Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Phỏng Vấn -- Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3

nhạc sĩ Trường Kỳ

     Nguyễn Tấn Hưng là một tên tuổi quen thuộc trong lãnh vực văn chương với những bài viết, thi phẩm đăng tải trên rất nhiều tờ báo Việt Nam tại hải ngoại. Một số tác phẩm của anh đã được xuất bản và được độc giả dành cho nhiều cảm tình đặc biệt. Từ năm 1991, anh bước chân thêm vào lãnh vực sáng tác nhạc, mặc dù những sáng tác phẩm của anh chưa có dịp phổ biến trên băng nhạc, CD hoặc video nhưng đã gây được khá nhiều chú ý trong giới nghệ sĩ. Nguyễn Tấn Hưng sinh ngày 08 tháng 05 năm 1945 tại Mỹ Tho. Anh rời Việt Nam năm 75 và hiện làm cho công ty AT&T, biết sử dụng guitar mandoline, violon, trống, sáo, v.v... mặc dù chỉ học căn bản nhạc lý với thầy Nguyễn An Ninh ở trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu. Còn về phần thực hành thì tự học lấy hoặc qua bạn bè hay học một cách... hàm thụ với các nhạc sĩ quen biết như Phan Ni Tấn, Linh Phương, Phạm thị Lạc Nhân (đã qua đời tại Chicago).

     Một vài trao đổi giữa Tuyển Tập Nghệ Sĩ (TTNS) và Nguyễn Tấn Hưng (NTH) sau đây sẽ giúp bạn đọc biết thêm một phần nào về một nhà văn kiêm nhạc sĩ này...

     TTNS: Xin cho biết bắt đầu sáng tác vào năm nào, trong trường hợp nào?

     NTH: À, cái này kể ra cũng là dịp để nhắc lại một thời xa xưa đây! Nếu nói sáng tác vào năm nào thì tôi phải nói tôi bắt đầu sáng từ mùa Hè năm 1966, lúc mới bước chân vào quân trường Hải Quân Nha Trang. Dạo đó xem như xa nhà lần đầu, đâm ra buồn, nhớ anh em, cha mẹ, bạn bè, nhớ người tình riêng, nhớ ông bà ông vải... nên hay ngồi trên bệ cửa sổ phòng Alpha 1, gảy đàn lẳng tẳng và, bỗng dưng, phát hứng đặt lời, viết nhạc luôn... Viết cũng hai, ba bài gì đó có... đưa em sang sông (dựa theo bài thơ Những Buổi Mưa Chiều ), có... giáo đường, gác chuông nhà thờ Núi..., nhưng bây giờ quên ráo trọi. Quên cả lời thơ lẫn nốt nhạc.

     Thành thử, bây giờ, có thể nói bản nhạc đầu tiên là bản Chờ (Wait) , sáng tác ở bên Mỹ vào mùa Hè 91. Bản này tôi tự phổ một bài thơ đăng trên báo Thế Kỷ 21 của anh Ðỗ Ngọc Yến, viết theo điệu Valse, có cả lời Việt lẫn lời Anh, để tặng Hồng Lan kỷ niệm một thời còn đi học, xa cách hai nơi... Cho đến hiện giờ, tôi vẫn hài lòng với sáng tác đầu tay của mình...

     TTNS: Nguyên nhân đưa đẩy vào con đường nghệ thuật? Có được khuyến khích lúc ban đầu không, hay là có gặp trở ngại gì?

     NTH: Ðể tôi kể chuyện này anh nghe. Anh biết không, lúc tôi hoàn tất tập thơ đầu tay Một Thoáng Trong Mơ , tôi có gởi cho bạn thơ Phan Ni Tấn nhờ ảnh phổ cho một vài bản nhạc để đăng vào tập thơ cho "ra vẻ" với người ta. Và kể ra anh Phan Ni Tấn cũng có lòng với một tiếng thơ mới ra lò như tôi nên đã phổ cho một bài duy nhất, bài Hóa Thân , chỉ mấy câu ngắn như vầy thôi:

     Khói bay lờ lững ven sông
     Thuyền ai lặng lẽ xuôi dòng nước trôi
     Bóng chiều thấp thoáng lưng đồi
     Tiếng chuông giục kiếp luân hồi thoảng ngân
     Tưởng xa mà hóa ra gần
     Chưa chi lại muốn hóa thân sống đời...


     Nói nào ngay, chính sự việc Phan Ni Tấn phổ bài thơ Hóa Thân đã xui khiến và thúc đẩy tôi quay về với sáng tác nhạc. Tôi biết mình sẽ làm được vì, bằng chứng là, tôi đã làm từ lâu rồi. Bây giờ chỉ làm lại để, trước hết, khỏi phải nhờ vả ai. Và, sau nữa, rất có thể nó hợp với tâm tình, cảm xúc của tôi hơn. Chỉ đơn giản như vậy thôi. Tôi liền bắt tay vào việc, "phóng nhạc" phổ bài đầu tay Chờ (Wait) như vừa nói. Rồi tiếp theo là các bài thơ đăng trong các báo tạm gọi là thuần túy văn học đương thời, như bài Mưa Thu đăng trên báo Làng Văn của Nguyên Hương & Nguyễn Hữu Nghĩa theo điệu Tango, Hè Nhớ đăng trên báo Văn của Mai Thảo theo điệu Boston, Ðổi Ðời đăng trên báo Văn Học của Nguyễn Mộng Giác theo điệu Fox Moderato... Rồi cứ thế mà bắt trớn đi luôn cho tới bài thứ 42 như hiện thời. Tóm lại, trong buổi ban đầu... "đưa đẩy" vào đường nghệ thuật như anh nói, tôi chẳng được ai khuyến khích và cũng không gặp những trở ngại nào lớn lao...

     TTNS: Cho biết tên một số tác phẩm hài lòng nhất và trường hợp đã sáng tác những nhạc phẩm đó cùng với thời điểm?

     NTH: Nếu nói bản nào hài lòng nhất thì tôi có thể nhắc đến bản Hương Quê Tình Khúc , viết dưới điệu Fox Moderato. Tại vì khi đài VOA phát về Việt Nam, trong chương trình giới thiệu nhạc mới tại hải ngoại của anh Dương Ngọc Hoán, thì có một thính giả theo dõi kỹ càng và viết thư gửi sang bảo thích bản này. Lúc ra mắt ở Orlando cũng vậy, sau khi nghe tôi trình bày, anh MC Ðào Vinh cũng có nhã ý sẽ sử dụng bà này làm phông cho một vũ điệu dân tộc vào dịp Tết...

     TTNS: Nguồn cảm hứng thường đến từ đâu?

     NTH: Cảm hứng từ đâu đến hả? Chắc là không đến từ cõi hư vô như một nhà văn nào đã nói! Nhưng tôi cũng không có những... niềm tuyệt vọng, nỗi đau khổ... dường như ê chề, lớn lao như anh muốn nói! Nếu có thì tôi chỉ có lâng lâng, man mác thôi. Kèm vào đó còn có những tưởng tượng, ước mơ, hi vọng của riêng mình. Nhờ vào các cảm xúc đó mà tôi có bản Việt Nam Quê Hương Tôi viết cho đất nước Việt Nam, có bản Khi Xa Sài Gòn cho buổi ra đi, có bản Mẹ để tặng mẹ tôi và các bà mẹ quê Việt Nam, có bản Muôn Kiếp Ðã An Bài để tặng thầy Thích Thanh Từ và các thiền sư Việt Nam, có bản Anh Ra Ði Nơi Này Ðã Chết để trả lời Trịnh Công Sơn về việc Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế , có bản Ðón Xuân cho mùa Xuân, Hè Nhớ cho mùa Hè, Mưa Thu cho mùa Thu... Riêng hai bản viết về biên khu, Biên Khu Chiều Gió Lộng Tiễn Anh Về Biên Khu , thì lại đặc biệt hơn ở một điểm là thời nào hát cũng được. Hiện tại, tương lai, và ngay cả những người vào bưng lập biên khu kháng chiến chống Pháp thời trước, có đội mồ sống dậy hát cũng không sao...

     Cảm hứng đôi khi còn xuất phát do bạn bè, bằng hữu góp ý nữa. Ðại khái có lần Phan Ni Tấn bảo viết thấp quá thì mandoline khảy không được, vilon kéo không vô. Thành thử, lúc viết cũng hay để ý ngó chừng, nhưng đụng chỗ dụng võ thì phải hạ note thôi. Chị Linh Phương nói tránh quảng 8, quảng 10, cao thấp nhiều quá ca sĩ hát hụt hơi. Với tôi thì cũng phải tùy từng lúc. Vì dở ẹt như tôi đây mà tôi còn lên bỗng xuống trầm được thì các ca sĩ khác bắt buộc chắc phải hát được. Một lần khác chị bảo thêm viết nhạc tình muốn thấm thiết thì phải viết... slow. Thế là tôi có lý do làm luôn mấy bản slow xem nó thấm thiết tới đâu. Còn một dạo nọ Nguyên Hương & Nguyễn Hữu Nghĩa (lúc tôi chưa viết Nói Chuyện Với Chủ Báo , còn thân thiện) nhắn nhủ rằng nhạc của ông không có nét đấu tranh. Ừa, rằng thì là tôi có cơ hội làm một mớ đấu tranh. Bà Phạm thị Lạc Nhân gửi cho tôi mấy bài viết về nhạc Việt Nam, đại cương, có đoạn nói ngay cả Trịnh Công Sơn, Phạm Duy... cũng có nhiều chỗ viết sai luật nhưng vì nhiều người đàn sai, hát sai theo cho đến lúc... quá phổ biến trong đại chúng thì cũng đành phải chấp nhận. À, vậy thì lại càng có lý do để tôi không câu nệ mấy về ba cái luật với lệ đó, vì, đôi lúc tôi cảm thấy như nó làm nghẽn đi dòng nhạc của mình... Kể cũng vui...

     TTNS: Có đề ra một khuynh hướng hoặc một chủ trương nào trong việc sáng tác không?

     NTH: Khi viết văn, làm thơ tôi vốn có chút chút quan niệm rằng "văn dĩ tải... vui chơi," thì khi làm nhạc hoặc vẽ vời tôi cũng chỉ muốn theo kiểu "nhạc họa tải... vui chơi," mà thôi. Nếu thật sự "mua vui cũng được một vài trống canh" như thi hào Nguyễn Du ngụ ý, thì cũng là quý hóa lắm rồi. Chuyện "tải đạo, tải đời" cứ để đó cho độc giả thính giả hà hồi phân giải. Thành thử tôi không đề ra một khuynh hướng hay chủ trương nào.

     TTNS: Xin vui lòng cho biết một số kỷ niệm vui buồn trong suốt thời gian hoạt động âm nhạc của anh?

     NTH: Kỷ niệm vui buồn thì nhiều lắm, kể sao cho xiết. Một vài điều vui vui là nhờ viết nhạc tôi quen thêm một số bạn bè bằng hữu trong làng nhạc, cũ cũng như mới và già cũng như trẻ... Còn ngược lại, một trong những điều buồn buồn là tôi gửi tặng hầu hết các trung tâm băng nhạc nhờ phổ biến giới thiệu giùm và cho đến nay, không ai thèm trả lời trả vốn gì với tôi hết. Như gửi vào hư vô... Có lẽ họ đã chê nhạc tôi viết dở, chẳng thu hút thính giả, không hái ra tiền hay sao ấy...

     TTNS: Quan niệm của anh đề ra để theo đuổi như thế nào và cho đến nay quan niệm đó có mang lại cho anh những kết quả nào không?

     NTH: À, có phải anh muốn bàn đến "nhân sinh quan" hay "vũ trụ quan" gì gì hay không đây? Cái này coi bộ lớn lao, khó nói lắm à nghen! Nhưng, phải đặt vấn đề là anh muốn nói đến quan niệm sống của người xưa hay quan niệm sống của người nay? Rồi ngay như chính anh nữa, anh muốn sống cho mình hay anh sống cho tha nhân?

     Nói đùa với anh cho vui thôi chớ, theo tôi nghĩ, quan niệm sống của mình, nói chung, trước tiên chịu ảnh hưởng từ quan niệm sống của cha mẹ, ông bà và xa hơn, giòng họ, tổ tiên. Thứ đến, lúc trưởng thành, vào đời thì bị ảnh hưởng thêm bởi xã hội, văn minh của thời đại mình đang sống. Phải ăn theo thuở ở theo thời và, theo thiển ý của tôi, không nên làm chuyện bơi nước ngược, không giống ai. Có lẽ chính vì nghĩ như vậy mà, ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã chọn cái thế trung dung. Nổi quá cũng chết mà chìm quá cũng tiêu. Cứ xìu xìu ển ển, lưng chừng lơ lửng con cá vàng là hay hơn cả. Trèo cao té nặng. Càng cao danh vọng càng nhiều gian nan. Danh vọng của mình chỉ chừng đó thì mức gian nan của mình cũng chỉ chừng đó. Nhưng, đã mang thân phận... "sống trong trời đất," thì... "phải có danh gì với núi sông." Không màng đến danh vọng thì cũng không được. Nói tóm lại... don't be too extreme, you will be safe. Thế thôi. Mà này, anh cũng nên hiểu rằng, trung dung rất khác với ba phải hay đi chàng hảng nghen...

Trường Kỳ

Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp