Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Bước Lần Vào Cõi Vô Vi
Nguyễn Tấn Hưng
Trong "Thánh Giáo sưu tập năm 1971," Thầy, tức
Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có dạy:
"Tôn Giáo là con thuyền
đưa khách mà Ðạo là bến đỗ. Các con thuyền cuối
cùng cũng xuôi về bến đỗ!"
Nếu tạm gọi "bến đỗ" là nơi Ðạo ("CÁI ẤY" - trong
Pháp Bảo Ðàn Kinh) đã tạo ra những định luật thiên
nhiên (laws of the nature) trong vũ trụ, trời đất thì "bến
đỗ" đây thật chẳng khác gì cõi "Niết Bàn" của những
ai "ngộ" Ðạo. Vốn... vô thỉ vô chung, vô sắc vô
tướng, vô hương vô thanh, hư hư tịnh tịnh, huyền
diệu vô vi.
Dường như hầu hết các Tôn Giáo trên thế giới đều
có đề cập đến cõi hữu hình (tạm hiểu là cõi sống
trên quả Ðịa Cầu 68 của chúng ta, một trong 72 Ðịa
Cầu, thất thập nhị cầu, theo Ðạo Cao Ðài) và cõi
vô vi (tạm hiểu là cõi sống của Trời, Phật, Tiên,
Thánh, Thần và, kể cả, ma, quỷ, yêu, tinh) mà,
bằng mắt thịt tai phàm, chúng ta không nghe không thấy
được.
Rồi, nếu ta chấp nhận... chết là chưa hết, chấp
nhận có linh hồn và sự luân hồi nhân quả, thì sau khi
chết dường như chúng ta chẳng phải đi đâu hết, mà
chỉ là... lá rụng về cội. Linh hồn ta lại rơi về
cõi vô vi (thiên đường hay địa ngục), lại nhập vào
Ðạo. Nhưng, với nhiều thứ lớp khác nhau, từ thấp
lên cao, tùy theo căn nghiệp đã làm ở cõi hữu hình,
trần tục. Thấp thì là cõi hạ giới của ngạ quỷ súc
sanh, cao là các cõi trung thiên, thượng thiên và cao
nhứt là "Niết Bàn" của Thần Thánh Tiên Phật.
Well, đợi đến lúc chết thì dù có nghe có thấy đi
nữa cũng đã muộn mất đi rồi! Không còn châm chế,
cải biến gì được! Bởi vậy cho nên, vì thương xót
chúng sanh, Trời Phật Tiên Thánh Thần... cũng đã ra
công chỉ dạy cho tất cả mọi người những phương pháp
tịnh luyện để có những khả năng... nghe và thấy các
cõi vô vi, siêu hình (nhưng vốn không phải là cứu cánh,
mục đích của sự tịnh luyện). Ngặt một nỗi, không
phải ai tịnh luyện thì đều đắc thành và, hiển nhiên,
có được các phép... "thần thông" đó! Vì, phải là
những người đạo đức, căn cơ!
Khoa học hơn một chút, trong quyển "Hành Trình Về Phương
Ðông," 1924, do Nguyên Phong dịch, chương thứ 8 "Cõi
Giới Vô Hình," vị Pháp Sư Ai Cập, Hamoud, có luận
rằng:
Ở cõi trần, tâm thức con người bị giới hạn bởi
ba chiều không gian. Thật ra còn nhiều chiều nữa mà
ta không nhìn thấy. Khối óc của ta chỉ chấp nhận
chiều dài, chiều ngang và chiều đứng mà thôi. Dĩ
nhiên, mọi sự đi đứng, di chuyển cũng chỉ giới hạn
trong ba chiều này. Nếu tôi nói có một chiều thứ
tư thẳng góc với ba chiều này thì các ông sẽ không
thể tưởng tượng nổi. Nhưng không thấy được
đâu có nghĩa là nó không hiện hữu phải không? Muốn
tìm hiểu chiều đo thứ tư này ta cần dùng sự so sánh.
Thí dụ có một con kiến đang bò trên một tờ giấy
phẳng. Giả thuyết rằng con kiến không thể rời khỏi
tờ giấy này được nên thế giới của nó chỉ là một
mặt phẳng giới hạn trong hai bề đo. Dù nó biết suy
luận nó cũng không thể quan niệm được bề đo thứ ba
là bề đứng. Từ không gian ba chiều của chúng ta, ta
có thể làm nhiều điều tầm thường mà con kiến cho
là một phép lạ. Thí dụ như ta để một hạt thóc lên
tờ giấy, con kiến không thể hiểu hạt thóc từ đâu
xuất hiện vì giới hạn trong hai bề đo của tờ giấy,
nó nghĩ rằng mọi vật phải đến từ tờ giấy chứ
không thể ở một cõi nào đó...
...
Các ông đều biết rằng đường thẳng được tạo
ra bởi một điểm kéo dài theo một chiều nhất định.
Nếu ta di chuyển một cái chấm khoảng 2 thước thì ta
có đường thẳng dài 2 thước. Nếu ta tiếp tục di
chuyển chấm ấy một khoảng cách 2 thước nhưng thẳng
góc với đường cũ cho đến khi trở về khởi
điểm thì ta sẽ có một hình vuông có đúng không?
Hình vuông có thể điễn tả bằng con số 2 bình phương
theo toán học. Ðây là hình học mặt phẳng chứ không
có gì lạ. Nếu ta tiếp tục di chuyển theo chiều đứng,
thẳng góc với hình vuông cũ thì ta sẽ có một khối
vuông (Cubic). Khối vuông có thể diễn tả bằng con
số 2 tam thừa. Tóm lại ta có 3 hình: Ðường thẳng,
hình vuông và khối vuông tương đương với số 2, 2
bình phương và 2 tam thừa.
Hình học không gian ngừng lại ở đây, không đi xa nữa
vì ta chỉ biết có 3 chiều mà thôi, nhưng toán học cho
biết có 2 tứ thừa, 2 lũy thừa năm, 2 lũy thừa sáu
và nhiều nữa. Các con số toán học này đều có hình
tương ứng trên phương diện hình học và tương ứng
với 2 lũy thừa bốn hay bề đo thứ tư là chìa khóa
vào cõi âm...
...
Khi vén màn vào chiều đo thứ tư, sự phát minh khoa học
ngày nay chỉ là mảnh vụn, không đáng kể. Con người
có thể du lịch khắp không gian và có quyền năng ngoài
sự hiểu biết của người hiện tại. Trong thời buổi
vàng son, dân Ai Cập đã đi khắp không gian, đến
những giải ngân hà xa lạ nhưng tiếc thay sự giao tiếp
với cõi âm của chiều đo thứ tư đem lại các nguy hiểm
mà họ không biết. Chính vì thế nền văn minh này đã
sụp đổ, biến mất trên mặt địa cầu, chỉ vì thiếu
một nền tảng trí tuệ sáng suốt, biết phân biệt
chân giả...
Trong khi đó, trên bình diện Tôn Giáo, muốn hiểu được
chiều thứ tư, muốn lấy được chìa khóa vào cõi âm,
cõi siêu hình, con người chúng ta dường như bị bắt
buộc phải đi qua con đường duy nhất là... tham thiền
nhập định. Với sự chỉ dẫn của những người đi
trước đã trải qua, đã có kinh nghiệm vì, nếu không,
sẽ có những kết quả tai hại như... tẩu hỏa nhập ma
chẳng hạn... Nói nôm na thì "nghề chơi nào cũng lắm
công phu" và nếu "chơi dao" mà không cẩn thận thì có
ngày sẽ "bị đứt tay" vậy.
Trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển" phẩm "Nhị Xác Thân," Thầy
cũng đã giải thích như sau:
Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân:
Một phàm gọi là corporel. Còn một thiêng liêng gọi là
spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra,
nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thế thấy đặng
mà cũng có thế không thấy đặng.
Cái xác vô hình huyền diệu thiêng-liêng ấy do nơi
Tinh-Khí-Thần mà luyện thành.
Nó nhẹ nhàng hơn không khí.
Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác
phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có
Tinh-Khí, không có Thần, thì không thế nhập mà hằng
sống đặng.
Còn có Thần không có Tinh-Khí thì khó hườn đặng
Nhị-xác-Thân.
Vậy ba món ấy phải hiệp mới đặng.
Nó vẫn là chất tức hiệp với không-khí Tiên-Thiên,
mà trong khí Tiên-Thiên thì hằng có điển quang. Cái
chơn-thần buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn
không khí ra khỏi ngoài Càn-Khôn đặng.
Nó phải có bổn nguyên Chí-Thánh, Chí-Tiên, Chí-Phật
mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.
Phải có một thân phàm tinh-khiết mới xuất Chơn-Thần
tinh khiết.
Nếu như các con còn ăn mặn luyện Ðạo rủi có ấn
chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.
Như rủi bị hườn, thì đến khi đắc Ðạo, cái
trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật
chất tiếp điển (bon conducteur d'e'lectricité) thì chưa
ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn
như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc
Nhân Tiên, thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.
Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới
đặng luyện Ðạo.
Lại khoa học hơn một chút, Pháp Sư Hamoud, trong "Hành
Trình Về Phương Ðông" cũng có nói thêm về sự hình
thành của thể Vía:
Khi chết, ta bước qua cõi trung giới và cõi này
gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo
bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là chất
"Dĩ thái." Tùy theo sự rung động (vibration) khác nhau
mà mỗi cảnh giới (Astral plane) mỗi khác. Tùy theo vía
con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc mà
mỗi người hợp với một cảnh giới, gọi là hiện
tượng "Ðồng thanh tương ứng" mà thôi. Khi vừa chết,
thể chất, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp
lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía
ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều
áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc bên trong, áo
choàng dầy khoác ngoài.
Vì lớp vỏ bên ngoài cấu tạo bằng những nguyên tử
rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các
cảnh giới tương ứng ở cõi âm và con người sẽ đến
với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian,
lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần tan rả giống như con người
trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên
tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác.
Cứ như thế, theo thời gian khi áp lực vật chất tan
rả hết thì con người tuần tự tiến lên, những cảnh
giới cao hơn. Ðiều này cũng giống như quả bóng bay
bị cột vào đó những bao cát mỗi lần cởi bỏ được
một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến
khi không còn bao cát nào thì nó sẽ tự do bay bổng...
Lại khoa học hơn một chút nữa, đi xa hơn một chút
nữa, chúng ta có thể dựa vào các phát minh hiện đại
để hiểu rõ hơn cái "Nhị Xác Thân" "nó nhẹ nhàng hơn
không khí" hay cái "Vía" sau khi chết này được cấu tạo
như thế nào.
Hầu như ai ai chúng ta cũng biết nhà bác học Eisntein, vào
khoảng 1905, đã đưa ra giả thuyết ánh sáng được cấu
tạo bằng những hạt quang tử (photon) và truyền đi với
một vận tốc nhứt định, một hằng số, 300 ngàn cây
số mỗi giây. Và, hiển nhiên, giả thuyết này đã
được chứng minh và công nhận khoảng vài năm sau đó.
Ngày nay, các nhà bác học trong đó có Lijun Wang, đã
chứng minh được rằng các "vi tử" (particles) nhỏ hơn
nguyên tử, quang tử... được truyền đi với vận tốc
nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Nói chung chung, càng nhỏ
thì sự chuyển động càng nhanh. Nhanh đến độ các
"vi tử" này có thể tồn tại và hiện diện cùng lúc
ở hai nơi, nơi đi và nơi đến. Hay ngược lại, chúng
ta cũng có thể nói... chẳng từ đâu đến, chẳng đi
về đâu. Và, hóa ra, "chẳng từ đâu đến, chẳng
đi về đâu" lại là nghĩa chữ Hán hai tiếng "Như Lai"
của Ðức Phật mà thôi (Vô sở tùng lai diệc vô sở
khứ cố danh Như Lai). Phải chăng "pháp thân" hay "kim
thân" của Ðức Phật được cấu tạo bằng các "vi tử"
cực cực nhỏ?
Trong tài liệu bí mật của nhà thần học người Nga, Madame
Blavatsky, phần ghi lại các tài liệu cổ, có gọi những
"vi tử" ở các cõi vô vi, siêu hình là "Koilon." Tạm gọi
là chất, là hạt, là bọt, hay là khí... "Tiên Thiên"
vậy. Và mật độ (cm3?) của các "vi tử" này được
chiết tính như sau (không thấy ghi cõi hạ giới của
ngạ quỷ súc sanh):
- Cõi trần gian (Physical Plane) có 49 lũy thừa 6 "vi tử,"
khoảng 13.8 tỷ.
- Cõi trung giới (Astral Plane,
chia thêm ra 7 cõi nữa tương
tự như Pháp Sư Ai Cập trình bày ở trên
) có 49 lũy thừa
5 "vi tử," khoảng 282.4 triệu.
- Cõi hạ thiên (Inferior Mental Plane) có 49 lũy thừa 4 "vi
tử," khoảng 5.7 triệu.
- Cõi thượng thiên (Superior Mental Plane) có 49 lũy thừa 3
"vi tử," khoảng 117.6 ngàn.
- Cõi bồ đề (Buddha Plane) có 49 lũy thừa 2 "vi tử," tức
2401 "vi tử."
- Cõi niết bàn (Nirvana Plane) có 49 lũy thừa 1 "vi tử,"
tức 49 "vi tử."
- Cõi đại niết bàn (Paranirvana Plane) có 49 lũy thừa 0 "vi
tử," tức 1 "vi tử."
Lối giải thích về 7 cõi trung giới (Astral Plane) này cũng
rất phù hợp với sự giải thích về 7 thể linh hồn của
Thầy trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Luyện Ðạo"
như sau:
Linh hồn của con người từ ở cõi Bồng Lai Tiên Cảnh
(các cõi hạ thiên, thượng thiên, bồ đề?)
hoặc
Cực Lạc Niết Bàn
(niết bàn và đại niết bàn?)
mà muốn đầu thai xuống cõi hạ giới này là cõi thứ
7 thì đã trải qua 6 cõi hư linh ở thượng tầng không
khí, mà mỗi khi trầm xuống mỗi cõi hư linh thì linh
hồn phải chịu dưới quyền cấu tạo của Tạo Hóa chi cơ,
nghĩa là phải thọ bẫm thần khí ở cõi hư linh đó mà
bao bọc thêm ra ngoài một lớp thể chất nữa, mà hễ
càng trầm xuống xa chừng nào thì lại càng nặng nề thêm
chừng ấy. Khi trầm xuống cõi đến dục giới này lại
còn phải mang thêm một cái xác thân phàm tục trọng trược
đủ điều, nhưng cũng nhờ có cái xác thân phàm, đủ
đầy tam bửu ngũ hành mà kẻ giác ngộ con đường lành
lo tu hành đặng có tấn hóa trở về nguyên vị cũ. Ðó
là Thầy giải về sự thối hóa hay tấn hóa của linh hồn
do luật dinh hư của Tạo Hóa. Chí như ngày hôm nay, nhằm
thời kỳ Thiên ân đại xá, Thầy giáng trần gieo rải mối
chơn truyền để độ rỗi cả toàn linh, tức là Thầy
vạch con đường tắt cho Tiên thể hay Kim thân của các
con về thẳng nơi Thầy, khỏi phải ngưng nghỉ ở mấy
cõi hư linh để cổi cho rồi 7 lớp thể chất bao bọc lấy
linh hồn.
Ðể kết luận, chúng ta nhận thấy trước sau gì chúng
ta cũng sẽ rơi vào một trong những cõi vô vi, siêu hình
nêu trên tùy theo duyên nghiệp sau khi chết. Chuyện đáng
nói là chúng ta cũng có thể du hành vào những cõi này ngay
khi chúng ta còn sống. Với điều kiện trước tiên cần
và đủ là phải "trường trai" (chưa kể đến diệt dục)
như Thầy đã dạy! Với mục đích "khử trược lưu thanh"
cho thân tâm nhẹ nhàng thì mới tạo được "Nhị Xác Thân"
để, nói nôm na là, xuất hồn ra khỏi xác phàm.
Liệu chúng ta có làm được hay không đây? Nếu chưa
làm chủ được cái thân xác này thì làm sao làm chủ
được cái tâm linh để mong thành... Tiên, Phật?
Chuyện nhỏ nhoi hơn nữa là... "Không có Tiên Phật nào
mà còn tánh ích kỷ hẹp hòi cả!" như Lý Thái Bạch Ðại
Tiên đã khuyến cáo trong phẩm Khoan Hồng Ðại Ðộ (Thánh
Ðức Chơn Kinh), mà nếu chúng ta vẫn còn mang tánh thường
tình... "ích kỷ hẹp hòi" thì, than ôi, con đường tu hành
chắc chắn phải còn... dài, dài lắm! Và có thể chỉ
những bậc đại hùng đại lực đại trí, dám làm nổi
kiểu... "chín năm diện bích" mới mong đắc thành chánh
quả mà thôi!
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp