thụy Khanh. Lớp đầu thai trong thời chinh chiến từ 41-50 có Ngô văn Thọ, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn văn Ba, Phùng Nhân, Trần thị Kim Lan, Võ Kỳ Ðiền, Ý Ngôn, và mới đây còn có... Hồng Lan. Lớp sanh sau đẻ muộn hơn một chút, từ 51-60, có Cao Bình Minh, Hoàng Du Thụy, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Phan thị Trọng Tuyến, Trần Kim Vy, Trần Long Hồ, Vũ Nam. Và sau cùng, lớp chào đời trễ nữa, từ 61 trở đi, thì duy nhất, có lẽ chỉ có mỗi một mình... Sĩ Liêm, con của tiểu thuyết gia nổi tiếng Sĩ Trung, mà thôi. Ðồng lứa, đồng thời với Ngọc Khôi và Trần Vũ, hai bầu bạn tâm giao cùng với anh trên đất Pháp.

     Với tôi, Sĩ Liêm đã tỏ ra rất thân tình qua những lần thư từ, điện thoại xuyên Ðại Tây Dương. Và có lẽ vì vậy mà anh giành cho tôi cái nhiệm vụ đề bạt cho đứa con tinh thần đầu đời của anh chăng?

     Tác phẩm Tình Nghĩa Thầy Trò gồm mười truyện ngắn Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi, Ðau Ðớn Phận Già, Trăng Xế Ðèn Mờ, Giựt Giàn, Thương Nhớ Một Tờ, Xứ Lạ Quê Người, Tình Buồn Câu Vọng Cổ, 425 Quan, Tình Nghĩa Thầy Trò, Con Chim Thời Tiết . Phần lớn các truyện ngắn này đã được đăng tải trên các tạp chí văn học nghệ thuật thuần túy, đứng đắn như Làng Văn, Văn, Văn Học .

     Nếu cho rằng "đọc văn biết người" thì trường hợp Sĩ Liêm cũng đã không thoát ra khỏi thông lệ đó, mà trái lại còn hằn lên đậm nét, vì hầu hết truyện của anh đều có tính chất sống thực giống như tự truyện. Qua tác phẩm Tình Nghĩa Thầy Trò chúng ta thấy anh là một con người chân thật, quả cảm, chưa làm mất gia phả miền Nam (truyện ngắn Giựt Giàn ), giàu sức chịu đựng, luôn luôn chống chọi cùng nghịch cảnh với thái độ canh cánh bên lòng câu: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả. Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng . Và anh cũng đã từng không quên lời thầy dặn, dốc tâm sống theo kiểu: Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Trọng nghĩa khinh tài. Sau này có công thành danh toại thì phải khiêm nhường với mọi người chung quanh. Nghe khen đừng nên mừng vội và chê cũng đừng lấy đó làm buồn. Tiền bạc, vật chất là phù du ảo ảnh. Có đó rồi mất đó. Chỉ có cái tình là còn lại... (truyện ngắn Tình Nghĩa Thầy Trò ).

     Với tôi, hình như nhà văn có tầm vóc không thể hình thành trong bóng mát, tháp ngà mà chỉ có thể và phải được un đúc, dày công tôi luyện trong trường đời đầy sóng gió. Trong chiều hướng đó, bằng một vốn sống dồi dào ngay từ thuở nhỏ cộng với một giọng văn trong sáng, gẫy gọn, dí dỏm, dễ đọc dễ hiểu, cũng như những nhận xét tỉ mỉ tinh vi, sự thấu đáo tâm lý nhân vật kẻ trẻ người già, đàn ông lẫn đàn bà, và một bụng ca dao bình dị mộc mạc... Sĩ Liêm đã đưa vào tác phẩm đầu tay của mình một dàn trải sâu rộng về xã hội và bối cảnh lịch sử Việt Nam ở vào cuối thế kỷ. Qua mười truyện ngắn tiêu biểu này, độc giả sẽ buông mình vào cảnh giới êm ả và tâm tình hiền hòa của người miền Nam, để dễ dàng nhận ra sự biến dạng của thế thái nhơn tình, của trò đời bạc bẽo, khi mà con người ta phải sống theo lối giam lỏng trong ngục tù xã hội chủ nghĩa hoặc bắt buộc phải trôi nổi theo kiếp ly hương. Tuy nhiên, chính trong những hoàn cảnh đau thương đó, những đóa hoa tâm cảm của cuộc đời, những cái "chỉ có cái tình là còn lại" đó, mới có dịp nghiệm chứng và đã lặng lẽ, âm thầm, bàng bạc nở ra trong tận cùng bóng đêm tăm tối.

     Cái "tình" đó là gì? Ở đây, theo tôi, có lẽ tác giả đã muốn nói đến nhiều thứ lắm!

     Phải chăng đó là tình nghĩa vợ chồng ? Với sự hy sinh vô bờ bến và lòng thủy chung gắn bó đối với chồng con của người phụ nữ Việt Nam, cho dù người chồng có phản bội mình đến thế nào đi nữa, rằng: Nhưng tánh cô hiền lành không muốn có chuyện rùm beng e thiên hạ chê cười. Cô ráng cắn răng chịu đựng không than phiền, đánh ghen tùm lum tà la, xấu hổ cho chồng con. Cô chỉ còn biết cầu trời khẩn Phật cho cậu Ba Ðực trở về với gia đình... (trong Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi ). Hoặc qua sự thương yêu, đùm bọc, hủ hỉ có nhau ở cái tuổi tóc bạc da mồi, cô đơn tẻ lạnh nơi xứ tạm dung, vì: Từ ngày di tản sang Tây, xứ người đâu còn như bên nhà, tình lối xóm láng giềng mất hẳn. Ai ở nhà nấy. Lỡ gặp thì gật đầu chào cho có lệ chớ thân thiết gì. Sáng bảnh mắt ra thì mọi người đã đi làm, chẳng ai có thì giờ để ý đến ai. Thậm chí có những người ở cùng một chung cư mà không bao giờ thấy mặt nhau. Ông bà Tám sang đây thấy cảnh tình như vậy mà phát ớn... (trong Xứ Lạ Quê Người ).

     Phải chăng đó là tình cha mẹ con cái ? Ðã không còn nguyên vẹn trong vòng lễ giáo, kính cha hiếu mẹ như ở quê nhà, mà là phải thay đổi, hội nhập, và lắm khi phải chịu đựng nữa trước sự đồng hóa mãnh liệt của nếp sống và văn hóa mới trên quê hương thứ hai, bởi vì: Bà Năm The sống mà tâm hồn như người chết. Bà lại đi ra, đi vào than vắn, than dài. Có cái ti-vi mà bà đâu có bao giờ rớ tới. Bà có hiểu tụi nó nói cái gì ở trỏng đâu nè. Tối ngày bà cứ ôm cái máy cassette nghe toàn là cải lương, hồ quảng. Nghe đã rồi bà khóc, khóc đã rồi bà nghe. Nhiều lúc bà thấy bà giống như một con ở của cô Hai Lượt. Bà nấu cơm cho nó ăn, nó còn chê mặn, chê lạt. Ăn xong nó không thèm dọn xuống phụ, nó xách mông đi lại ghế sa lông nằm dài, nằm ngửa coi ti-vi, mặc cho Bà Năm dọn dẹp, rửa chén. Bà Năm The cũng đâu có thèm phàn nàn. Bà thương con, thấy con làm cực khổ, bà sẵn sàng phụng sự "má chồng" của bà. Cô Hai Lượt thiệt là tệ lậu hết sức. Thấy mẹ mình già cả như vậy, đáng lẽ phải chính tay cô làm mới đúng. Chớ đâu để... Thiệt là hết chỗ nói! (trong Ðau Ðớn Phận Già ).

     Phải chăng đó là tình bằng hữu ? Trong tuổi trẻ vui đùa, thèm làm chuyện "anh hùng tử chớ chí hùng nào tử," để lắm lúc không ngần ngại hy sinh tấm thân ốm yếu của mình cho những bầm dập roi đòn, tại vì: Trong lòng đứa nào cũng dậy cao ngọn sóng tham lam: phải giựt cho bằng được mấy cỗ số lớn nhứt. Ðó là của tao, của riêng tao. Dù bị đạp chết giữa cuộc giựt giàn tao cũng chịu! Chiến thắng và trở thành "anh hùng" hay chiến bại, hóa ra vô dụng, gà chết đều do nơi kết quả của trận chiến giựt giàn sắp nổ ra trong chốc lát nữa đây. Khỏe mạnh, to con như trâu cui, như bò mộng chưa đủ. Gầy yếu mà gan lì, giỏi chịu đựng sự đau đớn dưới hàng tấn thịt người và dám đánh nhau với các tay du đảng, đủ những đặc tánh đó mới trở thành anh hùng. (trong Giựt Giàn ). Hoặc một mình cô đơn nơi gác trọ trên xứ lạ quê xa, gặp lúc kẹt tiền đóng tiền nhà mà không tìm đâu ra bè bạn, để phải lao đao lận đận: Tính tới, tính lui, tính hoài, tính mãi cũng chưa tìm ra biện pháp nào hữu hiệu, an toàn hơn là đi mượn. Nói thiệt đi mượn là một điều đau khổ cho tôi vô cùng. Có thể nói đó là một điều nhục nhã cho tôi thì đúng hơn. Nhưng giờ phút này, đã một tây rồi, ngày mai là bà chủ nhà sẽ gõ cửa phòng tôi cộp cộp. Nếu tôi không thanh toán đúng kỳ hạn, bà sẽ không ngần ngại gì mà mời tôi đi. Không và không, tôi không để cho người Tây họ khi dễ người Việt Nam mướn phòng mà không có tiền trả. Trong hai cái nhục, tôi phải chọn một cái nhục là đi mượn. Mà mượn ai? (trong 425 Quan ).

     Phải chăng đó là tình thầy trò ? Ðể cho thấy một gần gũi, thương mến, thông cảm lẫn nhau giữa thầy và trò như hai người bạn đồng hành tay trong tay trên một đoạn đường khó khăn, khổ ải ở cõi đời này (phảng phất cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của hai bạn đồng môn trong Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư của Sơn Nam), bằng cái nhập đề buâng khuâng dịu vợi:

     Mấy năm qua, cứ mỗi lần Tết sắp đến, tôi nhận được tấm thiệp Xuân của thầy Năm từ bên Texas gửi qua Pháp cho tôi. Tấm thiệp đặc biệt, do chính tay thầy vẽ. Năm đầu, thầy vẽ một cậu trai mới lớn, khuôn mặt giống như khuôn mặt tôi đang vịn cành mận hồng đào sai trái. Năm thứ hai, thầy vẽ cậu trai đó ngồi vá vỏ xe đạp dưới gốc mận hồng đào. Năm thứ ba, thầy vẽ cậu trai đó xách giỏ mận đi bán. Kèm các hình vẽ luôn luôn là chữ Cung Chúc Tân Xuân tô kim nhũ lóng lánh.

     Năm thứ tư, thầy vẽ cái dĩa đựng bốn trái mận, và thầy ghi trong tấm thiệp: "Cô em và hai em của em đã vượt biển đến trại Songkla, thầy đã bảo lãnh cô em đến Texas rồi."

     Năm nay thầy vẽ cái dĩa đựng tới năm trái mận. Tôi đoán là cô tôi sắp có thêm tí nhau nữa. Quả vậy, thầy cho biết cô đang mang bầu.

     Thầy trò tôi gửi thư cho nhau rất ít, nhưng thư nào cũng dài như một truyện ngắn...
(trong Tình Nghĩa Thầy Trò ).

     Phải chăng đó là tình gia đình thân tộc ? Giữa cậu cháu, bà con xa với nhau, cho dù có xấu xa ghẻ lở đi nữa, chỉ vì một sở thích chung không thể thiếu được: Xuyên qua ánh trăng mờ nhạt, tôi thấy cậu Tờ cắt từng miếng xoài xếp hàng lên dĩa bàn. Cậu một miếng, tôi một miếng. Tiếng xoài tượng vỡ giữa hai hàm răng nghe thật dòn. Vị chua chua cộng với vị mằn mặn, ngọt ngọt, cay cay làm tôi ngây ngất. Vừa nhai vừa hít hà, tôi nghe khẩu vị mình trào dâng một cảm giác đê mê lạ lùng. Thoáng một cái hai cậu cháu đã nuốt gần hết trái xoài tượng lớn bằng cổ chân. Cậu Tờ nhường cái hột cho tôi. Chấm hột xoài vào nước mắm đường đặc kẹo, tôi cạp sạch đến tận vỏ cứng của nó. Cậu Tờ bảo tôi đưa hột xoài cho cậu rồi cậu túm hết vỏ xoài đi thẳng ra ngoài vườn. (trong Thương Nhớ Một Tờ ).

     Phải chăng đó là tình đồng nghiệp ? Chỉ có trong cảnh buôn bán chợ trời của xã hội chủ nghĩa? Tuy nhiên, cho dù khổ cực, gian truân thế nào đi nữa họ vẫn luôn tìm cách đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhờ vào món hàng đặc biệt: Từ ngày mua được con chim thời tiết, dân bán chợ trời thoát được cái cảnh trời mưa bất thường. Tôi thường lấy bài "Tương Tư" của Nguyễn Bính mà cảm đề như thế này:

     Chợ trời buôn bắc, bán đông
     Một người ngồi bán ngồi trông mọi người
     Nắng mưa là bệnh của trời
     Con chim thời tiết biết trời nắng mưa.

     Cứ hễ con chim đổi màu hường, tôi tức tốc chạy ra khỏi gian hàng la lớn:

     - Trời sắp mưa bà con ơi! Con chim đổi màu hường rồi!
(trong Con Chim Thời Tiết ).

     Và sau nữa, phải chăng đó là tình yêu trai gái ? Nhất là ở mối tình đầu tiên của một người con gái ngây thơ, chẳng biết đua đòi, sống đơn giản trong con phố nhỏ, bỗng dưng một hôm nọ bị tiếng sét ái tình và đã gửi con tim cho người trai cùng xóm, vì: Nói xong cậu Ba chạy lẹ về nhà. Cô Hai Kim Hoa đứng nhìn theo cười sung sướng. Từ nhỏ tới lớn đây là lần đầu tiên cô bị con trai "dê" nên vui quá chừng, quá đỗi. Ðờn bà con gái cũng kỳ cục lắm! Không ai "dê" thì buồn, mà "dê" thì chửi, chửi đã rồi tiếc hùi hụi. Cô Hai giủ quần áo vừa phơi, vừa mong cho thời gian qua lẹ để ngày mai xem cậu Ba đóng phim. (trong Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi ). Hoặc là mối tình trẻ thơ trong nỗi cô đơn mang thân đi ở đợ và trong hoàn cảnh xem như côi cút cả mẹ lẫn cha, để: Tôi liền kể cho con Tí (tên con bé ranh mãnh) nghe tự sự, không dấu một điều gì. Cả hai như đã quen nhau từ lâu lắm rồi vậy. Con Tí nghe tôi kể, nước mắt nó cũng rưng rưng. Từ ngày bà tôi chết cháy cho đến bây giờ, chỉ có con Tí là người đầu tiên nhỏ cho tôi những giọt nước mắt thành thật. Từ đó tôi có một người bạn tâm đầu. Hai đứa kết thân với nhau. Con Tí là nguồn an ủi của tôi sau những ngày tháng cơ cực ... Vậy mà rồi sau đó, người bạn trẻ vô phước kia lại chẳng đã đi đến một quyết định chọn cái đau khổ cho riêng mình, là đành phải xa nhau, chỉ vì không muốn một nghịch cảnh của cuộc đời lại phải tái diễn lần thứ hai, thứ ba như số kiếp vay trả trả vay, như luân hồi mãi mãi (trong Trăng Xế Ðèn Mờ ). Và thêm một mối tình ngang trái khác, mặc dầu có cái kết cuộc thật là tang thương vì cả hai cùng chết, nhưng lại thấp thoáng cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của Sơn Nam trong tuyệt tác giai nhân sao nỡ mắc bệnh nan y Hương Rừng Cà Mau , như ở đoạn dưới đây:

     Anh Tư Du lắc đầu, mặt buồn hiu:

     - Em còn nhỏ em hổng hiểu đâu!

     Thấy anh không muốn nói, tôi cũng không gặng hỏi nữa. Nhưng từ khi chuyển về đây, lúc nào anh cũng trầm ngâm. Anh không rủ tôi hái bần ăn với mắm sống, ớt xanh, cơm nguội nữa. Tối ngày anh cứ ngâm nga ca vọng cổ, toàn là những câu buồn sầu ai oán, nghe muốn đứt ruột, nát gan. Tôi chỉ có nước nhìn anh rồi thở dài thườn thượt.

     Còn chị Hai Búp vì cha mẹ ép uổng, phải lấy ông chủ Ðáo, lớn hơn chị mười sáu tuổi, xấu không ra xấu, đẹp không ra đẹp, nhưng khuôn mặt lầm lì, cách ăn nói phách lối nên xóm giềng đều ghét. Chủ Ðáo giàu có nhờ biết làm áp phe với Mỹ. Ông ta bỏ tiền ra để má chị Hai Búp mua máy xay trái cây và mở quán bán nước sinh tố, và các thứ giải khát khác...
(trong Tình Buồn Câu Vọng Cổ ).

     Xuyên qua những thứ "tình" ơ hờ, còn sót lại đó, chúng ta còn thấy cũng đồng thời với một văn phong miền Nam, nhưng lấp lánh trên toàn bộ tập truyện, Sĩ Liêm đã sử dụng nhiều ngôn từ và một lối diễn tả mới lạ, dễ đi sâu vào cảm xúc, trí nhớ của độc giả. Chẳng hạn như: Bà Năm The đã già cả thể xác lẫn tâm hồn. Nước mắt bà đã tuôn chảy thành giòng nhưng không đủ sức làm ấm lại cái lạnh tẻ buốt giá của xứ người (truyện ngắn Ðau Ðớn Phận Già ). Chẳng hạn như: Thi'm hà tiện ngay với bản thân mình. Nhà chú thi'm mà có tòa cao lẫm lớn là do tài bòn tro đãi trấu, vắt chày ra nước của thi'm Năm (truyện ngắn Trăng Xế Ðèn Mờ ). Chẳng hạn như: Tôi cầm cuốn sách nhét vô lưng quần xà lỏn, nắm tay con Tí kéo ngồi xuống bờ ao. Chiếc lục bình đứng lại ngắm hai tâm hồn trẻ thơ như muốn nói một điều gì, nhưng không nói, rồi lặng lẽ trôi đi (truyện ngắn Trăng Xế Ðèn Mờ ). Chẳng hạn như: vân vân và vân vân.

     Xen kẽ trong đó, có những đoạn tả món ăn phải nói cũng hấp dẫn như Vũ Bằng, Hồ Trường An! Chỉ cần đọc qua ba đoạn tả ăn xoài sống nước mắm đường (tuyện ngắn Thương Nhớ Một Tờ ), ăn bần chua, mắm sống, ớt xanh, cơm nguội (truyện ngắn Tình Buồn Câu Vọng Cổ ) và ăn xôi trét đậu xanh tán nhuyễn, rắc dừa nạo, đậu phọng giả nhỏ, muối mè và đường cát mở gà (truyện ngắn Con Chim Thời Tiết ) là chúng ta đủ thấy cái hương vị, cái thèm thuồng đã làm nước miếng chảy ra đầy miệng.

     Và còn nhiều điều đáng nói nữa trong tập truyện đa dạng này, nhưng xin nhường lại cho độc giả để tự khám phá, thưởng thức lấy! Luôn cả những chỗ đôi lúc hơi vô tình lập ý, hay cường điệu, nói quá, lắm khi không cần thiết!

     Tóm lại, ở Sĩ Liêm, chúng ta đã bắt gặp