Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Ðiểm nhạc Một Lần Ði, Anh Yêu
BS Nguyễn Ðức An
Trong chương trình phỏng vấn các văn nghệ sĩ Việt Nam
Hải Ngoại, ký giả Dương Ngọc Hoán, đã đưa tên tuổi
Nguyễn Tấn Hưng đi khắp thế giới, trên một hướng
đi mới, đó là Nguyễn Tấn Hưng nhạc sĩ. Ðúng, tôi
xin nhắc lại một Nguyễn Tấn Hưng hoàn toàn mới và trẻ
đẹp, duyên dáng trong những ca khúc mà một thính giả ở
Việt Nam ngợi khen là thấm đượm tình yêu quê hương,
dân tộc.
Bắt đầu bước vào sáng tác năm 1988 với truyện
Một
Ðời Ðể Học
(
Làng Văn
xuất bản), Nguyễn Tấn
Hưng đã tức khắc lôi cuốn được sự chú ý của độc
giả hải ngoại. Rồi từ cái mức khởi hành đó, Nguyễn
Tấn Hưng liên tục và hào hứng cho ra đời nhiều tác
phẩm khác:
*
Một Thuở Làm "Trùm"
- 1989,
Văn Nghệ
xuất bản.
*
Một Chuyến Ra Khơi
- 1990,
Làng Văn
xuất bản.
*
Một Kỷ Niệm Ðẹp
- 1991,
Ðại Nam
xuất bản.
*
Một Dòng Ca Dao...
- 1991,
Miệt Vườn
xuất bản.
*
Một Thoáng Trong Mơ
- 1992,
Miệt Vườn
xuất bản.
*
Một Nỗi Buồn Riêng
- 1992,
Ðại Nam
xuất bản.
*
Một Lần Xuống Núi
- 1992,
Viên Giác
xuất bản.
*
Một Cảnh Hai Quê
- 1993,
Thế Giới
xuất bản.
*
Một Trời Một Biển
- 1994,
Văn Nghệ Tiền Phong
xuất bản.
* Hai truyện được dịch sang Anh ngữ:
Một Ðời Ðể Học
và
Một Thuở Làm "Trùm"...
Tất cả là chín truyện ngắn truyện dài, một này tiếp theo
một khác. Ðộc giả và văn hữu đi từ ngạc nhiên này tới
ngạc nhiên khác về sức sáng tác dồi dào, nội dung phong phú
trong những truyện mà Nguyễn Tấn Hưng đã cống hiến cho
đời ở hải ngoại. Ðây là nhà văn viết nhiều nhất, đề
cập tới nhiều vấn đề nhất, và dĩ nhiên thành công nhất
về phương diện tài chánh.
Ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng, hình như chưa tự thỏa mãn với
thành tích "cùng mình" này, đã bước thêm một bước nữa,
vào một lãnh vực văn hóa Việt Nam rất mới mẻ đối với
anh: đó là sáng tác âm nhạc. Hàng mấy chục bản nhạc cứ
theo đúng "kiểu Nguyễn Tấn Hưng" là Một này tiếp theo Một
khác, để cho ra đời hai tuyển tập, bốn băng nhạc và chưa
hết đâu, còn nữa...
Như thế, Nguyễn Tấn Hưng vừa là kỹ sư, nhà văn, nhà
biên khảo, nhạc sĩ, và đang nghiên cứu về Hội Họa nữa.
Ðây là một thiên tài, đa hiệu đã tức khắc làm chủ
được ngòi bút của mình, trong văn thơ, và âm điệu của
mình trong nhạc.
Viết về Nguyễn Tấn Hưng, dù khen hay chê, cũng sẽ đều
vất vả như nhau. Vì phải đọc nhiều, nghiên cứu đủ thứ
vấn đề mà Nguyễn Tấn Hưng
"đi vào"
với chiều sâu.
Tôi không phải là một nhà phê bình văn học có khả năng để
làm được nhiều chuyện khó khăn như thế. Ở đây, với
sự hiểu biết giới hạn về âm nhạc, tôi xin nói những cảm
nghĩ khi
"nghe nhạc Nguyễn Tấn Hưng"
.
Nhạc sĩ lão thành và tài ba Thu Hồ đã có ý kiến như sau về
nhạc Nguyễn Tấn Hưng:
"Ðọc qua một số bài thơ được anh phổ thành nhạc như
Sao Rơi, Biên Khu Chiều Gió Lộng, Tình Muộn...,
tôi nhận thấy trong thơ và nhạc của anh có nhiều tâm
tư, uẩn khúc rất người. Lời thơ cũng như nhạc
điệu khi thì dịu hiền mơn trớn,
... từ em thầm
nói yêu anh, chút tình muộn vẫn làm xanh tháng ngày...,
khi thì nóng nảy bực bội,
... hờn căm nương theo
gió, thổi tan quân bạo tàn...
Cái chí khí của tuổi
trẻ, khi yêu thiết tha, khi hờn căm gan, có thế, nó
mới ăn sâu vào tâm hồn thơ và nhạc của độc giả,
thính giả.
Ðiều tôi đề cao Nguyễn Tấn Hưng là anh chọn những
thể điệu nhạc như
Slow, Tango, Bolero, Andante, Paso,
Fox Moderato, Valse, Boston...,
là những thể điệu
nhạc hợp với âm hưởng nhạc của Việt Nam ta, phát
xuất từ thời khai quang âm nhạc của các đàn anh từ
thập niên 40. Nguyễn Tấn Hưng, mặc dù đang định
cư ở một xứ hết sức tự do, có cả trăm thể điệu
nhạc (mouvement) đã du nhập từ tứ xứ, đôi lúc làm
cho nhạc múa may quay cuồng, thế nhưng, anh đã giữ
lại phong cách âm thanh dịu hiền của Quê Mẹ, trăng thanh
gió mát của Việt Nam thân yêu, để tâm hồn mọi người
luôn luôn hướng về tổ quốc. Ðó là điểm đáng khen."
Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có vài nhận xét về nhạc Nguyễn
Tấn Hưng:
"Nguyễn Tấn Hưng giữ trọn được và thở ra được hơi
nhạc Nam Bộ qua những dòng nhạc đó. Những nhạc phẩm
Hương Quê Tình Khúc, Biên Khu Chiều Gió Lộng, Mưa Thu,
Chỉ Một Lần Trao, Bên Dòng Tiền Giang...
Hãy hát lên.
Hãy nghe cho rõ những cung bực, những uốn lượn mới
thấy hết chất Nam Bộ trong anh.
Bên cạnh đó, Nguyễn Tấn Hưng còn tỏ ra thật vững vàng
trong cấu trúc âm nhạc, dòng nhạc của anh luôn đột biến
thay đổi thật phong phú làm cho người nghe không bị nhàm
chán, đơn điệu ru ngủ."
Qua nhận xét của hai nhạc sĩ Thu Hồ và Nhật Ngân, chúng ta
đã có một khái niệm về sự thành công của Nguyễn Tấn
Hưng trong những sáng tác của anh.
Năm 1956, tôi bắt đầu theo học Quốc gia Âm nhạc và Kịch
nghệ Sài Gòn. Khi đó, lớp học còn
"tạm cư"
ở
đầu đường Phạm Ðăng Hưng, phía gần đài Phát thanh
Sài Gòn. Và khi đó, tôi phải qua nhiều buổi khảo hạch
do Giám đốc Nguyễn Phụng, nhạc sĩ Hùng Lân, Nguyễn Hữu
Ba, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và ca trưởng Hải Linh. Quí
vị giáo sư, thuộc đủ miền Bắc (Hùng Lân, Nguyễn Cầu),
Trung (Nguyễn Hữu Ba, Dương Thiệu Tước), và Nam (Nguyễn
Phụng, cô Bình Minh, nhạc sĩ Năm Khuê, Sáu Tửng...) và học
viên cũng có đủ thành phần sắc tộc. Tôi là dân Hà Nội
chính gốc, cùng với Phạm Thúy Hoan, Xuân Trường, Văn
Hiền... Trung có: Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương, Nguyễn
Hữu Vấn. Nam thì còn nhiều hơn: Phương Oanh (hiện ở
Pháp), Thu Cúc, Ngọc Lan, Ngọc Nhan, Nguyễn văn Ðời...
Chưa kể một số sau này đã thành danh như Ngô Thụy Miên,
Phạm Nghệ, Võ Tá Hân, Phạm Hộ, Ngô Thanh Tùng, Michelle
Fung, Trọng Nghĩa...
Như thế, trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ gồm đủ
đại diện vùng, miền từ thầy tới trò; kể cả học sinh
đang theo chương trình trung học Pháp (Taberd, Jean Jacque
Rousseau), Việt (Trưng Vương, Gia Long, Chu văn An, Pétrus
Ký, Nguyễn Trãi...) và cả học viên không theo trường nào
cả như Sa Giang Trần Tuấn Kiệt (nổi tiếng với bài thơ
Người Ấn Ðộ Già, theo môn Ðộc Huyền và Guitar). Ðiều
này không có gì lạ, bởi vì đa số học viên đều học nhiều
lớp, nhiều loại nhạc khí khác nhau, nếu thì giờ cho phép.
Chúng tôi đua nhau học hỏi, quý mến nhau, kính trọng các
thầy bất kể cụ Sáu Tửng gần 80 tuổi ở Châu Ðốc lên,
thầy Nguyễn Hữu Vấn từ Hải Phòng vào, bác Trịnh Chức
từ Huế tới, thầy Năm Khuê dưới Long Xuyên lên... Chúng
tôi cũng nghiêm cẩn theo lớp giáo sư dương cầm Nguyễn Cầu
(thuộc Viện Âm nhạc Ðông dương, Hà Nội), thầy Nguyễn
Cung, Nguyễn Thế Phiệt (Pháp), và cô Bình Minh (piano, Âm
nhạc viên Ba Lê).
Tất cả đến Quốc gia Âm nhạc vì lòng say mê âm nhạc cả
Ðông lẫn Tây. Cả nhạc thính phòng, cổ điển lẫn quốc
nhạc ba miền, vọng cổ cũng mê mà hò "mái nhì mái đẩy,
cò lã, trống quân" đều cắm cúi tập dượt dưới sự chỉ
dẫn nhiệt tình của các thầy cô và bạn.
Tình tự ở Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn kể sao cho xiết, biết
nói đến bao giờ mới hết, nhớ trường xưa, thầy cũ,
bạn bè kẻ mất người còn đã đang nổi tiếng ở đâu đó
như Phạm Thúy Hoan (Sài Gòn), Võ Tá Hân (Tân Gia Ba), Phương
Oanh (Pháp), Nguyễn Hữu Vấn (Huế), Ngô Thụy Miên (Canada)...
Ngay từ thập niên 50, chúng tôi tới Quốc gia Âm nhạc để
đạt sở nguyện là hấp thụ cho nhanh cho nhiều tinh hoa âm nhạc
Việt Nam và thế giới để làm gì? Tâm nguyện của chúng
tôi khi đó, là để biết cái hay của văn hóa âm nhạc thế
giới và vốn quý âm nhạc dân tộc cả ba miền người Việt
ở Bắc, Trung, hoặc Nam đều là người Việt Nam. Âm nhạc
ngoài Bắc, tới Trung vào Nam, đều là âm nhạc Việt Nam.
Với một nhận thức rõ ràng như thế, của những người yêu
nhạc Việt Nam, tôi xin đi vào Tình ca Nguyễn Tấn Hưng, mà
nhạc sĩ Nhật Ngân bảo rằng đậm đà chất Nam bộ.
Tập nhạc thứ nhất của Nguyễn Tấn Hưng mang tên
Một Lần
Ði, Anh Yêu
, gồm 20 bản nhạc, qua các tiết điệu: Slow,
Fox Moderato, Valse, Boston, Paso Doble, Tango-Bolero, Tango, Bolero...
Tập nhạc thứ hai
Một Ðời Mỏi Mòn Trông
, cũng gồm 20
bài, qua các tiết điệu: Valse, Fox, Boston, Slow, Bolero,
Tango, Surf, Rumba, Bolero, Hullu Gully... Ðặc biệt trong tập
hai này, có tới ba bài Tango.
Người xưa nói, văn tức là người; thơ là người; nhạc là
người... Nghĩa là, tư tưởng của thi, văn, nhạc sĩ đã
thoát ra khỏi não bộ, vòng xương sọ chật hẹp để biểu hiện
ra, trên giấy trắng mực đen. Do đó, chúng ta có những Tứ
Tấu Khúc tuyệt vời của Hayden (thầy của thiên tài Mozart),
những bản luân vũ bất tử của Johan Strauss, những bản nhạc
tình vĩnh cửu của Beethoven (Letter to Elise, Gertrude...). Rồi
những bản Paso Doble, Tango bắt nguồn từ Ý, Tây Ban Nha, Nam
Mỹ là những đóa hoa đẹp, tô điểm cho đời sống con người
trên trái đất đẹp hơn, đáng sống hơn.
Trở lại với âm nhạc Việt Nam (tân nhạc) thoạt kỳ thủy với
những Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn văn Tý, Nguyễn văn Giệp,
Lê Thương... còn phôi thai, đã là những hạt giống tốt để
nẩy mầm ra những Văn Cao, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước,
Hoàng Giác, Nguyễn Thiện Tơ, Ðặng Thế Phong, Phạm Ðình
Chương, Nguyễn Hiền, Ðan Thọ, Hoàng Trọng, Hùng Lân...
Thế hệ thứ ba, thứ tư của tân nhạc Việt Nam với Châu Kỳ,
Y Vân, Lâm Tuyền, Hoàng Dương, Vũ Thành, Vũ Thành An, Lam
Phương, Phạm Mạnh Cương... Và trước khi Việt Nam Cộng Hòa
sụp đổ, ta có thế hệ thứ năm, thứ sáu nhạc sĩ sáng tác
được gọi là trẻ như Ngô Thụy Miên, Nguyễn Ðức Huy, Ðỗ
Lễ, Trần Thiện Thanh, Nhật Ngân, Nguyễn Ánh, Song Ngọc...
Khi đất nước hoàn toàn nằm dưới sự cai trị của đảng
Cộng Sản Việt Nam, thì âm nhạc bị trói chặt, và cho tới
giờ phút này vẫn chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ sẽ có một
sự cởi trói đối với việc sáng tác, trình diễn âm nhạc
tại Việt Nam. Ðiều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Bởi
vì, đối với người Cộng Sản, âm nhạc nghệ thuật chỉ là
một công cụ để tuyên truyền, đồng nghĩa với lường gạt.
Âm nhạc, nghệ thuật là một loại võ khí chiến lược của
Cộng Sản, có sức công phá mạnh như bom, đạn, hỏa tiễn.
Do đó, họ không thể thư thả, cởi trói cho âm nhạc.
Trong khi đó, ở hải ngoải, những người Việt Nam yêu âm
nhạc nghệ thuật có đầy đủ cơ hội để dấn thân vào đam
mê của mình. Song Ngọc "hồi sinh" với hàng 2, 3 trăm bài
thơ phổ nhạc. Võ Tá Hân, một sinh viên tốt nghiệp Quốc
gia Âm nhạc Việt Nam với môn Tây ban cầm, MA về Quản trị Xí
nghiệp (đại học MIT), hiện là Tổng giám đốc một cơ sở
kinh doanh ở Tân Gia Ba cũng đã làm CD, băng nhựa hằng mấy
trăm bản nhạc được giới yêu nhạc đón nhận niềm nỡ ở
Việt Nam, và hải ngoại. Có thể nói đây là nhạc sĩ mới,
trẻ thành công nhất về sáng tác, và phổ biến các bản nhạc
được sáng tác sau 30-4-75.
Ngoài Võ Tá Hân, chúng ta còn phải kể tới những nhạc sĩ
như Việt Dũng, Phạm Anh Dũng, Nguyễn Nguyên Bích, Nguyễn
Nhật Thăng (nha sĩ), và Nguyễn Tấn Hưng.
Trả lời cuộc phỏng vấn của anh Dương Ngọc Hoán (đài VOA),
Nguyễn Tấn Hưng cho biết thơ dễ làm, khó nhất là viết
truyện dài. Và nhạc khiêm nhường nằm giữa thơ và truyện.
Nhạc sĩ Nguyễn Tấn Hưng đi vào sáng tác âm nhạc bằng con
đường của Ðăng Khánh, Võ Tá Hân, Phạm Anh Dũng đang đi;
nghĩa là viết nhạc, đặt lời. Hoặc dùng thơ gợi ý cho
nốt nhạc. Nhưng hiển nhiên các nhạc sĩ nêu tên ở trên,
đã trưng bày hết lòng dạ mình cho thính giả thấy qua những
bản nhạc. Như tằm nhả tơ. Như con ve sầu cất tiếng hát
bi thương báo hiệu mùa Hè sắp hết. Như tâm sự của chàng
Trương Chi hò khoan chèo đò trên dòng sông vắng, vắng bóng
Mỵ Nương.
Do đó, Phạm Anh Dũng nhớ Sài Gòn, Võ Tá Hân nhớ Huế. Và
Nguyễn Tấn Hưng thương về Mỹ Tho, Lục Tỉnh, miền Nam thân
yêu bóng dừa thả bóng ven sông, bên bờ sông Tiền, sông Hậu
hiền hòa nước chảy; miền Nam mưa nắng hai mùa. Ðó là cái
"chất Nam bộ" mà nhạc sĩ Nhật Ngân nói tới. Ðó là
Hương
Quê Tình Khúc, Anh Ra Ði Nơi Này Ðã Chết, Bên Dòng Tiền
Giang, Tình Ðất Nước, Việt Nam Quê Hương Tôi, Khi Xa Sài
Gòn, Mẹ...
Miền Nam mưa nắng hai mùa, một thời, đã là miền đất lành
chim đậu cho những người phải bỏ Hà Nội như tôi.
Miền Nam mưa nắng hai mùa, với sông Tiền sông Hậu hiền hòa
một bầu sữa mẹ, mang phù sa bồi đắp giang sơn thêm chất
sống, đã khai hoa nở nhụy ra những Nguyễn văn Vĩnh, Huỳnh
Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Bình Nguyên Lộc, Ðông Hồ... những
học giả, danh nhân đã đóng góp nhiều công trình giá trị cho
văn hóa Việt Nam.
Miền Nam mưa nắng hai mùa đã là một vựa thóc, vựa cá vĩ
đại để nuôi sống người Việt ngoài Trung, Bắc.
Miền Nam hiền hòa, rộng lượng đã là nơi sinh ra nhiều nhạc
sĩ nghệ nhân dân tộc như Hai Khuê, Sáu Tửng, Phùng Há, Ba
Vân, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Khánh Băng, Lam Phương, Võ Ðức
Thu, Võ Ðức Tuyết...
Và dĩ nhiên tôi không thể quên "ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng,"
một người dùng tay trái lái tầu chiến, tay phải bấm máy
điện tử, chân trái hội họa, chân phải đánh đàn. Dĩ
nhiên đây là bức tranh lập thể để diễn tả về một
Nguyễn Tấn Hưng đa hiệu và hữu hiệu. Với sự hoàn toàn
tin tưởng vào khả năng của mình. Vào những ưu điểm tất
yếu không cần vay mượn của mình. Cộng thêm vào đó, một
chút lạc quan. Do đó, Nguyễn Tấn Hưng chỉ thoải mái đi vào
Tình Tự miền Nam bằng điệu hò, câu thơ, nét nhạc thuần
hậu, giản dị. Do đó, Nguyễn Tấn Hưng cứ một mình một
đàn tây ban cầm "ta gõ thùng đàn ta ca" bằng, với giọng Nam
Kỳ, Mỹ Tho của mình, một trăm phần trăm. Trong khi ai cũng
dùng giọng Hà Nội để ca tân nhạc, dùng tiếng Sài Gòn để
ca vọng cổ, thì Nguyễn Tấn Hưng phây phây, hưỡn hưỡn
giục tới bằng giọng Mỹ Tho một trăm phần trăm, bằng tiếng
đàn thùng tây ban cầm giản dị với vài hợp âm căn bản, không
tăng (augmented), giảm (diminished) hoặc quãng 6, hợp âm đối...
Tóm tắt, "ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng" không bịa đặt, không
làm dáng, không bắt chước ai cả. Ðó là đặc trưng của
một người Việt, miền Nam, chính hiệu và thoải mái với
mình với người.
Âm nhạc của Nguyễn Tấn Hưng cũng y như anh. Nghĩa là giản
dị, thuần hậu, đầm ấm, thật thà trong tình người, tình
yêu quê hương miền Nam.
Ðây là thứ âm nhạc, tình cảm thuần nhất Nam Kỳ của một Lam
Phương hồi nào. Thật dễ thương. Thật hào sãng.
Tôi tin tưởng rằng, nếu tình hình Việt Nam thay đổi, nếu
nhạc Nguyễn Tấn Hưng về tới Việt Nam thì chắc chắn sẽ
được đồng bào tiếp đón với bàn tay rộng mở. Với
lòng ưu ái thân thương của người mẹ hiền đón đứa con
đi xa mới về.
Florida ngày 9 tháng 4 năm 1996
BS Nguyễn Ðức An
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp