Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tiến Lên Thượng Giới
Nguyễn Tấn Hưng
Theo quan niệm thông thường của người Việt Nam
chúng ta thì mỗi người đều mang trong mình hai phần:
hồn (soul) và xác (body). Phần xác, dễ hiểu hơn,
theo kinh sách thì tạm gọi là... "thân tứ đại" do đất,
nước, gió, lửa tạo thành, nên khi chết thì thân này
trả về với cát bụi. Phần hồn thì trừu tượng và
gồm ba thứ: sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (spirit).
Cỏ cây đất đá chỉ có mỗi một thứ là sinh hồn,
loài thú cầm thì được hai thứ sinh hồn và giác hồn,
còn làm người thì có cả ba. Hồn thì trường tồn,
bất tử.
Rồi, đi xa hơn một chút, cũng theo quan niệm thông thường
của người Việt Nam mình, thì khi hồn xuất ra khỏi xác
(lúc còn sống hoặc lúc chết) thì hồn không còn là hồn
nữa mà gọi là... phách hay vía. "Hồn phi phách tán,"
"hồn vía lên mây," "hú ba hồn chín vía" là những câu ta
hay nói hằng ngày. Nhưng tại sao có vụ "nam thất nữ cửu,"
nghĩa là đàn ông chỉ có bảy vía mà đàn bà lại có đủ
chín vía? Thì đây, trong quyển "Bí Ẩn Sau Cõi Chết,"
ông Ðoàn Văn Thông có giải thích và ghi chú như vầy:
Nếu ta chấp nhận theo ý nghĩa xưa - không hẳn đúng với
sinh lý học (physiology) hay giải phẫu học (anatomy) ngày nay vì
lẽ dễ hiểu khoa học chính xác chỉ mới có 5, 10 thế kỷ
gần đây - những khí hay hơi, hay vía, hay phách phải thoát
ra từ những lỗ (chữ Nho là khiếu) thì con người có cửu
khiếu, chín lỗ hổng, đó là: hai mắt, hai lỗ tai, hai
lỗ mũi, một miệng, một lỗ tiểu, và một hậu môn.
Vậy tại sao nam chỉ có bảy và nữ lại đến chín? Nơi đây
một lần nữa, ta coi chừng ý nghĩa của từ và lối dùng
từ (với nhiều nghĩa tương đồng) của văn hóa Trung Hoa (và
Việt Nam), chẳng hạn khi dùng số 5, có khi 5 không phải là
số lượng, 1, 2, 3, 4, 5, mà có thể là thổ, đất hay
trung tâm v.v... và chẳng có gì nghịch lý (theo lối suy nghĩ
này) là 10 cũng là thổ v.v... Với thời gian và thói quen,
người ta dùng lầm chữ này qua chữ khác, như khi nói nam,
ta dịch ra là đàn ông, nói nữ dịch ra là đàn bà, phụ nữ,
quên là trong bối cảnh nhất định, nam là dương, nữ là
âm. Thay vì nói: nam bảy vía, nữ chín vía; ta đặt lại:
bảy vía dương, chín vía trong đó có hai vía âm, chúng ta
có thể hiểu "câu thai" ấy. Nói người đàn ông không cò
và lỗ thì thật là nghịch lý đời, nhưng ta có thể chấp
nhận: có thất khiếu thuộc dương vì ở trên đầu (phía
trên), vì hướng lên (mắt, tai, mũi, miệng) và hai khiếu
kia thuộc âm (không phải chỉ thuộc phụ nữ) là ở dưới
thấp, hướng xuống dưới. Một nhà nghiên cứu Dịch học
tạm thời chấp nhận giải thích trên. Cũng có thể có
những lối giải thích khác rõ ràng và thực tế hơn. (Theo
giải thích của học giả Cung Giũ Nguyên).
Nếu "tạm thời chấp nhận giải thích trên" thì chuyện "nam
thất nữ cửu" theo phong tục tập quán xưa nay được coi
như là... không chính xác cho lắm, vì đàn ông lẫn đàn
bà đều có chín lỗ, cửu khiếu như nhau. Còn nữa,
phách và vía, như trên, thuộc thể khí thể hơi (air, gas,
steam) nhưng có điểm tương đồng nào không? Tại sao lại
phải sử dụng hai từ này để chỉ một loại, một thứ?
Trong quyển "Hành Trình Về Phương Ðông" của Spalding, Nguyên
Phong dịch, chương 8 "Cõi Giới Vô Hình", Pháp sư người
Ai Cập Hamound El Sarim, đã có trả lời câu hỏi của phái
đoàn Giáo sư Ðại học Oxford, Anh quốc, như sau:
"Ða số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất
hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao?"
"Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình của thể phách
đang tan rã chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết,
thể xác hư thối thì thể phách, vốn là thể trung gian
giữa thể xác và thể vía, cũng tan rã theo. Thể phách
được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với
nguyên tử cõi trần nhưng trong đó có nhiều nguyên tử
"dĩ thái" nên nhẹ hơn, nó thu nhập các sinh lực còn rơi
rớt trong thể xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm
một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không
hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có
những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay la đà
trên các nấm mồ. Người không hiểu gọi đó là ma..."
À, thì ra... "thể phách, vốn là thể trung gian giữa
thể xác và thể vía" và chỉ tồn tại trong thời gian thể
xác người chết bị tan rã dần dần. Khi thể xác tan rã
hết rồi thì phách cũng tan rã theo để tạo thành thể vía.
Như vậy, lúc còn sống thì sao? Phách và vía lúc này chỉ
là một? Nào ai rõ được! Song, theo kinh sách cho biết
thì, đại khái, ở thể xác ta có lục căn (nhãn, nhĩ, tỉ,
thiệt, thân, ý), khi chuyển qua thể vía ta có lục thức.
Căn bản là thế, còn muốn tìm hiểu sâu xa hơn thì ngoài
lục thức chúng ta còn mang theo tàng thức (còn gọi là a-lại-da
thức), thức thứ tám, tức là thức làm nơi dự trữ
những dữ kiện đời đời kiếp kiếp (giống như cái
hard-drive trong computer), và tống đạt thức (còn gọi là
mạt-na thức), thức thứ bảy, tức thức làm nhiệm vụ liên
lạc (giống như các chương trình điện toán, computer
application-programs), để mang ra hoặc trả vào các dữ kiện
dự trữ trong tàng thức, v.v...
Tuy nhiên, cũng trong "Hành Trình Về Phương Ðông," chương
2 "Khoa Học Thực Nghiệm Và Khoa Học Chiêm Tinh Bí Truyền,"
chiêm tinh gia Sudeih Babu của xứ Ấn Ðộ lại tiết lộ thêm
một thể khác nữa, thể trí, như sau:
Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể
trí tương ứng với ba cõi, hạ giới, trung giới và thượng
giới. Thượng Ðế cũng thế, tất cả vật chất cõi trung
giới hợp thành thể vía của Ngài và tất cả vật chất cõi
thượng giới hợp thành thể trí của Ngài. Tóm lại, tất
cả đều là thành phần của Thượng Ðế từ hạt bụi đến
các giải thiên hà. Mọi vật chất cấu tạo nên chúng ta đều
là một thành phần của Thượng Ðế xuyên qua bảy cung - khi
qua đây nó bị thay đổi ít nhiều tùy ảnh hưởng của các
cung...
Thế thì, ngoài việc thể xác tương ứng với cõi phàm
trần, hạ giới, chúng ta còn hiểu cặn kẽ thêm rằng,
thể vía cũng chỉ sống lẩn quẩn ở bảy cõi trung giới mà
thôi. Muốn lên cao hơn, cõi thượng giới, chúng ta phải
có... thể trí. Mà muốn có thể trí thì, theo kinh sách
dẫn giải, trước tiên, chúng ta phải tạo được xá lợi,
kim thân! Hoặc ở cõi phàm trần hoặc ở cõi trung giới
(mất nhiều thời gian hơn, hằng ngàn năm, vì không còn
thể xác phàm tục nhưng chứa đủ tam bửu, ngũ hành). Rồi,
muốn tạo được xá lợi, kim thân ngay ở cõi hạ giới này
thì phải... tham thiền, tịnh luyện, tụ khí, qui tam bửu
ngũ hành theo đúng phương pháp, nguyên tắc do "Bề Trên"
hay "Minh Sư" hướng dẫn, chỉ dạy.
Trong đàn cơ tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, USA, ngày
5 tháng 7, năm 1978, đức Ðại Giác Kim Tiên, Thiên Huyền
Tâm, trong phẩm "Luận Về Ăn Chay Và Việc Ðộ Siêu" có
giải rõ mọi điều như sau:
Luận về Thiên Ðạo và Phật Ðạo thì việc ăn chay tức
là con đường thoát tục. Con đường ấy tuy dầu không
mấy xa nhưng phải gắng công trên mọi khổ hạnh. Người
ta cần ăn chay để khử trược, lưu thanh để tránh Nhân
Quả. Vì những khi điểm anh hồn sắp rời xa thể xác
thì giữa cơn thao thao tuyệt khí lúc ấy phải cần cho
đầy đủ một khối tinh quang, thì khối tinh quang ấy mới
có đủ khả năng mà thăng lên cõi Thượng giới. Khối hào
quang tinh anh ấy gồm tất cả luồng điển thanh, cũng như
nhờ ăn chay và tu luyện mà lọc lừa hết các chất trược
bẩn do hậu thiên cấu tạo. Gồm cho đầy đủ năng lực
của Tiên Thiên, qui Tam Bửu lại cho đầy, hiệp Ngũ Hành
cho đủ, vận chuyển pháp luân để cho âm dương kết hợp
mà tạo đặng Kim thân. Phép tu luyện kia cũng nhờ cộng
chung sự trường trai ấy mà khối tinh anh sáng tỏ như trăng
chiếu lên đỉnh đầu, phối hiệp với luồng điển thanh
hư thì điểm anh hồn ấy mới có đủ khả năng mà vượt
lên khỏi bảy từng lớp ác đạo, để phi thăng lên đến
cõi Thượng Giới hư vô.
Ðây Lão xin giải rõ 12 cõi Thiên Ðường:
Kể từ mặt địa đạo này gọi là thế giới Ngũ Hành Tinh
Lên tới cõi thứ 2 gọi là Bát Quái Tinh
Lên tới cõi thứ 3 gọi là Tứ Tượng Tinh
Lên tới cõi thứ 4 gọi là Lưỡng Nghi Tinh
Lên tới cõi thứ 5 gọi là Thái Cực Tinh
Lên tới cõi thứ 6 gọi là Trung Thiên Tinh
Lên tới cõi thứ 7 gọi là Thất Tuyệt Tinh
Lên tới cõi thứ 8 gọi là Bát Tú Tinh
Lên tới cõi thứ 9 gọi là Cửu Ðồ Tinh
Lên tới cõi thứ 10 gọi là Nam Thiệm Tinh
Lên tới cõi thứ 11 gọi là Bộ Châu Tinh
Lên tới cõi thứ 12 gọi là Ðại La Tinh
Cõi nầy mới là cõi Thiên Ðàng thật sự, là nơi Linh
Tiêu Ðiện Bạch Ngọc Cung chính là nơi của Ðức Ngọc
Hoàng Thượng Ðế ngự mà quản cai hết ba ngàn thế giái,
tức là một nước Thiên Ðàng thật sự dành cho Trời,
Phật và Thánh, Tiên an tại đời đời. Các linh hồn
chơn tu sẽ được đào sanh nơi đó mà hưởng cuộc thanh
nhàn, vô phiền, vô não, bất diệt, bất sanh và nước
nầy sẽ không có mười điều dữ và ba điều ác như ở
cõi thế gian.
Khi điểm linh quang vừa xuất khỏi xác trần thì đã sẵn
có các vị Thiên Thần cầm phướn dẫn đàng, noi theo ngọn
phướn ấy mà bay thẳng lên. Nếu thoảng như linh hồn
không được luyện tu, chẳng có Kim thân, dầu cho có công
ăn chay, nhưng cũng chỉ là còn phải tạm ở một cõi thanh
nhàn nơi cõi giái trung để cần lo tu luyện thêm, khi nào
chứng đặng Kim thân rồi thì mới lên cõi Thiên Ðàng
đặng. Là bởi vì các linh hồn không có Kim thân sẽ
không thoát qua giới tính thứ 5 tức là vòng Thái Cực, vì
cõi Thái Cực nầy toàn là một thế giới lửa. Chất
lửa trời sức nóng vô cùng cực, dầu cho sắc thép cũng
tiêu tan! Chỉ có Kim thân mới là chịu đựng nổi để
vượt qua vòng lửa ấy. Nhưng khi qua khỏi vòng Thái Cực
rồi, thì đến cõi thứ 10 sẽ không cần dùng đến Kim thân
nữa, vì Kim thân ấy chỉ cần dùng cho trong khi bay qua vòng
Thái Cực mà thôi. Ðến cõi thứ 10 nầy thì ta lại bỏ
Kim thân rồi mới đặng nhẹ nhàng để tiến lên cõi thứ
11. Cũng như từ cõi giái trung mà ta cần tu diệt hết
bảy cái Thất Tình thì linh hồn ta đã lên được tới cõi
thứ 7, là vì mỗi cái của Thất Tình sẽ làm cho ta phải
nặng mà tuột xuống. Trong khi từ cõi Thiên Ðàng, một
Nguyên nhân xuống thế thì khi ấy mỗi cõi phải thêm một
món cho có đủ sức nặng mới được xuống. Ðến lúc
trở lên ta phải bỏ mỗi thứ mới đủ nhẹ để thăng
lên. Trong khi tu hành ta phải hủy bỏ hết các thứ nầy.
Lên Thiên Ðàng chỉ còn lại có cái Kim thân, Thượng trí
và cái Hạ trí. Thì ba món nầy đến cõi thứ 10 ta phải
bỏ thêm cái Kim thân. Lên tới cõi thứ 11 ta phải bỏ thêm
cái Hạ trí. Lúc bấy giờ ta chỉ còn lại duy nhứt có một
cái Thượng trí. Từ khi bỏ đặng cái Kim thân thì ta càng
cảm thấy đặng nhẹ nhàng, phơi phới mà bay lên cõi thứ
11. Khi ta đến cõi thứ 11 ta bỏ được một cái Hạ trí
nữa thì tinh thần hoạt bát, trí tuệ thông minh, thần
thông quảng đại mà tiến thẳng đến cõi Ðại La tức là
cõi thứ 12 là cõi Thiên Ðàng thật sự, thì bỗng tự
nhiên khi ấy hình dáng đặng tốt tươi, sắc tướng
nghiêm trang, dụng phép mầu mà hóa thành Thiên Kim Phục
Thân, khi ấy mới hoàn toàn có một Thánh thể thật sự,
trên đỉnh đầu chiếu tỏa ánh hào quang, ấy mới gọi là
chơn tướng, sẽ được ngự trên tòa sen mà đồng chung
có sự sống đời đời cũng như sự sống của Trời.
Ta bèn đến điện Linh Tiêu mà ra mắt Thầy, ấy là một
ngày mà ta vinh hạnh bái yết Ðức Thượng Ðế và Tây
Vương Mẫu nơi Linh Tiêu Ðiện Bạch Ngọc Thiên Cung.
Tóm lại, qua phần trình bày trên, nhất là đoạn cuối
tuồng như có ít nhiều... khả lậu thiên cơ, rằng, nếu
chúng ta muốn... tiến lên thượng giới, thì ắt hẳn
phải trải qua nhiều chặng đường khử trược lưu thanh,
tu tâm dưỡng tánh. Nhưng, ở thời Hạ Ngươn này, tức
là thời đại ân xá qua cơ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ,
Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế đã dạy rằng, những
ai có căn cơ mà dốc lòng tu luyện thì dù trong một kiếp
này thôi cũng sẽ đắc thành, thay vì phải chuyển từ từ
qua nhiều kiếp như xưa. Tuy nhiên, hễ được cái này
thì mất cái kia, muốn đắc thành trong một kiếp thì
chắc chắn phải bị "nhồi quả" như đức Lý Thái Bạch Ðại
Tiên đã khuyến cáo:
Ðây, Lão giải rõ về sự nhồi quả cho chư đệ muội
thấy rằng người tu trọn đời làm lành, làm phải, nhưng
ngày kết cuộc cũng phải bị nhồi quả. Ðể chi? Bởi
có nhồi quả trong một kiếp này thì mới được về ngay
với Thầy Mẹ. Bằng không, thì phải trở xuống trần
nhiều kiếp để bồi công trả quả cho đầy đủ.
Những gương người hy sinh tâm đạo, khi kết liễu đều
bị nhồi quả đó, chẳng hạn như Lê Thế Trung đã thọ sắc
Chưởng Quản Chơn Tiên, cho đến Thiện Tịnh (Huỳnh Công Khai)
cũng bị nhồi quả khi lâm chung, nên mới được về với
Thầy trong kiếp chót này.
Vì thời kỳ ân xá, nếu vị nào phát tâm đại nguyện quyết
tu về với Thầy Mẹ trong một kiếp này là phải bị nhồi
quả. Chư đệ muội hãy xem lại lịch sử của các vì Giáo
Chủ, thử hỏi Chúa Giê Su (Jésus Christ) có tội gì mà phải
chịu đóng đinh trên thập tự giá đó?
Người tu hay lâm nạn, đó là một sự thử thách vàng,
thau. Người quyết chí tu hành thực sự, rõ lẽ chánh chơn
rồi thì cũng cứ hy sinh vì lẽ thật, lẽ phải. Phần xác
thịt dù tan rã, chớ linh hồn vẫn bất diệt trường tồn.
Lão thử hỏi, người thế trần có ai sống hoài chăng?
Nhưng cố giữ làm sao cho ra người chơn tu đạo đức thuần
túy, không cho lem ố thanh danh Ðạo; không vì danh, chẳng
vì lợi, không một xu hướng nào lôi cuốn được, cứ
một lòng tin tưởng với Thiêng Liêng là Trời, Phật,
Thánh, Tiên, Thần.
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp