Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Một Vài Ðiều Ðáng Suy Nghĩ
Nguyễn Tấn Hưng
Từ ngày liên lạc với Thiên Lý Bửu Tòa, Cao Ðài
Ðại Ðạo, tôi có dịp nghiền ngẫm kinh Cao Ðài lẫn
sách Phật. Chẳng bù trong thời gian trước, toàn
đọc sách văn chương, tiểu thuyết. Và viết nữa,
cũng ba điều bốn chuyện lăng nhăng lải nhải như vậy
thôi. Giờ biết ra, hai thứ thật quả là khác nhau xa!
Trong nửa thế kỷ ở Việt Nam và một phần tư thế kỷ
ở Hải Ngoại, kinh sách Cao Ðài Ðại Ðạo nhiều vô số
kể. Những cuốn căn bản như
Thánh Ngôn Hiệp Tuyển
(Tòa Thánh Tây Ninh, 1924-1927)
, Tu Chơn Thiệp Quyết
(Thánh Thất Kiên Giang, 1930)
, Lịch Sử Quan Phủ Ngô
Văn Chiêu
(Tòa Thánh Chiếu Minh, 1932)
, Thánh Ðức
Chuyển Mê
(Ngọc Vân Ðàn, 1935)
, Thánh Ðức Chơn
Kinh
(Ngọc Minh Ðài, 1936)
, Ðại Thừa Chơn Giáo
(Chiếu Minh Ðàn, 1936)
, Thánh Ðức Chơn Truyền
Trung Ðạo
(Ngũ Phụng Kỳ Sơn, 1938)
, Thánh Huấn
Hiệp Tuyển
(Tòa Thánh Tiên Thiên, Châu Minh Ðàn,
1959)
, Khuyến Nữ Hồi Tâm
(Châu Minh Ðàn, 1959)
,
Bình Minh Ðại Ðạo
(Hòa Ðồng Tôn Giáo, Phú Lâm,
1968 phần I, 1970 phần II, 1972 phần III)
, Thánh Giáo
Sưu Tập
(từng năm từ 1965 đến 1971 do Cơ Quan Phổ
Thông Giáo Lý truyền bá), v.v... trước 75 và
Ðại
Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp
(Thiên Lý Bửu
Tòa 1982)
, Bảo Pháp Chơn Kinh
(tức Di Lặc Chơn Kinh,
Thiên Lý Bửu Tòa, 1984)
, Pháp Bảo Tâm Kinh
(tức
Quan Âm Phổ Chiếu, Thiên Lý Bửu Tòa 1986), v.v... sau
75.
Nhìn chung, kinh sách Cao Ðài có phần nào dễ hiểu hơn
vì viết thẳng bằng tiếng Việt so với kinh sách Nho,
Lão, Phật thường được dịch từ chữ Hán. Tuy nhiên,
cũng không có nghĩa là dễ hiểu đâu! Một là còn nhiều
đoạn lại viết bằng chữ Nho! Ngay trong phần kinh nhật
tụng, kinh cúng tứ thời, các đoạn "chí tâm quy mạng lễ"
với Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Thích Ðạo, Lão Ðạo, Nho
Ðạo là những thí dụ. Hai là chưa nói hết, phải lần
mò tìm hiểu, như những đoạn dạy tịnh luyện tạo xá lợi
kim thân chẳng hạn, có thể vì lẽ... "khẩu khẩu tương
truyền, tâm tâm tương ấn" theo kiểu "thiên cơ bất khả
lậu."
Có điều đáng nói là phần lớn kinh sách Cao Ðài Ðại
Ðạo có một hình thức đặc biệt riêng, thường bắt
đầu là phần "Khai Kinh," tiếp đến phần "Giảng Kinh"
và sau cùng chung cuộc bằng phần "Mừng Kinh Kết Thúc."
Hầu hết là những bài thơ ngắn (thất ngôn bát cú hoặc
phú) hay là những bài trường thiên (lục bát hoặc song
thất lục bát), xen kẽ với những đoạn tản văn (thường
xuất hiện trong phần "Giảng Kinh") được chỉ dạy bởi
chính Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, và các vì
Phật, Tiên, Thánh, Thần mà tên tuổi tuồng như rất
gần gũi và quen thuộc với chúng ta.
Lấy quyển Thánh Ðức Chơn Truyền Trung Ðạo (Ngũ
Phụng Kỳ Sơn năm 1938) làm thí dụ, thì có quý ngài...
Khương Thái Công
(Khương Thượng Tử Nha)
, Ngũ
Nhạc Sơn Thần, Lê Sơn Thánh Mẫu, Ðông Phương Lão
Tổ, Quan Thánh Ðế Quân
(Quan Công)
, Ngọc Hoàng
Thượng Ðế
(tức Thầy hay nôm na là Ông Trời)
,
Diêu Trì Kim Mẫu
(tức Mẹ hay nôm na là Bà Trời)
,
Thái Thượng Ðạo Tổ, Khổng Thánh Tiên Sư, Thích Ca
Mâu Ni Phật, Lý Thái Bạch
(Giáo Tông Ðạo Cao Ðài)
,
Quan Âm Như Lai, Gia Tô Giáo Chủ, Di Ðà Phật Tổ, Hồng
Quân Lão Tổ, Ðấu Chiến Thắng Phật
(Tề Thiên Ðại
Thánh)
, Ngôi Hai Giáo Chủ Ngô Ðại Tiên
(Ngô Văn
Chiêu, người sáng lập Ðạo Cao Ðài tại thế do chính
linh quang của Thầy chiết xuống phàm trần)
, Ngươn Thỉ
Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ, Thập Bát La Hán, Chuẩn
Ðề Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Nhiên Ðăng Cổ Phật,
Nam Cực Chưởng Giáo
(Nam Cực Tiên Ông)
, Xích Mi
Lão Tổ, Quỉ Cốc Thoàn Sư, Ngọc Ðảnh Chơn Nhơn, Linh
Bửu Ðại Pháp Sư, Vân Trung Tử, Lục Yểm Chơn Nhơn,
Xích Tinh Tử, Quản Thành Tử, Huỳnh Long Chơn Nhơn,
Liễu Nhứt Chơn Nhơn
(Tôn Tẩn)
, Hậu Sư Thánh Chí
(Pétrus Trương Vĩnh Ký)
, Trần Ðoàn Lão Tổ, Ðông
Phương Lão Tổ
(Ðông Phương Sóc)
, Tây Phương Lão
Tổ
(Tây Phương Sóc)
, Hải Triều Thánh Nhơn, Trường
Tiếu Tiên, Ðông (Tây, Nam, Trung, Bắc) Ba Ðế Quân,
Ðộng Ðình Hồ Tiên Trưởng, Di Lặc Tuyên Quang Phật,
Vô Danh Tiên Trưởng, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn
(Victor
Hugo)
, Chí Thánh Saint Jean, Thánh Nữ Jeanne D'Arc,
Ðạo Hạnh Chơn Nhơn, Cù Lưu Tôn, Thanh Hư Ðạo Ðức
Chơn Nhơn, Ðào Hoa Thánh Mẫu, Vân Hương Thánh Mẫu,
Thanh Hoa Thánh Mẫu, Bát Tiên
(Tào Quốc Cựu, Hớn
Chung Ly, Hàn Tương Tử, Lâm Thể Hòa, Lý Thiết
Quả, Trương Quả Lão, Lữ Ðồng Tân, Hà Tiên Cô)
,
Thất (Nhứt, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục) Nương Tiên
Nữ, Bạch Hạc Ðồng Tử
, v.v... Hóa ra, huyền thoại
về các "nhân vật" trong sách Tàu như Phong Thần, Tây
Du Ký, Ðông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, v.v... hình
như có thật. Ngay cả Ðường Tam Tạng Trần Huyền Trang
hay Tôn Ngộ Không Hành Giả đều là những vị Phật,
vị Thánh..., đừng tưởng bở mà mang tội với
thiên đình!
Trước tiên, như Thầy dạy, Cao Ðài Ðại Ðạo được
thành lập để... quy nguyên Tam Giáo (Nho, Lão và Phật
giáo) và phục nhứt ngũ chi:
Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ chi Ðại-Ðạo là:
Nhơn-đạo
Thần-đạo
Thánh-đạo (Nho Giáo)
Tiên-đạo (Lão Giáo)
Phật-đạo (Phật Giáo)
Tuỳ theo phong hoá của nhân loại mà gầy Chánh-Giáo, là vì
khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì
nhơn-loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.
Còn nay thì nhơn-loại đã hiệp đồng. Càn-Khôn dĩ tận
thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn-loại
nghịch lẫn nhau: nên Thầy mới nhứt định quy nguyên
phục nhứt...
Trong phần tạm gọi là "Nhơn Ðạo" và "Thần Ðạo" chúng
ta hơi ngạc nhiên thấy Thầy, Mẹ lại dạy lại về Tam
Cang (quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang) Ngũ
Thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) và Tam Tòng ( tòng
phụ, tòng phu, tòng tử) Tứ Ðức (công, dung, ngôn,
hạnh). Mà, theo ý kiến của nhiều người trong xã hội
hiện đại, đã cho rằng vài điều đã lỗi thời,
không còn áp dụng được nữa. Như đạo vua tôi, quân
thần cang, thì nhiều nước đã không còn vua. Như
đạo tam tòng của người phụ nữ, nếu đem ra áp dụng
thì sẽ gặp... lớn chuyện với những ai đang hô hào,
kêu gọi, đòi hỏi "nam nữ bình quyền." Thì ra, nếu
muốn sống thái bình thạnh trị như đời Nghiêu, Thuấn
chúng ta có nên "xét lại" để quay về những nề nếp,
giềng mối ngày xưa hay không đây?
Rồi tiếp qua phần "Thánh Ðạo, Tiên Ðạo, Phật Ðạo,"
chúng ta lại thấy căn bản kinh điển Cao Ðài dường như
cũng chỉ dạy môn đồ tu hành theo hai cách giống giống
như Ðạo Phật. Một là tu từ từ (tiệm giáo) qua từng
bậc hạ thừa (hình nhi hạ học), trung thừa (hình nhi trung
học), thượng thừa (hình nhi thượng học), điển hình
qua ba quyển kinh Thánh Ðức (Chuyển Mê, Chơn Kinh và Chơn
Truyền Trung Ðạo). Giống giống như tu Tiểu Thừa hay
Nam Tông của Phật Giáo. Và hai là tu tắt (đốn giáo),
tức đi thẳng vào hàng tối thượng thừa với khẩu pháp
tâm truyền, điển hình qua quyển kinh Ðại Thừa Chơn
Giáo. Lại giống giống như tu Ðại Thừa hay Bắc Tông
của Phật Giáo, một bên gọi là "ngồi thiền" và một
bên gọi là "ngồi tịnh."
Bây giờ, thử hỏi lại một câu hỏi mà nhiều người
đã hỏi và đã ghi rõ trong kinh sách Cao Ðài, tôi chỉ
tạm trích ra đây từ quyển "Lịch sử Quan Phủ Ngô Văn
Chiêu" (câu trả lời của Quan Phủ, vị đệ tử đầu
tiên và là người sáng lập Ðạo Cao Ðài):
Ðạo Cao Ðài là Ðạo gì?"
Ít ai tìm kiếm mà hiểu rõ. Chớ thật là Ðạo Phật.
Con người có tánh hay mới chuộng cũ vong. Thích giáo
truyền đã lâu đời mà vì bị đời nhàm nên ít ai xem
xét kỹ lưỡng, noi theo Ðại Ðạo mà tu luyện, thành
ra Ðạo bị bế. Hễ Ðạo bế thì chúng sanh phải lầm
lạc, gần dữ xa lành. Thượng Ðế, Ngài rất Hồng
Từ, thương chúng sanh mê muội nơi trầm luân khổ hải,
không người dìu dắt, nên Ngài ân xá tội lỗi cho
một kỳ này nữa là kỳ thứ ba (Tam Kỳ Phổ Ðộ - 3ème
amnistie gene'rale) mà độ rỗi chúng sanh. Ngài lại chính
mình Ngài giáng thế mà độ rỗi, lãnh "Thánh Hiệu" là
"CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT," nên Ðạo của
Ngài truyền gọi là Ðạo "CAO ÐÀI."
Rõ ràng hơn nữa, trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển," phần
"Phật - Pháp - Tăng," Thầy cũng đã giảng:
Vì Tân-Luật chưa ra nên Thầy phải giải.
Ðã có Thánh-Tượng Thầy, thì là cốt Ngọc-Hoàng
còn để lại chẳng có nghĩa chi hết. Thầy nói cho
các con rõ: Vì cớ nào trước từ Nhứt-Tổ chí
Lục-Tổ thì thờ Thầy ngồi trước, vì trước là
lớn phải vậy.
(Mở ngoặc: Ðiều này cũng rất phù hợp với kinh
sách "Mật Tông" đã cung kính gọi Ðức Ngọc Hoàng
Thượng Ðế là "Ðại Nhựt Như Lai.")
Khai Thiên-Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng
Thầy; Thầy đã nói một chơn-thần mà biến Càn-Khôn
Thế-Giái và cả nhơn-loại. Thầy là chư Phật,
Chư-Phật là Thầy.
Các con là Chư-Phật, Chư-Phật là các con.
Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có
các chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Thầy khai Bát-Quái mà tác thành Càn-Khôn Thế-Giái
nên mới gọi Pháp; Pháp có mới sanh ra Càn-Khôn vạn
vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng.
Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành
các Ðạo mà phục-hồi các con hiệp một cùng Thầy.
Thầy lập Phật-Giáo vừa khi khai Thiên, lập Ðịa,
nên Phật-Giáo là trước, kế Tiên-Giáo, rồi mới
tới Nho-Giáo. Nay là hạ ngươn hầu mãn, phải phục
lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.
Tỉ như lập Tam-Giáo quy nhứt thì:
Nho là trước
Lão là giữa,
Thích là chót.
Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh,
Thần mà đưa chúng nó lại vô-vi chi khí, chính là
Niết-Bàn đó vậy...
Như vậy, Ðạo Cao Ðài chính là Ðạo Phật, hay có
thể tạm gọi là Ðạo Phật Mới! Rồi, những Phật
Tử tu theo Ðạo Phật Cũ phải làm sao đây? Chẳng lẽ
lại bỏ Phật theo Thầy? Dường như chưa ai dám phạm
thượng mà đặt câu hỏi này với Bề Trên! Thật ra,
theo Thầy thì cũng chẳng bỏ Phật vì Thầy cũng là
Phật mà thôi! Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tìm
ra câu trả lời qua sự giải thích của Thầy trong kinh
"Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Ðại Ðạo Phục Hưng - Cao
Ðài Xuất Thế" như sau:
Ðã biết rằng Ðạo là thanh thanh, tịnh tịnh, không
ứng lộ ra ngoài, nhưng muốn lập giáo phải làm sao?
Phải bày cơ hữu hình để chỉ cho rõ lý mới được.
Vậy cách lập giáo của Thầy cũng không chi lạ, chỉ noi
theo Tam Giáo trước mà làm qui-củ chuẩn-thằng rồi đem
gồm về một mối chánh.
Tam-Giáo trước là: Nho, Thích, Ðạo vì hoằng khai cũng
đã lâu đời, nên bị biến cải mà thành thử phải thất
chơn truyền làm cho sai lạc mất hết cả Thiên-cơ mầu
nhiệm, bởi đó nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì
chẳng có.
...
Ngày nay Thầy đến đây đem ba nền Tôn-Giáo hiệp nhứt
lại, tạo thành một Tòa lớn lao để đời đời kiếp
kiếp cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ
thảm sầu. Ba nhà Tôn Giáo ấy tuy đổ sập mặc dầu,
nhưng Thầy cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn
đúng đắn thì Thầy lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra;
như cột, kèo, xiên, trinh, ngói, gạch, cái nào còn
nguyên thì dùng, cái nào bể nát hay hư hao, bị mối ăn,
sâu đục thì bỏ ra. Cây nào cong vạy thì uốn nó lại,
trừ ra uốn không nổi mới bỏ. Thầy lấy các vật ấy
ráp lại thành một Tòa ÐẠI-ÐẠO cho nhơn sanh sùng bái,
tu hành là tòa nhà ngày nay Thầy lập thành đó.
Và chính Ðức Phật Thích Ca Như Lai đã nhiều lần giáng
trần, xác nhận Phật cũng là Thầy, mà Thầy cũng là
Phật, như đoạn cơ bút dưới đây trích từ "Thánh Ngôn
Hiệp Tuyển":
Thích-Ca Như-Lai
Kim viết: Cao-Ðài Tiên-Ông Ðại Bồ-Tát
Chư-Sơn nghe dạy:
Vốn từ Lục-Tổ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho
nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp
bị nơi Thần-Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng
pháp-luật buộc mối Ðạo-Thiền.
Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra, cho nên cam để
vậy, làm cho Phật-Tông thất chánh có gần ba ngàn năm
nay. Vì Tam-kỳ Phổ-độ, Thiên-địa hoằng khai; nơi
"Tây phương Cực-lạc" và "Ngọc-Hư-Cung" mật chiếu
đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật-Tông
Nguyên-Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay
rồi; tại Tăng Ðồ không kiếm chơn lý mà hiểu.
Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành Ðạo... Ôi! Thương
thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì
vậy mà Ta rất đau lòng.
Ta đến chẳng phải cứu mình chư Tăng mà thôi; vì
trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, phải
đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.
Thôi thì tùy duyên phận chúng sanh vì mỗi người
đều tự làm chủ lấy mình, tự quyết định hướng
đi đường tu của mình, tôi chỉ muốn nêu lên... một
vài điều đáng suy nghĩ mà thôi...
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp