Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Truyện Dài: Một Ðời Ðể Học

Nguyễn Tấn Hưng



Làng Văn xuất bản 1988

Mục Lục
00. Tựa của Mai Thảo 01. Một Thời Xa Xưa 02. Học Trò Quê Bên Ngưỡng Cửa Tình Yêu 03. Trong Miền Quá Khứ 04. Vào Lính 05. Ðệ Nhứt Thập Bát Ðao Phủ Thủ 06. Sợi Dây Ðịnh Mệnh 07. Bước Ðầu 08. Chiếc Ðũa Thần 09. Ngăn Sông Cách Núi 10. Nghiệp Dĩ 11. Một Ðời Ðể Học 12. Ðài VOA điểm sách Một Ðời Ðể Học
   back to top

00. TỰA CỦA MAI THẢO

             MAI THẢO

     Từ thành phố Winston-Salem, một cùng đáy khuất lánh của tiểu bang North Carolina tôi chưa tới lần nào nhưng hình dung được sự cách biệt bằn bặt với mọi sinh hoạt chỉ có ở những vùng tập trung lớn, có một bàn viết từ nhiều năm trên quê người đã dựng. Dựng lại. Có một nhà văn thoạt tới Hoa Kỳ và trong lữ thứ đã viết. Viết lại. Cõi viết ấy nối tiếp với một khởi đầu đã có, rất tốt đẹp, ở quê nhà, chỉ bị gián đoạn bởi đại họa và đổi đời xẩy ra trên đất nước, đánh dấu nơi thân thế nhà văn bằng một giã từ vĩnh viễn những năm tháng lộng gió trên nghìn trùng sóng nước, bởi nhà văn ấy, trong quá khứ và trên suốt chiều dài cuộc chiến còn là một sĩ quan của Hải quân Việt Nam. Tôi muốn nói tới Nguyễn Tấn Hưng, cái bàn viết đã được dựng lại, tức khắc và trong một quyết tâm văn chương không lay chuyển không đổi rời của Nguyễn Tấn Hưng, ở Winston-Salem. Với hai tác phẩm mới hoàn thành là truyện dài MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC và tập truyện MỘT CHUYẾN RA KHƠI mà vào tập thân ái này muốn giới thiệu cùng bạn đọc.

     Với California nơi tôi đang sống và như ở trên đã nói, North Carolina là một địa chỉ xa vời. Do vậy, tôi và Nguyễn Tấn Hưng vẫn chỉ có thư từ và điện thoại. Nhưng rút ngắn lại những đường đất và nối liền lại những xa cách, văn chương vẫn có được cho nó và cho người cái hiệu lực tuyệt vời như thế, và trên điểm này Nguyễn Tấn Hưng chưa gặp với tôi đã rất gần rất thân. Lại từ lâu kia. Nhà văn hải quân này, giữa hai lần về bến đã có truyện ngắn hay đăng trên Văn và đã nhiều lần tới thăm báo quán ở đường Phạm Ngũ Lão. Vượt biển, đi ra khỏi nước, gặp lại Văn tục bản ở Hoa Kỳ, qua một hợp tác viết và một kỷ niệm viết thân tình đã có với Văn từ quá khứ, Nguyễn Tấn Hưng đã gửi cho tôi gần như toàn bộ, toàn tập những bản thảo đã viết, mới viết của ông. Như gửi cho một diễn đàn bạn. Và đáp lại, qua những truyện ngắn của ông, lần lượt, đều đặn giới thiệu trên Văn, tạp chí đã dành cho Nguyễn Tấn Hưng một phần đất và một có mặt cũng thân tình như thế.

     Ðọc hết MỘT CHUYẾN RA KHƠI, đọc tiếp tới MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC, tôi thấy được những gì? Thấy được mấy điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương. Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.

     Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao, viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng. Và như thế với chính ông trước đã. Sáu năm tục bản Văn tôi đã gặp nhiều truyện ngắn thật hay. Nhưng ở một số, vẫn tiếc là nếu tác giả viết xong còn chịu khó đọc lại truyện mình, sửa chữa, một lần, nhiều lần, tới chuốt lọc văn thể và hoàn chỉnh bút pháp, như kỹ luật ấy bao giờ cũng có ở những nhà văn lớn, thì truyện đã hay còn được hay hơn gấp bội. Nên thường khuyên các anh em viết mới đừng bao giờ bằng lòng ngay với bản viết lần đầu. Mà đọc lại, sửa lại, viết lại nếu cần, châu đáo, từng giòng từng đoạn. Nguyễn Tấn Hưng không bao giờ phải nhận ở tôi lời khuyên ấy. Những bản thảo ông gửi đi, đánh máy rất đẹp, trang nào cũng hoàn chỉnh như một trang sách đã in cho thấy tính chất chung quyết của bản văn sau khi đọc lại nhiều lần, sửa chữa nhiều lần. Vậy mà còn có những truyện tôi nhận được rồi, vài tuần sau lại nhận được thêm bản mới, yêu cầu hủy bỏ bản cũ vì một đầu truyện, một cuối truyện vẫn thấy là chưa được và đã viết lại, có truyện so hai bản viết với nhau là một viết lại hoàn toàn. Tôi rất ưng ý về nổ lực không ngừng đạt tới hoàn chỉnh ấy của Nguyễn Tấn Hưng. Thấy đó là một phong cách nhà văn.

     Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn Tấn Hưng đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình ảnh của đại dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu đêm tối và giông bão, dẫu phương hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn từ một bến đậu và trở về bến đậu.

     Những người dân lành của một vùng biển mặn và những kinh động từng lúc của chiến thời dài thẳm trong Giòng Sông Của Tùng . Người lính trẻ, cái khuôn mặt diễm lệ tan nát của tình yêu, giữa những vui buồn đầu đời làm thành kỷ niệm, làm thành vốn sống, trong Thành Phố Và Quân Trường . Những hình ảnh, những cảnh tượng khác của cuộc chiến tới một thời kỳ đã kín trùm thân thế, lửa đạn, cái chết và tuyến đầu đỏ lửa bên cạnh điếu thuốc lá và chai rượu mạnh của đời sống thường nhật, trong Mùa Ðông Và Con Ðường . Mưa, gió, những con đường lầy lội, sự buốt lạnh của trời đất hợp nhập với sự buốt lạnh của lòng người trong Chỗ Hẹn . Ðịa danh những hải trình, bến bờ những giòng sông trong Bến Cạn , trong Hạm Trưởng Và Ngọc . Tôi vừa dẫn chứng một số truyện trong MỘT CHUYẾN RA KHƠI. Rồi tới toàn thể những tháng năm, những chặng đoạn đã trải qua và kể lại trong MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC. Ðể chứng về cái bến đậu một đời không rời bỏ của Nguyễn Tấn Hưng, với một bàn viết dựng ở đâu thì cũng là phần đất quê hương, với một hướng viết hướng tới hướng nào thì cũng từ một tâm thể Việt Nam mà viết.

     Ðiều muốn nói cuối chót với vào tập: trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng lấp lánh, thật tốt. Chưa lọt, chưa trùng. Ở từng cái nhỏ, ở từng chi tiết. Nhưng để tới được một thể hiện trong sáng và tốt đẹp ở văn chương, nó còn thiếu cho nó một xếp đặt tinh tế, một gạn lọc cần thiết. Một khoảng cách nữa, để thấy rõ hơn và lớn rộng hơn, từng đối tượng. Bởi chưa nên ở nhiều đoạn, nhiều khúc là những rối rắm, những chen lẫn không ăn nhập của một trí nhớ quá chồng chất, thêm vào là những ngắt đoạn, chuyển đoạn, đảo lộn trật tự thời gian sử dụng hơi nhiều, khiến người đọc khó theo dõi, khó tiếp nhận, và không phân nhận được đâu là những phần chính yếu tác giả muốn dừng lại và những phần thứ yếu muốn chỉ lướt nhanh qua.

     Khuyết điểm nhỏ này chỉ là một khuyết điểm kỹ thuật, rất khó tránh ở các tác phẩm đầu. Và cũng rất dễ khắc phục, nhất là với Nguyễn Tấn Hưng mà mối quan tâm hàng đầu là tạo cho văn thể mình càng ngày càng tới được vững vàng và hoàn chỉnh. Như chính ông đã nói với tôi nhiều lần. Văn chương đã ra khơi rồi. Thân ái chúc Nguyễn Tấn Hưng còn đưa nó tới được thật nhiều những bến bờ tốt đẹp.

   back to top

01. MỘT THỜI XA XƯA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ngày Hùng sinh ra là ngày chiến tranh chấm dứt. Hùng ra đời như một vì cứu tinh của nhân loại. Hùng hay đùa với mình như vậy. Thật ra cũng có chút trùng hợp vì Hùng sinh vào năm cuối cùng của thế chiến thứ hai. Rõ hơn, Hùng sinh nhằm ngày "chiến thắng Âu châu," ngày Hitler đầu hàng Ðồng Minh. Mặc dù mãi sau này Hùng mới biết, nhưng thời đó, thời Hùng mới lớn, miền nam Việt Nam còn chia làm hai mươi mốt tỉnh, đẹp như một bài thơ làm Hùng dễ nhớ:

     Gia Châu Hà Rạch Trà
     Sa Bến Long Tân Sóc
     Thủ Tây Biên Mỹ Bà
     Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc, Cấp


     Gia Ðịnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh. Sa Ðéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng. Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịa. Chợ Lớn, Vĩnh Long, Gò Công, Cần Thơ, Bạc Liêu. Và Cấp tức Vũng Tàu. Sau này, mấy ai biết có bao nhiêu tỉnh ở miền Nam. Nhiều tỉnh đổi thành quận, nhiều quận đổi thành tỉnh, nhiều tỉnh bị đổi tên xóa tên trên bản đồ và cũng có nhiều tỉnh mới mọc lên. Thoạt đầu nghe không hợp tai, Thủ Dầu Một ra Bình Dương, Bến Tre ra Kiến Hòa, Mỹ Tho ra Ðịnh Tường... nhưng nghe riết rồi cũng quen. Mấy lần đóng quân miệt Trà Cú, Ðức Hòa, Ðức Huệ, Hùng có dịp chọc mấy thằng bạn bản xứ:

     - Hậu Nghĩa, Kiến Tường... cái tỉnh sanh sau đẻ muộn của tụi mày có cái tên mới nghe đã thấy bần cố nông rồi, làm sao mà so sánh với những tỉnh có bốn ngàn năm văn hiến như Mỹ Tho, Cần Thơ của tụi tao được.

     Mà thiệt tình, tỉnh Mỹ Tho của Hùng xưa nay vẫn là một tỉnh có tiếng và cũng là tỉnh duy nhất ở miền đồng bằng có đường rầy xe lửa đi Sài Gòn. Có cái hay ở chỗ đó mà rồi cũng bị nhà Ngô gỡ đi.

     Di tích cổ nhứt của Mỹ Tho có lẽ là chùa Vĩnh Tràng, một công trình kiến trúc được xây cất vào khoảng 1840-1842, thời Thiệu Trị. Những khu khác như khu Vườn Lài, chợ Cũ, bến Tắm Ngựa, chùa Chà Và, cầu Quay, bến đò ty công an, chùa Phật Ân, nhà thờ Lớn, Bắt-tam-băng, đài chiến sĩ, lò heo, cây xăng, cầu Bắc, đất thánh Tây, bót số tám, bến xe Mới, bến xe Cũ, Vòng Nhỏ, Vòng Lớn... cũng đâu có gì đặc biệt. Họa chăng là hai cái giếng nước. Ðúng vậy, không có thành phố nào ở miền Nam mà có một giếng lớn như vậy. Mà tại sao không gọi là hồ như hồ Chung Thủy bên Bến Tre chẳng hạn. Hồ nghe lớn hơn giếng nhưng đằng này giếng lớn hơn hồ, trường hợp ngoại lệ. Giếng chắc cũng lâu đời, có lẽ được đào lúc tỉnh mới thành lập, thời Tả quân Lê văn Duyệt xây thành Ðịnh Tường, thành Nam Vang.

     Giếng chứa nước ngọt cho cả thành phố trong mùa gió nam vì nước biển ngược dòng Cửu Long len lỏi vào tận đây. Mùa nước ngọt chẳng ai thèm để ý, qua mùa nước mặn mới thấy mực nước giếng thấp dần. Khoảng mười năm giếng được tu bổ sửa sang một lần. Nước được bơm ra và giếng được phơi khô. Một màn bắt cá, mò ốc gạo, nghêu, sò... rồi mới tới công tác đào giếng, đào sâu thêm để chứa thêm nước. Giếng trở thành một mỏ lộ thiên và công nhân làm đất nhung nhúc như bầy kiến. Ðào một hai thước mà mất đôi ba tháng, xong, xả nước vô, đôi ba tháng sau nước vẫn còn hôi mùi bùn, vị chi phải mất nửa năm giếng mới trở lại tình trạng bình thường...

     Dân chúng sống xung quanh giếng được quyền xài nước giếng nhưng không được tắm giếng, cảnh sát bắt. Ngoại trừ đám học trò, nhứt quỉ nhì ma, đã mang danh là hàng thứ ba thì mặc dù cảnh sát có rượt, học trò có chạy, lâu lâu cũng phải tắm giếng trưa trước khi đi học hay cũng tắm giếng chiều trước khi đi phố. Và nói đến học trò thì phải kể đến trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu, cũng lâu đời, có lẽ chỉ sau trường Bưởi ở Hà Nội và trường Pétrus Ký ở Sài Gòn về phương diện thâm niên.

     Tỉnh Mỹ Tho có năm quận: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Bến Tranh và Chợ Gạo. Trong năm quận, quận Chợ Gạo có lẽ là quận nhỏ nhứt, nghèo nhứt. Nhìn cái nhà lồng chợ thì đủ biết, chỉ lớn bằng hai cái đình. Năm quận nằm dọc theo sông Tiền Giang và hình như càng xa ra biển dân cư càng nghèo. Con gái lấy chồng về miệt gần biển này thì bị chê, lấy chồng đi lên chứ ai lấy chồng đi xuống. Mình lỡ sinh ra trong vùng này thì cũng mắc tội lây, cõng nghèo đem liệng vô bưng, cong lưng vụt chạy ê... ê đừng chạy theo . Rồi cũng chạy theo. Nhưng có lẽ nhờ cái nghèo mà học trò vùng này lại có tiếng học giỏi... Cho đến vùng giáp ranh với tỉnh Gò Công, vùng Hòa Ðồng, chợ Dinh mới thấy dân cư đông đúc, đời sống trù phú trở lại. Phần lớn bà con bên ngoại, mấy cậu mấy dì của Hùng ở vùng này.

     Ðố anh con rít mấy chưn
     Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
     Mấy người bán áo con trai
     Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim


     Chợ Dinh đông người chen chưn như chưn rít? Còn cầu Ô có phải là cầu đen nằm giữa Ðồng Sơn và chợ Dinh? Cầu sơn đen, sau này còn kêu là cầu Sập, bởi vì bị Việt Minh giựt sập. Và tại sao bán áo con trai, bán chỉ bán kim?

     Quận Chợ Gạo được chia làm năm xã: Hòa Ðịnh, Bình Phan, Bình Phục Nhứt, Bình Phục Nhì và An Thạnh Thủy. Ngoại trừ xã An Thạnh Thủy giáp ranh với tỉnh Bến Tre, còn bốn xã kia nằm dọc theo kinh Chợ Gạo, con kinh nối liền miền Tiền Giang và Sài Gòn qua kinh Nước Mặn miệt Gò Công và sông Lòng Tảo miệt Vũng Tàu. Nói đến kinh Chợ Gạo thì phải nói đến bắc Chợ Gạo trên tỉnh lộ 21 Mỹ Tho-Gò Công, loại bắc kéo tay, đôi khi làm trở ngại lưu thông cho cả đường thủy lẫn đường bộ. Mỗi lần tàu tới, phải xả dây cáp chìm xuống đáy cho tàu qua, thắng tàu không ăn lắm nên tàu có quyền ưu tiên. Còi xúp-lê báo động từ đằng xa và nhân công kéo bắc phải nhắm chừng vận tốc của tàu mà làm việc. Nhiều lúc ước lượng sai, phải xả dây cáp khẩn cấp khi bắc đang ở giữa dòng, người và xe lênh đênh trôi dạt vào bờ cả tiếng sau mới về được bến. Mãi đến lúc sắp về nước công binh Mỹ mới cất được cầu Chợ Gạo. Thật là tiện lợi, xe qua cầu mặc dầu cũng phải đóng tiền nhưng không phải chờ đợi, tàu ghe dưới kinh qua lại cũng không cần phải hạ cột buồm vì móng cầu thật cao. Chỉ tội cho bến phà, bị bỏ quên, trở thành hoang lạnh im vắng, cùng chung số phận với hai cây cột dây thép lẻ loi buồn tẻ sừng sững bên trời, dấu vết của Tây để lại. Dọc hai bờ kinh Tây cũng làm lộ, lót đá ong hoặc đá đỏ, cho xe chạy. Ðến lúc Việt Minh nổi dậy thì lộ bị cắt, cầu bị sập đường lớn biến thành đường mòn, rồi nhiều đoạn mất hút trong rừng cây.

     Hùng sinh ra ở xã Bình Phục Nhứt. Muốn tới xã chỉ có hai đường, đường thủy bằng kinh Chợ Gạo, đường bộ bằng con lộ đá đỏ xuất phát từ tỉnh lộ 21, còn con đường dọc theo bờ kinh thì dành riêng cho Việt Cộng. Nếu đi đường bộ, độ nửa chừng lộ đá đỏ, thì ai cũng ngạc nhiên vì hai tòa nhà đồ sộ mọc lên giữa đồng, nhà có hồ tắm trên sân thượng có cái tục danh là lầu Cô-Tám-Cô-Chín. Cô Tám, cô Chín có chồng Tây đã về Tây mấy mươi đời Tây rồi, thành thử lầu bị bỏ hoang, sụp đổ, bây giờ chỉ còn là chỗ nghỉ chân của đám trẻ chăn trâu. Mấy lần ba má Hùng bao xe ngựa về thăm quê trong dịp Tết, cuối thập niên 50, Hùng cảm thấy bùi ngùi mỗi khi đi ngang qua đây.

     Không hiểu ba má Hùng di chuyển về xã Bình Phan vào năm nào, chỉ biết rằng ông nội Hùng muốn ba Hùng về đây lập nghiệp, nối nghiệp ông làm nghề "trại cây." Trại cây của ba Hùng cất tại Cầu Sắt cách chợ quận khoảng một cây số. Phi thương bất phú , ông nội Hùng nói hoài câu nói trên. Ba má Hùng cất trại không bao lâu thì gia đình bà cô Hùng cũng dọn theo, nhưng về chợ quận, cất nhà mở tiệm trên miếng đất mà ba Hùng mới sang. Coi như cho không. Không ngờ cửa tiệm của cô Hùng phát đạt nhanh chóng và từ từ trở thành cửa tiệm lớn nhất trong chợ quận, lầu lên hai ba từng. Cô Hùng giàu, nhưng đám cháu như Hùng cũng chẳng nhờ vả được gì. Giàu cha giàu mẹ thì ham, giàu cô giàu chú ai làm nấy ăn . Vả lại cô Hùng đông con lắm, mười lăm mười sáu đứa. Ðẻ đến đứa thứ mười không còn đặt tên nữa, cứ kêu số, mười, mười một, mười hai... cho đến không biết mười mấy thì bắt đầu đặt tên trở lại, Bích Vân, Bích Thủy.

     Ba Hùng không giàu được là tại vì ông bán chịu nhiều quá, bán chịu khắp cả làng khắp cả quận. Tối ngày chỉ việc đi đòi nợ cũng hết thì giờ. Rồi dần dần bị kẹt vốn không phát triển được. Nhiều trại cưa máy nổi lên, trại mình còn cưa tay thì làm sao mà cạnh tranh được. Tuy vậy chỗ làm ăn lâu cũng có cái tình, bà con trong xã cũng còn lui tới trại của ba Hùng, cho nên gia đình Hùng mới còn cơ hội sống. Mỗi lần "kiến súc" từ Sài Gòn về bến cũng vui lắm, chòm xóm đến phụ rã bè cho cây chìm xuống sông, phải có thứ tự lớp lang, để khỏi bị trôi. Xong việc rồi nhậu nhẹt, tiệc tùng. Lúc kéo "súc" lên đà để "rã tào phô," xẻ đôi, cũng vậy. Người ta dùng dây xiềng bự cỡ cột một đầu vào súc còn đầu kia quấn vào bá-lăng có hai cái lỗ to để xỏ hai cây đòn, rồi quay lên vòng vòng theo kiểu trâu đạp rạ. Mỗi lần rã-tào-phô mà cây đặc thì ba Hùng mừng lắm, thấy có lời, còn cây bộng thì may ra huề vốn. Làm nghề cây tài nghệ duy nhất là biết lựa cây, nhiều cây bên ngoài lỗ hang vậy mà bên trong đặc như sáp, trái lại nhiều cây bên ngoài trông lành lặn mà bên trong dập nát cũng không biết chừng. Cây có lỗ có hang thì mua được rẻ nên dễ kiếm lời. Ba Hùng tính tiền bằng bàn toán lắc cắc lẹ lắm, lẹ hơn là làm trên giấy nhiều. Làm trên giấy chậm là vì ông phải lẩm nhẩm cái cửu chương chữ nho của ông mỗi lần ông viết ra một con số. Hùng nghe riết rồi cũng thuộc chút ít, mà nó cũng có vần... cửu cửu bát nhất, bát cửu thất nhì, thất cửu lục tam, lục cửu ngũ tứ ... đâu khác gì chín lần chín tám mốt, chín lần tám bảy hai...

     Nghề cây của ba Hùng càng ngày càng xuống dốc, bán chịu đòi chưa hết thì đến lúc ông bắt đầu mua chịu ở Sài Gòn, mỗi lần họ xuống đòi nợ, cơm nước đãi đằng má Hùng mệt thở không ra hơi. Lẽ dĩ nhiên cũng phải quơ quào đâu đó chút đỉnh mà trả cho họ để họ vui lòng ra về chứ đâu bao giờ trả hết một lần.

     Ðó là những năm Hùng đi học sơ học, tiểu học. Trường sơ học xéo xéo với nhà Hùng bên kia sông, sông Tham Thu, một nhánh sông lớn chảy vào kinh Chợ Gạo. Nói là trường nhưng thực ra đây là một trong nhiều nhà nghỉ mát của ông Hội đồng Lượng. Nhà nền đúc cất theo kiểu Tây cao ráo mát mẻ. Mỗi ngày ba Hùng phải lấy xuồng đưa Hùng sang sông và rước Hùng về. Trong cái cặp dán bằng giấy dầu của Hùng chỉ vỏn vẹn có cuốn vần ABC. Qua năm sau ông Hội đồng lấy nhà lại và Hùng đương nhiên tốt nghiệp. Trường sơ học phải dời lên chợ quận nhập chung với trường tiểu học. Thực ra đây cũng là nhà của ông Huyện lấy làm trường. Quận gì mà nghèo quá! Hùng bắt đầu theo anh chị của Hùng chạy bộ từ nhà đến trường mỗi ngày, một cây số đi một cây số về. Hùng phải chạy mới kịp người lớn đi bộ, tuy nhiên Hùng cũng có cái cặp đệm hai ngăn như người lớn chứ không còn ôm cặp dán bằng giấy dầu nữa.

     Ðược nửa năm thì quận có chương trình xây cất trường mới, trả nhà cho ông huyện. Nửa buổi đi học nửa buổi đi làm trường, ai cũng phải đi kể cả lớp đồng ấu. Trường được dự trù cất làm ba dãy theo hình chữ U với hai nhà hình bát giác ở mặt tiền làm văn phòng hiệu trưởng và phòng họp cho thầy cô. Chỗ giao điểm của hai lối đi hình chữ thập sẽ là sân cờ có vườn bông. Bốn góc còn có sân tập thể dục thể thao, sân chơi vũ cầu, bóng chuyền... Không ngờ dự án bông hình coi đẹp như vậy mà lại cất trên một bìa rừng hoang vắng. Mấy lớp nhỏ như Hùng đi theo để chơi nhiều hơn để làm nhưng cũng là lớp trông đến giờ đi làm trường nhiều nhất. Chặt cây phá rừng, ban gò lấp nổng, rồi đem trâu cày lên một bận. Thấy được miếng đất trống như thấy được nửa đường, không bao lâu nữa sẽ xong. Rồi đến lượt khuân đất đấp nền, đấp đường đi. Ðất trộn với trấu, rải trên mặt đất cho mau khô, đâu đâu cũng thấy trấu... Công tác của học trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn lại dựng trường, lợp trường, cột kèo phên vách thì do đám thợ chuyên môn lo. Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long trọng khánh thành, có đồng ca này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi ... và có ai bao năm vì sông núi quên thân mình ... Nền trường càng ngày càng khô, nứt nẻ càng ngày càng lớn, bàn ghế càng gập ghềnh chổng đầu chổng gọng, vậy mà chẳng ai phàn nàn. Mấy trường sơ học quanh vùng lần lần đóng cửa tập trung về trường quận, học trò càng ngày càng đông. Giờ ra chơi có cà rem cây, có kẹo kéo quay số, có nước đá bào si rô... một cắc hai cắc cũng đủ xài.

     Khi lớn lên, mỗi lần trở về qua mái trường xưa cứ như còn thấy bóng dáng thầy Bảy già, thầy Tám Chương, thầy Chín Chương, thầy Hoàng... và cả anh Tư cà rem... Nhớ mấy lần bị đòn, bị khẽ tay, nhớ mấy lần chơi u đánh lộn, nhớ những đêm trăng trung thu rước cộ đèn, có phát bánh, có đấu xảo. Hùng nghĩ có mấy ai được cái cơ hội tự cất trường cho mình học.

     Trở lại vấn đề làm ăn, ngoài việc làm cây ba má Hùng còn phải lo cày cấy năm mẫu ruộng của ông nội Hùng ở dưới bờ lộ me ông chủ Hoàng, lối duy nhất đi vào sân banh. Qua khỏi sân banh thì đến khu rừng Cây Ðiệp, rồi mới đến ruộng. Vùng Cây Ðiệp này nổi tiếng là linh thiêng ma quái. Thiên hạ đồn rằng dưới gốc cây điệp, cây to nhứt trong vùng, là hang cọp. Quỉ hiện hồn thành cọp nhảy ra ăn thịt người, xương xóc đầy hang. Chưa thấy quỉ chưa thấy cọp, nhưng thấy đây là nghĩa địa của Việt Minh, của những người chết không chỗ chôn. Có lần bộ đội chôn đồng bọn ở đây cả tiểu đoàn, mười mấy đêm liên tiếp. Mà không phải dễ chôn vì đào đâu cũng đụng xác, lấp lại đào nơi khác, rồi cũng lấp lại đào nơi khác nữa, đêm qua đêm. Khu rừng như đã được chôn năm bảy lớp người.

     Ðối với Hùng, chỉ khổ một điều là mỗi lần ra ruộng phải đi qua những đường mòn len lỏi trong khu rừng này, nhất là đi ban đêm, thêm trời mưa rỉ rả. Ngọn đèn lồng soi sáng bước chân mình chưa đủ làm sao soi sáng cỏ cây. Tay bắt ấn mà bụng run cầm cập. Ði đoạn giữa thì đỡ, sợ nhất là đi sau chót. Hình như đâu đâu cũng có oan hồn chết bắn chết trận, chết tức tưởi... không siêu thoát được, lẩn quẩn, quấn quít với nấm mồ của mình trong vùi dập lãng quên.

     Bờ ruộng giáp ranh với rừng, cái xa quạt dùng để bơm nước sông vào ruộng đặt dưới cống lại cũng hướng về phía rừng. Mỗi lần đạp nước đêm, vừa ngó cây nhang đốt tính giờ thay phiên vừa ngó vô rừng tưởng mình như đang cúng vái đất trời cho những vong hồn dật dờ kia được siêu thăng tịnh độ. Mùi hương trầm phảng phất không đuổi được bầy muỗi vo ve thỉnh thoảng cắn như ong chích. Cây nhang như dài thêm, cháy hoài không tắt. Lắm lúc vừa đạp vừa ngủ, trật chân bị bàn đạp đập muốn sưng ống quyển mà còn bị anh bạn phía đầu bên kia phàn nàn:

     - Ngủ gục hả, mới đạp có mấy cây đã ngủ rồi, đạp hết bó nhang đó chưa chắc đã xong. Bây giờ nước mới đứng, mấy tiếng nữa mới ròng.

     - Nghe nản quá, nghỉ chút đi. Vô rừng nhổ mì về nướng ăn cái đã, đói bụng rồi...

     Ma đói đâu sợ đám ma đám quỉ không mồ. Mì không ai trồng mà mọc đầy rừng, ớt và ổi do chim ăn chim ỉa cũng mọc đặc ngật trong đó.

     Ba Hùng lần lần thu gọn nghề cây không làm lớn nữa, trở về Bình Phục Nhứt xây nhà máy xay lúa. Ông mua lại nhà máy của một người bạn trên bến phà, gỡ ra chở về rồi ráp lại. Lúc đầu làm ăn được lắm, dân trong vùng không còn chở lúa qua nhà máy Quơn Long nữa nhưng ba Hùng vẫn bận tâm về vấn đề của một nơi người một ngả. Sau mấy tháng đi đi về về, ông quyết định giao cho chú Hùng quản lý rồi lâu lâu xuống thăm một lần. Ông linh tính việc chà lúa lấy tiền này không bền. Một đêm ông nằm chiêm bao thấy một con sâu rọm thật to, xanh như sâu mãng cầu, đầy lông lá không hiểu từ đâu xuất hiện trên mặt bàn rồi bắt đầu bò đến chân đèn, lên ngọn đèn, tới bong bóng... bong bóng nổ tiêu tan... Sáng ngày sau có người đến báo tin bánh trớn nhà máy bị bể, phang vào cột nhà, nhà sập và nhiều người bị thương. Ðầu máy loại xưa có hai bánh trớn hai bên, bể một cái không cân bằng không chạy được. Hàn lại cũng không được, nó sẽ bể nữa tiền mất tật mang. Mua cái mới cũng không có, kiểu cũ không ai bán. Rốt cuộc rồi ba Hùng phải bán sắt vụn cái nhà máy đó...

     Thất bại vụ nhà máy xay lúa ba Hùng đổi nghề lần nữa, biến trại cây thành trại mộc và trại hòm. Ông không còn đi Sài Gòn kiến súc, bè cây bằng đường sông nữa mà mua cây và cưa tại chỗ rồi chở về bằng đường bộ. Trừ khi có người đặt nguyên một cái nhà hay ít ra vài bộ cột vài bộ đòn tay thì ba Hùng mới làm một chuyến kha khá, bằng không đi một chuyến nhỏ để mua cây đóng giường, bàn, tủ, ghế, đi-văng, sóng chén... Năm bảy ông thợ đủ làm căn trại thêm ồn ào náo nhiệt, vui nhà vui cửa. Vài người ở xa, ăn ngủ lại trại, năm ba ngày mới về thăm nhà một lần. Ban đêm họ uống trà, trò chuyện, nói chuyện tiếu lâm. Má ơi con muốn lấy anh thợ bào. Ảnh khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu . Có người ngâm thơ, thơ Lục Vân Tiên, người thổi kèn bằng lá cóc kèn, tiếng kèn như kèn đám ma.

     Làm thợ mộc muốn phát thì phải ếm, nhứt là mấy ông thợ cất nhà, mấy ông thợ có bùa Lỗ Ban. Nhưng mấy ông thợ đóng đồ mộc này cần gì phải ếm? Không ếm không được. Không ếm thì thợ mộc cất đầu không lên, tán gia bại sản, chết vợ chết con, không ếm lớn phải ếm nhỏ, tổ dạy vậy. Chính vì vậy mà lần đó ba Hùng bị cô Ba Tỏ phàn nàn:

     - Cái giường mua của anh thiệt kỳ, ngủ sáng dậy không biết đường ra, cái cửa mùng bên này mà cứ vạch vạch phía bên kia.

     Rồi ông Năm Ðại cũng phân trần:

     - Từ ngày lấy cái giường của anh về con vợ tôi nó ngủ nó quay mặt vào vách.

     Nhưng không bằng chú Chín Trâu, cự nự ba Hùng một trận dữ tợn:

     - Anh nghĩ coi nó ếm cái gì mà thằng nhỏ tui đêm nào ngủ cũng đái dầm. Giường tui đặt anh là giường phòng mà, nó ếm vậy thì làm sao thằng nhỏ ăn ở với vợ con nó được.

     Không biết có đái dầm thiệt hay không nhưng chú Chín cứ nói riết đến nỗi ba Hùng phải đổi cho chú cái giường khác...

     Ðặc biệt có ông thợ chuyên môn làm nắp hòm, nghề của ông là đẽo cây vạt cây với cái rìu có cánh chuồn dài hơn cán rìu. Ðẽo làm sao cho tròn cho trơn tru cho ăn khớp với khuôn hòm không phải chuyện dễ. Nắp hòm đàn ông thì mô hơn nắp hòm đàn bà cũng phải đẽo cho đúng kiểu đúng cách. Tiền công của ông gấp đôi mấy ông thợ kia vậy mà ông cứ đòi đi làm chỗ khác hoài. Ba Hùng cũng bực mình ông lắm nhưng không tìm ai thay thế ông ta được. Ðêm nào ngoài trại hòm nghe tiếng cây vặn mình kẽo kẹt là sáng hôm sau có người tới mua hòm, có người qua đời. Ðêm nào ba Hùng cũng đốt nhang ở bàn thờ tiên sư, không hiểu ông vái cái gì, ông có chịu vái cho dân trong làng chết hết hay không.

     Cho đến lúc má Hùng mở tiệm hàng xén thì trại mộc trại hòm của ba Hùng cũng sắp sửa dẹp. Lúc đầu má Hùng chỉ định bán nước mắm dầu lửa qua ngày, nhưng rồi tiệm càng ngày càng phát. Ba Hùng xoay qua nghề bổ đồ và sổ sách cho vợ. Mấy mùa bán Tết mấy năm đó cũng rầm rộ, có hoa mai, dưa hấu, có pháo bông, lì xì... Nhưng rồi mấy tiệm lớn mở ra ngoài đầu cầu giựt mối, tiệm của má Hùng bị thụt vào trong không thuận đường buôn bán. Tiệm càng ngày càng ế, kệ càng ngày càng trống. Ông làm không xong đến phiên bà rồi cũng thất bại, đời người như con nước lúc lên lúc xuống...

     Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
     Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê


     Tiếc rẻ chiếc ghe lù mục lần trong ụ, ba Hùng quyết định trở lại nghề cây, nhất định lần này làm lớn. Chiếc ghe lù trông như cái hộp dùng để bè cây, chiếc ghe chỉ cần trọng tải mà không cần gì về hình dáng bề ngoài. Phải xài nó trở lại. Ba Hùng quyết định như vậy và ông đã đợ ruộng làm vốn để mở đầu một màn phiêu lưu mới.

     Ðó cũng là năm Hùng bắt đầu xa nhà lên tỉnh theo học ban trung học. Mỗi người một quê hương, một thuở thiếu thời. Quê hương và thuở thiếu thời của Hùng chỉ có chừng đó, nhưng luôn luôn gần gũi gắn bó với Hùng như hình với bóng. Mới đó mà đã thành xa xưa.

   back to top

02. HỌC TRÒ QUÊ BÊN NGƯỠNG CỬA TÌNH YÊU

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ai cũng biết miền Nam mưa nắng hai mùa. Ðã vậy mưa nghỉ, nắng ngủ, ui ui làm lai rai . Ðúng là cái miền làm chơi ăn thiệt. Khác với miền Bắc khô cằn, khác với miền Trung sỏi đá, đời sống miền Nam ôn hòa, thịnh vượng. Dân miền Nam dư ăn dư để... Mà có thật được như vậy hay không? Coi vậy chớ không phải vậy, mà đôi khi còn tệ hơn vậy, câu nói không văn chương này lâu lâu cũng có chỗ xài. Không dư ăn dư để gì cả. Ðó là trường hợp của Hùng trong những năm Hùng mới học lên ban trung học...

     - Cho tụi nó đi học đi, để rồi tụi nó về vác giạ vay chữ hay là vác giạ vay lúa cho biết. Hứ, nghèo mà làm sang.

     Bà con làng xóm sao hay chịu khó xì xào bàn tán về những việc làm của thiên hạ quá... Dẹp được cái quan niệm cổ hủ của dân làm ruộng đâu phải dễ, mà không hiểu vì lý do nào, ba má Hùng quyết tình cho đám con đi học. Nói là đi học cho sang chứ thật ra đám Hùng chẳng thua gì đám con bị "đem bỏ chợ." Ba má Hùng vì bận kế sinh nhai, đầu tắt mặt tối, đâu còn thì giờ để ý đến chuyện bài vở học hành của đám Hùng. Trời sanh trời nuôi, thậm chí đến việc chị em Hùng đang ở đậu nhà này hay ở trọ căn gác kia chưa chắc ba má Hùng đã biết.

     Hùng nối gót chị Kim, chị Cúc, và anh Tấn làm bổn phận "nhà quê lên tỉnh" để đi học. Lần đầu tiên quá giang xe đò lên Mỹ Tho, Hùng thấy lo lo mặc dù có chị, có anh đó. Không biết rồi sẽ làm cái gì, ăn đâu, ngủ đâu, học trường nào. Suốt từ nhỏ đến giờ, Hùng chưa bao giờ rời làng, khỏi quận, chưa biết từ giã bạn bè. Tự nhiên Hùng thấy trách nhiệm bổn phận cho chính bản thân mình quá lớn.

     Chuyện gì đến, sẽ đến. Hùng thi đậu vào lớp tiếp liên trường Nam Tiểu học, chị Kim, chị Cúc, và anh Tấn vẫn phải học trường tư. Mỗi ngày học một buổi, buổi sáng, còn buổi chiều dư thì giờ rong chơi. Sơ mi trắng, xà lỏn đen, dép nhật. Quần xà lỏn mà cũng bắt bỏ áo vô quần... Trường lớn lắm, tường vôi, vách gạch, mái ngói hẳn hòi chứ đâu có vụ nền đất, vách ván, mái lá xập xệ như trường cũ của Hùng. Lối ra vào có hai hàng phượng vĩ trồng lâu năm tàn che giáp mí. Hai đường biên đổ xi-măng mô lên cao như hai con rồng dài thườn thược. Cái gì trông cũng khang trang, sạch sẽ. Bởi vậy Hùng nghĩ mình muốn học dở cũng không được.

     Căn nhà trọ đầu tiên của chị em Hùng là nhà của ông Bảy, chỉ biết ổng thứ bảy mà không rõ ổng tên gì. Nói là nhà thì cũng hơi quá, thật ra đó chỉ là một cái chòi trong hẻm cụt, cất sát hàng rào kẽm gai của Ty canh nông. Có Ty canh nông đó mà xóm này không được gọi là xóm Ty Canh Nông mà bị gọi là xóm Lò Heo mới xui. Tại vì trước cổng vô Ty canh nông là lò heo, một Chánh Hưng của tỉnh Mỹ Tho. Sau này ít ai kêu xóm Lò Heo tại vì bạn hàng tự động nhóm chợ, bắt đầu từ Cây Xăng đổ vô, trước ít sau đông, rồi đông quá nên chính quyền mới cất luôn chợ, thành chợ Thạnh Trị, xóm trở thành xóm Chợ Thạnh Trị. Ông Bảy già hưu trí rồi mà không chịu về quê dưỡng già, còn luyến tiếc cái lò heo. Nghề nghiệp của ông mà. Thỉnh thoảng ông đi thăm lò heo xách về một đùm ruột, không hẳn là ruột già mà cũng không hẳn là ruột non. Thứ ruột gì chỉ để chặt khúc thắng lấy mỡ mà thôi. Mấy khúc ruột chặt khúc đó teo lại thành tép mỡ, lớn nhỏ, ngoằn ngoèo, đủ hình đủ dạng. Coi ghê vậy nhưng mà mấy lúc không có gì ăn cơm, đem ra nhai cũng đỡ khổ lắm. Hùng nghĩ ông Bảy về quê cũng không được, sức mấy mà ông có được miếng đất cặm dùi. Mà con cháu của ông đâu sao chẳng thấy người nào tới thuốc men, thăm nom?

     Không hiểu ai giới thiệu chị Kim với ông Bảy, mà tiền thuê nhà rất phải giá, gần như cho ở không. Ông ở đằng trước có kê một cái giường và một cái bàn. Còn phần sau và nhà bếp ông giao hết cho đám Hùng. Ban đêm banh ghế bố cho bốn chị em đã không còn chỗ trống, vậy mà chị Cúc còn lôi thêm chị Sen, bạn cùng lớp quê bên Tân Thạch, về ở chung. Ông Bảy có lần nói:

     - Thấy mấy đứa bây là tao vui rồi. Cuối tuần tụi bây về nhà hết tao buồn quá xá. Tao lang thang ra Cây Xăng ngồi uống cà phê cả buổi mà cũng chưa hết buồn.

     Ngày thứ hai là ngày bận rộn nhất, mà cũng là ngày vui nhất. Bận rộn vì phải thức dậy sớm để đón xe đò từ quê lên Mỹ Tho. Qua được phà Chợ Gạo coi như đi được nửa đường, chưa qua được thì kể như chưa đi tới đâu hết. Xuống xe ở Mỹ Tho còn phải đón xích-lô chở hành lý, quần áo, đồ đạc về nhà trọ rồi vội vã thay đồ chạy đi học. Bữa nào xui gặp ông xích lô đạp không nổi thì chỉ biết van vái cho trời đừng sáng vội. Ngày thứ hai là ngày vui nhất tại vì đồ ăn đem theo còn nguyên, còn nhiều món muốn ăn món nào thì ăn, thịt kho, dưa giá, tép rang, khổ qua hầm... chứa đầy trong mấy lon guigoz. Ăn nhín nhín cỡ nào rồi mấy ngày gần cuối tuần cũng không còn món gì để ăn.

     Bởi vậy mấy chị phải trồng thêm đám rau dọc theo hàng rào, cạnh sàn nước rửa chén. Mồng tơi với mướp là hai thứ dễ trồng nhất. Mồng tơi ăn riết không còn một cái lá, chỉ còn mấy sợi giây tím tím lăn quăn trên hàng rào. Mướp, ban đầu ăn trái rồi đến ăn bông, xong ăn đọt, ăn luôn lá non... Mấy bữa có canh mồng tơi, canh mướp pha bột ngọt thì còn đỡ, mấy bữa chỉ có "canh nước cơm" và dĩa muối ớt thì cơm vừa dọn ra là Hùng đã thấy no ngang. Bởi vậy anh Tấn và Hùng thỉnh thoảng tìm đường "tẩu." Anh Tấn xuống tụi thằng Ấu thằng Chữ, còn Hùng chạy lên nhà thằng Kiên. Dấu diếm cách mấy rồi lần lần bạn bè cũng biết. Nói là đi thăm bạn bè cho có tình chứ thiệt ra là đi ăn chực, ăn ké.

     Không hiểu thằng Kiên chơi thân với Hùng vì lý do gì, có lẽ tại Hùng học giỏi. Nhà nó giàu quá so với Hùng nghèo rớt mồng tơi. Nhà thằng Kiên tọa lạc ở đầu đường Vòng Nhỏ, cạnh Cầu Sắt. Bên ngoài nhìn vô chỉ thấy toàn cây ăn trái, mận hồng đào, xoài rép, ổi xá lị, vú sữa..., bao bọc bởi một hàng rào gạch có song sắt nhọn, và hai cánh cửa sắt thật to. Nghe nói nhà nó lúc trước có lần là trụ sở của lực lượng Cao Ðài. Cổng là điểm rẽ của hai con đường đá đỏ dẫn đến hai bậc tam cấp bước lên nền nhà, nền đúc bằng đá xanh cao khỏi đầu. Qua một bao lơn nhỏ rồi mới đến cửa cái. Nhà ba gian, cột căm xe tròn thiệt bự đánh vẹc-ni đen bóng như thoa dầu hắc. Ðồ đạc để chưng nhiều hơn để xài bày biện khắp nơi. Ðồ cẩn xà cừ, đồ chạm trổ, đồ cổ... Rồi tới nhà cầu, nhà bếp, nhà ngang, nhà chứa bàn bi-da, banh-bong. Phía sau nữa là hồ cá tiếp giáp với một đồng cỏ bao la. Cỏ mắc cỡ, cỏ tranh lẫn lộn với những đám cỏ ống, cỏ chỉ. Ðó là nơi Kiên và Hùng hay thả diều sau giờ cơm.

     Ăn cơm ở nhà Kiên cũng giống như đi ăn tiệm. Có kẻ hầu người hạ, có khai vị, có lai-sét, có chén đựng nước chấm riêng, có khăn lau riêng. Bởi vậy khô lân chả phụng mà ăn không thấy ngon. Hùng thấy mất tự nhiên trong bầu không khí trang trọng này. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng Hùng cũng biết nhục vì miếng ăn, nên nhiều khi thà ăn cơm trắng với nước cơm còn khoái hơn là đi ăn cơm chực với cá thịt.

     Cho đến lúc Kiên tặng cho Hùng những đôi giày ba-ta nửa sạt, những đôi vớ sờn gót thì tình bạn bắt đầu xa. Hùng không còn chịu đựng nổi sự cách biệt giữa hai đứa nữa. Cũng may dạo đó vào mùa hè, mùa chia tay xảy ra đúng lúc. Cả năm trời chơi với nhau mà Kiên không biết Hùng ở đâu, không có dịp nào bước chân đến xóm Lò Heo của Hùng. Dấu diếm với bạn được như vậy cũng là khéo lắm rồi, Hùng nghĩ.

     Mùa thi năm đó Kiên và Hùng đều đậu vô trường công, nhưng không học chung lớp vì chọn sinh ngữ chính khác nhau. Trường Nguyễn Ðình Chiểu lúc đó chưa mở rộng ra tới đại lộ Hùng Vương, cổng sau còn ngó ra đường Huỳnh Tịnh Của nhỏ xíu. Ba dãy lầu hai từng, lợp ngói Tây đỏ au, hình chữ U, dành cho lớp học và một dãy trệt song song với dãy giữa làm phòng thí nghiệm, phòng hiệu trưởng, phòng giáo sư. Nhà của ông hiệu trưởng nằm xa trong góc trái. Cái gì của Tây để lại coi cũng có vẻ xa xưa, cũ kỹ.

     Qua năm sau chị Kim đi Sài Gòn học và xin được chân bán vé trường đua hai ngày thứ bảy, chúa nhật. Thỉnh thoảng chị gửi tiền về phụ giúp chị em Hùng còn lại dưới tỉnh vì chị em Hùng không còn ở nhà ông Bảy nữa, mà phải mướn nhà khác. Ông Bảy chết, nhà sang cho người lạ. Hùng thấy thương ông Bảy và nhớ ngày nào ông dẫn Hùng đi thăm lò heo. Phải nói là lò bò heo thì mới đúng, vì đây là chỗ giết bò lẫn heo. Bò bị đập đầu bằng búa tạ, nhiều con xán một búa thì rồi đời, mà nhiều con năm ba búa chưa chịu xiểng niểng. Heo thì bị thọc huyết lũ khủ trên sàn xi măng, xây cao hơn mặt đất khoảng vài tấc, có đường rãnh dẫn huyết vào thùng. Chỗ ghê gớm như vậy mà không hiểu ông Bảy dẫn Hùng vào đó làm chi. Ðêm nào ngủ Hùng cũng giựt mình nghe văng vẳng bên tai tiếng heo kêu bị thọc huyết. Nhưng, người ta nói đó không phải là tiếng heo kêu mà là tiếng của thằng cha thọc huyết bị heo hành.

     Căn nhà trọ thứ hai của chị em Hùng là nhà chú Hai Bộ. Có hai điểm khác với nhà ông Bảy, một là không phải ở nhà sau mà ở bên chái, và hai là phải đóng tiền, năm chục một tháng. Nhà chú Hai Bộ nằm trong xóm nổi tiếng hơn xóm Lò Heo nhiều, xóm Hàng Còng. Kêu là xóm Hàng Còng vì từ xa nhìn tới đã thấy một dãy cây còng, cây me tây, cao lớn tàn rộng không thua gì những cây đa lâu đời. Xóm Hàng Còng nổi tiếng tại vì đây là xóm làng chơi. Nhưng muốn mướn nhà với giá rẻ cho nên đám Hùng phải tự đề cao: gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn . Thật ra xóm chia làm hai khu, một bên từ hàng còng trở ra Hãng Xáng thì ong bướm nhởn nhơ, còn một bên từ hàng trứng cá trở vào đất Thánh Tây thì là dân làm ăn lương thiện, có am Cô Sáu, có rẫy trồng bông huệ...

     Con đường dẫn vô xóm Hàng Còng là hai đường mòn dọc hai bên đường rầy xe lửa chạy giữa hai giếng nước. Hai đường mòn này cũng chỉ được xài vào mùa nắng mà thôi, vào mùa mưa thiên hạ đi luôn trên đường rầy cho khỏi dính sình. Cỏ hai bên bờ giếng không ai cắt cao đến ngực.

     Dạo đó chiều nào Hùng và thằng Ðức, bạn cùng lớp quê bên Lộc Thuận, và mấy đứa bạn cùng xóm cũng đi nhảy xe lửa, xe lửa trở đầu chuẩn bị cho chuyến sáng. Một trò chơi lý thú không tốn tiền nhưng cũng không kém phần nguy hiểm. Từ nhà ga xe lửa chạy thụt lùi trở lên Hàng Còng, vòng vô miệt Bàu Súng, xong vòng ra và chạy tới trở lên miệt Xóm Tre, Năm Nồi rồi mới chạy thụt lùi trở về. Xe lửa lên mình nhảy lên, xe lửa về mình nhảy xuống, không thua gì phim cao bồi đánh với mọi da đỏ. Xe lửa trở đầu thường chạy chậm nhưng đôi lúc dở chứng chạy xả ga, xịt khói làm bọn Hùng té lăn vòng vòng mấy vòng mỗi lần bậm gan phi thân xuống đất. Bầm mình, sả đầu gối nên bọn Hùng biết tởn, biết học khôn, cứ đeo theo xe lửa đi xuống phố chờ cho nó chạy chậm lại mới nhảy xuống lội bộ trở về. Nhưng cỡ nào cũng phải nhảy trước khi xe lửa vô nhà ga, vì mấy ông xếp ga bắt được hạch hỏi, hăm dọa đủ điều thì còn phiền hơn nữa.

     Ðâu ai ngờ sau này đường rầy xe lửa trở thành đường Lý Thường Kiệt nối dài, chạy từ nhà bà già vợ ông Thiệu, qua giếng nước, qua chùa Một Mắt tức thánh thất Cao Ðài, xuyên qua đường Vòng Nhỏ có trường bán công Trương Công Ðịnh rồi lên tịnh xá Ngọc Tường, trung tâm Quân Tiếp Vụ, sân bay Bình Ðức và tiếp giáp với đường đi Sài Gòn tại chủng viện Chân Phúc Minh. Mấy cây còng bị triệt hạ để mở đường, xóm làng chơi Hàng Còng ít còn nghe ai nói tới và đã trở thành xóm Bờ Giếng Trên.

     Không hiểu có phải vì ảnh hưởng của xóm Hàng Còng hay không mà cả hai vợ chồng chú Hai Bộ đều làm nghề y tá. Ngoài những phiên trực chính ở dưới nhà thương lớn, hai vợ chồng thay phiên nhau đi chích dạo, tiền vô cũng khẳm. Vậy mà hai thằng con trai của chú thiếm nuôi hoài không thấy lớn, thuốc men đủ thứ mà tụi nó vẫn ốm tong teo như bị sanh thiếu tháng.

     Ở nhà chú Hai Bộ không được thoải mái bằng nhà ông Bảy. Ði đứng phải có giờ giấc. Học bài cũng không được học khuya, sợ hai thằng nhỏ giật mình. Ngay cả miếng đất bằng bụm tay phía sau nhà cũng không được tự do trồng trọt. Chỉ được đám rau răm. Mặc dù bị mấy cây gòn che hết nắng mà đám rau răm cũng mọc xanh rì như đám cỏ. Chị em Hùng nhờ vào đám rau này rất nhiều. Mấy lúc kẹt tiền, chị Cúc ba bốn bữa liên tiếp cho anh Tấn với Hùng ăn cơm với mỗi một món độc nhất "rau răm xắt nhuyễn thả vô nước tương." Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu mùi nước tương , tụi Hùng ngâm như vậy. Dũng Thanh Lâm kia "cá hấp, cá hấp hoài phải ngứa," thì mình "rau răm, rau răm hoài phải cay." Bởi vậy chị Cúc một lần đó đổi món ăn mới mà mỗi lần nhớ lại Hùng thấy nhói trong tim.

     - Bữa nay có gì ăn không chị ba? Hay là bổn cũ soạn lại?

     - Có nồi cá kho để trên bếp đó.

     Anh Tấn và Hùng nghe nói có nồi cá kho trong bụng như mở cờ, hấp tấp dọn cơm. Ðến chừng dở nồi cá ra mới thấy hỡi ôi:

     - Cá kiểu gì kỳ vậy chị Ba? Sao toàn là đầu mà không thấy phần đuôi!

     - Của thiếm Hai cắt cho đó. Chị kho cho mấy em ăn đỡ.

     Hùng nghẹn ngào nhìn anh Tấn, nhẹ nhàng đậy nấp vung lại.

     - Chị Ba à, sao chị làm vậy? Tụi em thà chết đói...

     - Chị thấy hai em ăn với nước tương hoài, chị không nỡ.

     Rồi ba chị em nhìn nhau rơm rớm nước mắt.

     Qua năm sau chị em Hùng bái bai chú Hai Bộ chạy về chú Hai Hậu, chú lao công quét dọn cho trường Nguyễn Công Trứ, trường chị Cúc và anh Tấn đang học. Chú Hai Hậu được ông bác là ông Lê Văn Chẩn cho giữ miếng vườn trên đường Vòng Nhỏ, xéo xéo với lối vào chùa Phổ Ðức. Ðối diện là nhà của ông Ðốc Học, cái nhà gạch sơn nước vôi màu tím mới nhìn vô tưởng là nhà thờ vì cất theo kiểu đưa đầu song ra đường. Căn nhà độc nhất vô nhị, không giống nhà nào của cả thành phố Mỹ Tho. Ðám con gái của ông Ðốc kênh kiệu dữ lắm không thèm chơi với đám Hùng. Hai bên đường Vòng Nhỏ khoảng đó là hai con rạch cho nên nhà nào cũng có cầu. Cầu vô nhà ông Ðốc là cầu đúc bằng xi măng cho xe chạy còn cầu vô nhà chú Hai Hậu là cầu dừa, thấy lép vế hơn người ta quá cỡ.

     Chú Hai Hậu cũng như ông Bảy, cho ở không. Nhưng việc đầu tiên là phải cất thêm một cái chái tiếp theo tấm vách ván dừa của nhà chú. Cất ra đến gốc vú sữa là vừa, và phải vào rừng đốn cây. Miếng đất rộng mênh mông, chỉ mặt tiền trông ra lộ còn được khai khẩn, trồng trọt, chứ phần sau không ai chăm sóc cây cối mọc như rừng. Qua mấy gò mả đá xanh, qua cái ao có cây mận da người là đến bìa rừng. Len lỏi vào trong tìm những cây thẳng mà đốn. Mấy cây lớn làm cột và kèo, mấy cây nhỏ làm đòn tay. Anh Tấn mới xán một búa đầu... bỗng nhiên rùng mình, tay chân uể oải, không làm ăn gì được nữa. Xách búa trở vô nhà lên giường nằm mà lên cơn sốt. Kỳ thiệt. Thiếm Hai phải xôi chè cúng mới hết.

     Ở với chú Hai Hậu thì khỏi phải lo về mặt kinh tế. Rau cải thì đất trống thiếu gì, mặc sức mà trồng. Ăn cơm không có rau như nhà giàu chết không có nhạc , bởi vậy bầu, bí, mướp, dưa leo bò thả giàn, rau thơm, xà lách, cải trời, cải rổ lên xanh liếp. Còn cá tôm thì dễ thôi, tay làm hàm nhai. Làm siêng thì đấp đập tát mương, làm biếng thì đi câu cá bống dừa cá bống cát, còn trớt lớt luôn thì chỉ đi cắm mấy cây cần-câu-cắm dọc theo mương để bắt cá trê. Mặc dù xa nhưng nước sông Bảo Ðịnh cũng tràn tới đây, trong mương cũng có nước lớn nước ròng. Vào mùa mưa chú Hai hay trồng thêm vạt mì, để ăn thì ít nhưng để bắt chuột thì nhiều. Chuột cống con nào con nấy lớn bằng con heo con. Chuột cống xù kêu "rù rù rù..." mới ăn được, còn chuột cống lang kêu "chét chét chét..." thì chỉ giết đem chôn. Trái cây cũng không thiếu thứ gì, ngoài dừa với chuối vườn nào cũng trồng, còn có mận, xoài, bưởi, ổi, chùm ruột, vú sữa... Cây vú sữa bên chái mới ác, nhiều đêm Hùng đang ngủ mà dám rụng xuống mùng đồm độp, coi mái lá chầm như không.

     Bấy giờ Hùng mới nhớ ra là mình đang sống ở miền Nam, miền làm chơi ăn thiệt. Chị Cúc thêm một lần nữa kéo chị Sen về ở chung. Bạn bè Hùng đứa nào mà không thích đi vườn, không thích lên chơi với Hùng. Mấy bữa ăn cơm vườn, mỗi đứa một tô bưng ra gò mả đá xanh vừa ăn vừa trò chuyện cũng thần tiên. Trời chiều nhờ đó mà thêm ý nghĩa.

     Mới sống với chú Hai Hậu chưa mục một lớp lá thì phải dọn đi nơi khác. Lần này không riêng gì chị em Hùng mà cả chú thiếm Hai. Ðám con ông Chẩn đòi chia gia tài mặc dù ổng chưa chết. Chú Hai Nhì về Sài Gòn coi rạp hát Văn Cầm ở Phú Nhuận thì không tính rồi, mấy bà cô giành nhau mấy đám ruộng trong xã Thanh Bình thì cũng yên, chỉ còn chú Năm Trứng, cậu út, là thầu đám ruộng vườn dọc theo đường Vòng Nhỏ. Chú Năm đòi bán miếng vườn chú thiếm Hai và đám Hùng đang ở để lấy tiền ủi ruộng lập cư xá Lê Văn Chẩn đối diện trường trung học bán công Trương Công Ðịnh. Lý do chính đáng để đuổi tá vườn. May là nhờ bà con nên chú Năm Trứng còn nghĩ tình, giao cho chú Hai Hậu trông coi miếng vườn khác tuốt trên ngã ba sân bay Bình Ðức, ngó vào Xóm Tre.

     Lại một lần nữa khăn gói gồng gánh di tản về vườn, chuyến này về vườn thật chứ không phải về vườn ngoại ô đèn vàng nữa. Chú thiếm Hai cất nhà mới, và chị em Hùng cũng cất nhà mới cách nhau một cái mương. Tại vì gia đình chú thiếm Hai tăng cường nhanh chóng, tính tới con bé Gái Nhỏ đã là đứa thứ sáu rồi. Ðám Hùng cũng tăng cường thêm con bé Gấm sẽ vào học lớp tiếp liên. Em kế Hùng, con bé Ðẹp, mất hồi còn nhỏ nên giữa Hùng với con bé Gấm có cách khoảng. Vả lại đám Hùng cũng đã lớn chồng ngồng rồi nên thích ở riêng. Ở riêng bạn bè trai gái cũng dễ.

     Dạo đó Hùng ít về quê thăm nhà vào cuối tuần mà ở lại với bạn bè. Bữa nào có tiền thì đi ăn phở Tàu Bay, đi ăn hủ tiếu Phánh Ký, hoặc đi thụt bi-da Châu Diều. Ðứa này tưởng đứa kia có tiền mà mấy bận ngồi đồng mà chưa bao giờ biết tởn. Có cây viết Pa-ke hay cái kiếng Rầy-ban cầm đỡ cũng được vài trăm mà trả tiền nợ. Bữa nào không tiền thì đi tắm sông Cửu Long, Cầu Tàu, Cầu Bắc, Cầu Dầu của nhà máy Ðỗ Quang. Một lần tại Cầu Tàu, gặp lúc nước ròng sát đến nỗi thấy lườn chiếc tàu chìm nằm lật úp ngoài khơi, đứng trên cầu nhìn xuống nước đã thấy ngộp mà dám nhảy. Hơn mười thước có, chỉ nhảy đứng thôi mà lúc trồi lên đã muốn hụt hơi. Lội ra chiếc tàu chìm, thấy nước cuốn xoáy mà sợ. Bao nhiêu đứa chết ở chỗ này mà sao vẫn còn ngu. Ngu thì có ngu nhưng tụi bạn làm được thì mình phải làm được... Rồi có bữa đi chơi xa hơn một chút, qua Cồn Rồng, Tân Thạch, Bến Tre, vô Gò Cát, Thanh Bình, Bến Tranh, lên Trung Lương, Bến Chùa, Tân Hiệp, xuống Cai Lậy, Cái Bè.

     Vào giữa niên khóa năm đó, Hùng đi học ăn sáng khỏi tốn tiền. Mấy ông bán bánh mì thịt, sữa đậu nành, bò bía, đậu đỏ bánh lọt trước cổng trường không ông nào chịu lấy tiền của Hùng.

     - Thôi, khỏi cần trả, có người trả cho chú mầy rồi. Ăn cả tháng chưa chắc đã hết.

     Hùng làm tĩnh, bỏ tiền vô túi:

     - Thiệt hả? Ai trả cho tui vậy?

     - Không được tiết lộ bí mật à. Tiết lộ bí mật thì chú mày không có ăn mà tao cũng không có bán à.

     - Nhưng tại sao ông biết tui là người tới ăn mà ông không lấy tiền.

     - A, cái đó thì cũng là bí mật nữa!

     Mấy ông Tàu kín miệng thật, Hùng không biết người gửi tiền cho mình ăn sáng là ai, già trẻ, trai gái. Nhưng Hùng biết chắc người đó không là bà con thân thuộc gì với Hùng vì ngoài mấy chị em ra đâu còn ai. Hùng suy nghĩ hoài mà không tìm ra câu trả lời... Nhưng hôm đó ông bán sữa đậu nành dám ngang nhiên đòi tiền, Hùng vừa móc túi vừa hỏi:

     - Ủa, không ai trả trước cho tui à?

     Rồi như ông sực nhớ điều gì, ông hỏi lại:

     - Phải chú mày hay đi chung với thằng... có cái bớt đỏ bên má phải hôn?. Bữa nay nó đâu rồi? Nè, cất tiền đi.

     Ðúng là thằng Châu, có hỗn danh là Châu Búa vì cái bớt đỏ đó. Vậy là mật hiệu đã bị khám phá. Lần hồi rồi thằng Châu cũng biết, hăm he đòi ăn chia. Chỉ biết tới đó thôi, cả tháng trời không bật mí thêm cái bí mật nào hết. Hùng đổi chiến thuật với ông bán bánh mì:

     - Tui thấy tui ăn như vầy hoài mang tội mút đầu. Ba bữa nữa mà ông không cho tui biết người đó là ai thì tui... thà nhịn đói đi học thôi.

     - Ê, chú mày nói thiệt hay nói giỡn đây?

     - Thiệt mà.

     - Có người lo cho, sướng quá mà không chịu hả?

     Chiến thuật hồi mã thương của Hùng coi vậy mà hiệu nghiệm. Qua ngày thứ ba đúng hạn kỳ, ông Tàu trao cho Hùng một bì thư không một chữ bên ngoài. Hùng xé thư xem lén một mình:

     - Thôi, chết tao rồi Châu ơi.

     - Gì mà chết mậy. Ðưa tao coi..., nói tao nghe với.

     Nói làm sao được. Trong bao thư vỏn vẹn có một tấm hình, phía sau viết mấy chữ ngoằn ngoèo: "Tặng anh yêu quí." Con Cẩm, chết rồi, con Cẩm bạn bé Gấm ở phía vườn sau nhà. Phải ăn nói làm sao đây, chỉ thấy Cẩm tới nhà một hai lần.

     - Dấu hả? Trước sau gì tao cũng biết.

     Qua ngày sau Hùng trao cho ông Tàu một bức thư hẹn Cẩm ở con đường thật vắng mục đích không phải để dễ tâm tình mà chỉ sợ thiên hạ thấy. Cẩm còn nhỏ quá, ngực chưa chắc đã dậy trái tràm, tình yêu cũng nên để trong lòng mà thôi, trai gái dọc đường ai coi cho được. Hùng chỉ coi Cẩm như em gái, chờ thời gian để hiểu thật lòng mình. Hùng biết đêm đó Hùng làm Cẩm buồn vô hạn.

     Sự việc này đặt Hùng vào ngưỡng cửa tình yêu mà chính Hùng cũng chưa dám nghĩ tới. Hùng tự hỏi ai thương mình và mình đã để ý ai chưa. Học trò đệ tứ cũng lớn rồi, mười lăm mười sáu rồi. Mới ngày nào chú Hai Hậu dẫn Hùng đi sơn trường Nguyễn Công Trứ, bên hông nhà ông Chẩn, cố tình cho Hùng thấy mặt con Phượng, cháu nội của ông Chẩn. Ðám này học dở nhưng giàu, chuột sa hũ nếp, chú Hai Hậu nói mí mí như vậy. Rồi dạo nào chơi thân với thằng Quyền, em Vân của nó có món ngon vật lạ gì thì cứ như phải để dành cho Hùng, riêng cho anh Hùng. Lúc đưa cũng không lấy tay về liền, giữ đó hơi lâu, bốn mắt chạm nhau như bắn một niềm tin. Thêm con nhỏ bán mía ngoài Cầu Bắc, suýt chút nữa Hùng bị đập, may mà có thằng Châu Búa. Tại con nhỏ có cảm tình với Hùng, viết thư cho Hùng chứ ai mà thèm đi giành gái với lũ đầu trâu mặt ngựa đó. Phải biết nói nhỏ nhẹ thì người ta nhường cho, Hùng thấy mình lên mặt quá xá cỡ.

     Cẩm, Phượng, Vân, và luôn cả con nhỏ bán mía cũng đều đang học tiếp liên, làm như ở Mỹ Tho lớp tiếp liên là lớp tìm yêu cho con gái. Ðối với Hùng đặc biệt còn có thêm một con nhỏ học tiếp liên nữa, lớp tiếp liên tư thục của ông Phạm Công Bình. Hồng Lan. Ðầu lòng hai ả tố nga, Hồng Hoa là chị em là Hồng Lan . Hồng Hoa cũng đẹp nhưng không bằng Hồng Lan. Con nhỏ vóc dáng mảnh mai, nước da trắng bóc môi đỏ như son. Hai thằng con ông Bình ngày nào không chận ở cầu thang lên lớp học. Thằng Lữ con chủ tiệm may Batou ngày nào không đạp xe đạp rề rề hết đại lộ Lê Lợi. Thằng Châu từ bên đất Thánh Tây cũng nhào qua... Còn dân Bến Tre thì vô số kể, thằng Hòa dân Giao Long, thằng Thiện dân Vang Quới, thằng Lạc dân Bình Ðại... thằng nào cũng theo. Toàn là đám bạn trang lứa với Hùng.

     Tụi nó đâu ngờ Hùng không theo mà Hùng được. Tại vì Hồng Lan học chung lớp với bé Gấm, em Hùng. Thỉnh thoảng bé Gấm dẫn Hồng Lan về nhà chơi, Hùng có dịp nịnh đầm, và sau đó mấy lần đi vườn, vô tuốt miệt Xóm Tre, thì tình yêu như có ai đưa đường dẫn lối. Một lần Hùng ghé nhà thăm Hồng Lan bất thình lình, chỉ có mình Hồng Lan ở nhà. Hồng Lan sợ và Hùng cũng sợ. Không hiểu Hồng Lan sợ gì, nhưng Hùng chỉ sợ mình cầm lòng không đậu, vô tình làm tổn thương cái thiêng liêng cao quý của tình yêu. May mà có cô Năm bên hè qua chơi lúc Hùng thả lưng nằm võng trên bộ ván mà Hồng Lan đang ủi đồ.

     - Con nhỏ này ủi cái quần chưa thẳng, tới hồi lấy chồng rồi làm sao?

     - Thôi đi bà. Thiếu điều cháy rồi mà còn thẳng với không thẳng...

     Cuối năm đó chị Kim đậu phần một rồi lấy chồng ở Sài Gòn, chị Cúc cũng đậu phần một rồi đi dạy tiểu học ở Cai Lậy, Hùng và anh Tấn đậu trung học đệ nhất cấp, bé Gấm đậu vào đệ thất trường công, Lê Ngọc Hân. Theo nhà người ta đáng lý ra phải mần heo ăn mừng, đằng này ba má Hùng cho mỗi đứa có năm chục bạc, không đủ tiền đi Mỹ Tho dẫn bồ ra quán Mỹ Duyên ăn kem...

     Dù thế nào đi nữa, nếu thượng đế cho cuộc đời này lùi lại, Hùng cũng sẽ van xin cho mình được làm một người học trò quê, một lần nữa lên thành, lân la bên ngưỡng cửa tình yêu của thời mới lớn.

   back to top

03. TRONG MIỀN QUÁ KHỨ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Con đường Lý Thường Kiệt nối dài, hóa thân của đường xe lửa cũ, mùa nào cũng trở ngại. Lý do thật đơn giản là vì bác Tám lục lộ có nhiệm vụ phải bảo vệ con đường. Cách duy nhất mà bác đã học được ở trường Công Chánh là xách ki đi xuống ruộng đào lớp nhựa đường "made in Việt Nam" lên, đập nhỏ ra rồi rải tứ giăng trên mặt đá. Vào mùa nắng, bụi bay mù mịt mỗi lần có xe chạy qua hay chỉ cần một cơn gió lớn. Lội bộ suốt con đường, lỗ mũi có khoen. Vào mùa mưa, con đường trở thành nhão nhẹt. Ði bộ còn không muốn vững vì đôi giày hàm ếch càng lúc càng to, càng nặng, nói gì tới đi xe đạp xe gắn máy. Sình quấn vào căm, vào bánh xe, vào gạt-đờ-bu không mấy chốc là phải vác, phải dẫn, hoặc phải gởi. Tội nghiệp cho mấy cô học trò trung học, không biết phải đi kiểu sao cho vừa lòng cái áo dài trắng thước tha, lượt thượt của mình.

     Tuy trắc trở vậy nhưng nhờ chỗ ở lâu cho nên con đường này, mặc dù không phải là con đường mang tên em, đối với Hùng cũng có nhiều cái tình. Thời đó là thời bình, hoặc giả tạm gọi là thời bình đi, vì chiến tranh chưa lan tràn vào thành thị. Ban đêm cũng chưa có giới nghiêm. Bọn Hùng lúc đó đang mới tập đàn tập hát cho nên nguyên ban thường hay mải mê trình diễn nghêu ngao ngoài đường cho đến hai ba giờ khuya. Cho khỏi phiền làng xóm đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi. Ánh trăng sáng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già, ôm một mối mơ . Nhờ những bài hát và những đêm trăng như vậy mà ban nhạc một ngày một tiến. Ôm một mối mơ? Mơ gì? Hùng mơ rằng con đường mãi mãi là của riêng mình và lũ bạn, không phải là của chính phủ, của công ty gì cả.

     Ðây là vùng ngoại ô thành phố cho nên không có cảnh nhà cửa cất san sát, khít vách với nhau, không có cảnh đâu mặt, đụng đít. Mà một bên đường là ruộng, trải dài tuốt ra đường Ngô Tùng Châu, đường đi Bình Ðức, đi căn cứ Ðồng Tâm. Và một bên là vườn, ăn luồn ra đường Nguyễn Tri Phương, đường đi Trung Lương, Bến Chùa. Một mặt nối tiếp xuống vườn ông Khánh có nuôi đủ thứ thập vật, trĩ trích, công ngỗng, rùa rắn, trăn lươn, như là một cái sở thú tư.

     Con đường đã mang đến cho Hùng hai niềm vui khác biệt. Vì ở ruộng có cái vui của ruộng. Mùa nước nổi đi soi ếch, chém cá, mùa gieo mạ đi bắt cá trê lét, cua đồng, mùa cấy lúa đi câu cá rô, và mùa đập lúa đi bắt cá cạn, cá chạch. Và ở vườn thì có cái vui của vườn, mùa mận có mận, mùa xoài có xoài, mùa mít có mít, mùa vú sữa có vú sữa..., mùa nào mình cũng ăn trái cây đi... hái trộm được hết. Của nhà luôn luôn thua xa của thiên hạ. Cây thấp khỏi trèo chẳng nói làm gì, cây cao cũng khỏi trèo luôn. Trèo làm chi cho mệt trong khi trên tay mình có cái ná giàn thung. Như xoài tượng chẳng hạn, trái nào trái nấy to bằng bắp chuối mà tòng ten chỉ bởi cái cuống nhỏ xíu, dài thòng. Chỉ mành treo chuông. Một thằng bắn một thằng hứng, và phải bắn ngay cuống cho thật ngọt. Kỵ nhứt là bắn trúng trái xoài, bắn trúng trái xoài là bị mất phiên, không được phép bắn nữa mà phải chịu khó giữ "gôn."

     Bắn trái cây thì quá dễ, bắn gà bắn vịt mới khó. Vì gà vịt biết chạy, biết la. Ðã vậy quanh quẩn không chịu đi xa nhà, bắn không khéo chủ nhà nghe tiếng, bể ổ, chạy chết không kịp trối. Phải ngay con mắt và không có viên thứ hai. Chết không kịp la, chết không kịp giãy, chỉ còn trân mình, hai cẳng đơ ra, oằn oại. Tàn nhẫn thiệt, nhưng phải có nó cho nồi cháo khuya, mới có đủ hứng thú để bàn chuyện chính chị, chính em. Vì thời cuộc đẩy đưa, học trò đệ nhất đệ nhị bấy giờ bắt buộc phải sớm tham gia các hoạt động chính trị hay ít ra cũng phải sớm có chút ít suy tư về vận mạng đất nước. Dầu sao cũng là lớp đàn anh, lớp lãnh đạo cho đám học trò. Mà nói cho cùng, cũng chỉ có ba con đường thôi, con đường quốc gia, con đường cộng sản, và con đường lưng chừng cầu an. Biết sớm muộn gì rồi thí sinh cũng phải chọn một trong ba đề: đi lính, vô bưng, hay... làm thầy giáo.

     Không có gà vịt thì phải đi đào trùn câu cá. Cá tra, cá dồ, cá cầu tiêu, cá gì cũng được, miễn là có cá cho nồi cháo khuya. Thời buổi này học trò lớn cũng đâu còn thì giờ để đi câu thời, câu vận ngoài sông trong rạch. Câu cá trộm còn phải cẩn thận hơn là bắn gà bắn vịt nhiều, vì hồ cá thường được đào sát bên hè chủ nhà. Phải biết mồi thả xuống là cá cắn câu liền tức khắc, và cá cắn câu thì phải giựt lên bờ liền tức khắc, không được chậm trễ một tích tắc nào hết. Con cá lên bờ rồi mà tiếng động chỉ như con cá ăn mống, mới đúng điệu. Yếu tay một chút, bị con cá lượn vài vòng dưới nước là trật đường rầy, chủ nhà dám sẽ bưng đèn ra đi thăm hồ cá. Lên trên bờ phải trùm cá vô bao bố ngay. Cá giãy bạch bạch không thua gì con chó con. Cũng biết sủa nữa chớ: kẹt-kẹt, kẹt-kẹt... kẹt-kẹt. Dây nhợ gì cứ để như vậy về nhà tính sau. Mấy bữa hên dính được một con mẹ là xong, còn mấy bữa xui gặp toàn những con mới dậy thì, làm đi làm lại cái màn "giựt, chụp" này hoài cũng không khá được. Lạng quạng, trái tim trong ngực nó nhảy luôn ra ngoài...

     Những hoạt động về đêm của bọn Hùng dọc theo con đường heo hút này lần lần được du nhập qua miền Gò Cát, chùa Vĩnh Tràng. Tại vì bạn bè của Hùng sống ở miệt này đông, vả lại khu này "vườn rộng, rào thưa, dễ kiếm gà." Chủ vườn ở đây mỗi người tệ lắm cũng có năm bảy mẫu. Vườn này nối tiếp vườn kia trùng trùng điệp điệp như rừng, nhiều chỗ âm u tĩnh mịch không thấy ánh sáng mặt trời không thấy dấu vết con người, mới bước vào cứ tưởng mình là Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo, cứ tưởng mình bước thêm bước nữa là dám tìm được cái Ðế Thiên Ðế Thích thứ hai.

     Ðêm Noel năm đó chỉ có ba đứa trú đóng tại nhà Quyền. Hiệp, Hùng và khổ chủ. Vừa xong màn cháo cá, Quyền như chợt nhớ ra một điều lên tiếng:

     - Ê, mấy chị Bất Tri, Bất Minh, Bất Thông dở thiệt, mình cũng nên dạy cho mấy bả bài học "câu cá" này mới được. Nghe đồn mấy bả chỉ biết câu cá thòi lòi ăn đi học thôi.

     Hiệp phụ họa theo:

     - Ừa, nhờ cá thòi lòi chắc không ăn cứt cho nên mấy bả mới học giỏi, nổi tiếng như vậy. Còn tụi mình ăn mấy con cá cầu này hoài chắc cứt nó dọng lên óc, đầu óc nó lú lẫn đi. À, mà gần nhà bác Ba cũng có mấy hồ cá ngon lành lắm nha, bữa nào mình vô đó câu đem cho ổng nhậu.

     Hùng hỏi:

     - Bác Ba nào?

     Hiệp trả lời ngay:

     - Thì bác Ba ở gần chùa Vĩnh Tràng mầy mới gặp hôm đó, mới đó mà quên rồi. Ổng là ông Bất Thành, ba của mấy chị Bất Bất mà thằng Quyền mới nhắc. Ổng còn dám đặt cho con chó của ổng tên là Bất Tử nữa mậy. Ðể bữa nào chờ ổng đi vắng coi nó bất tử hay nó tử cho biết, cho ổng nhậu con chó của ổng thì ổng mới bớt cái tật "bất bất" của ổng.

     Bác Ba với cây đờn vi-ô-lông thì quên sao được, Hùng xen vào:

     - Ê, tụi mình đâu có thể làm chuyện bất nhơn, bất nghĩa, bất cần phải trái như vậy được. Nghe thằng Quyền nói bác Ba coi vậy chớ mà chịu chơi lắm mà. Phải hôn mậy? Ổng biết đờn vi-ô-lông, vậy sao mình không kéo ông già bất cần đời vô ban của mình luôn cho nó xôm trò.

     Hiệp cười cười:

     - Ừa, ổng chịu chơi lắm. Ổng còn bất kể dư luận, dám lăm le tán tỉnh bà Sáu má thằng Quyền nữa đó.

     Quyền nghe câu nói đó không lọt lỗ tai, bèn cắt ngang:

     - Thôi dẹp tụi mày đi. Thằng nào muốn đi phố thì theo tao đi lựa đồ vía.

     - Ði phố giờ này?

     - Noel mà mậy!

     - Ði thì đi.

     Hiệp và Hùng theo Quyền đi hỏi thăm sức khỏe cái tủ áo của ông Sáu, ông già của thằng Quyền. Mỗi đứa lôi ra một cái, vết cũng được măng-tô cũng được, bận xùng xình như thám tử. Rồi cả ba tàng hình vào bóng đêm. Hiệp đề nghị đi tắt đường vườn, không chịu đi đường cái. Cuối đường, lúc sắp ra khỏi vườn thì nguy thay... lọt ngay ổ phục kích của đám lính đồn Cây Số Bốn.

     - Ai đó, dơ tay lên.

     - Giỡn hoài mấy cha...

     Có tiếng thằng Quyền trả lời.

     - Dơ tay lên. Không thôi tao bắn thấy mẹ bây giờ!

     Có ánh đèn pin rọi vô mặt, có tiếng kéo cơ bẩm lên đạn lách cách, Hùng hết sức ngạc nhiên. Sao lại có vụ này. Chắc thằng Quyền đã gây lộn, hiềm khích với tụi nó rồi, thằng Quyền ẩu lắm. Biết nhau quá mà, tụi nó xưa nay vẫn nể mặt đám Hùng là đám đàn anh sao bữa nay dám làm chuyện quái gở động trời như vậy được. Con đường vườn đi đã mòn chân, triệu triệu lần không thằng nào dám hỏi. Bực thiệt. Nhưng phải đưa hai tay lên trời, tụi này nổi cơn cũng dám bắn ẩu lắm chớ chẳng phải chơi...

     - Ai đó, đứng lại. "Tiền tuyến."

     - "Xung phong." Ði năm về tám. Hốt được ba con.

     Lần đầu tiên vô chuồng cọp, lần đầu tiên cho muỗi ăn "rề-quay-dông." Sáng ngày, thằng tư Năng dám làm mặt lạ hăm he đòi giải cả ba lên Ty Công An, rồi bảo vì nhân đạo nên mới chịu thả về. Kể từ đó, Hùng thấy thuở thanh bình như đã hết. Kể từ đó, những hoạt động về đêm của bọn Hùng coi như đã chết. Và kể từ đó, Hùng thấy tiếng nói không có súng đạn yểm trợ của mình không dằn mặt được ai.

     Bà Sáu, má thằng Quyền, chồng chưa chết nhưng bả phải ở góa, tại vì ông Sáu chỉ nghe những gì cộng sản nói mà không nhìn kỹ những gì cộng sản làm, cho nên ông mới bị bác dụ dỗ tập kết ra Bắc. Bà Sáu ở vậy với bà ngoại, kể từ ngày hai người chia tay và thằng Quyền đương nhiên làm con một. Nghe đâu ông Sáu ra ngoài đàng ngoài làm lớn lắm, hăm he cho người về đón thằng Quyền đi tập kết luôn. Nhưng, thằng con cưng của ông đã quen mùi "tư bản" mất rồi, đâu có chịu đi. Anh em bà con chú bác, bà con bạn dì của thằng Quyền lần lần ngược đường mòn Hồ Chí Minh trở ra Bắc ráo trọi. Con dì Bảy, thằng Công vừa mới đi năm rồi, rục rịch tới con Dân nữa là xong. Hùng mến con Dân, sau này đổi lại là Vân vì Dân là con gái nghe không hợp, cứ vái trời cho nó đừng đi.

     - Em hãy suy nghĩ cho kỹ đi. Thân em là gái, em không chịu nổi sương gió của núi rừng Trường Sơn đâu.

     - Cha ra Bắc, mẹ trong tù. Em bây giờ cũng chẳng biết nghe ai.

     - Nghe ngoại. Ngoại đâu muốn em đi.

     Ðám ra Bắc hoạt động cho cộng sản không nói gì, đám còn lại ở trong Nam cũng nằm vùng, kinh tài cho cộng sản luôn. Dì Bảy của thằng Quyền, tức má con Vân, cũng đã bị bắt vào tù mấy năm qua, tù chính trị. Còn chú Ba của nó làm nghề cây, chủ thầu khai khẩn rừng ngoài miền Trung, tháng nào cũng chở tiền lên núi cho cộng sản hết bao bố này tới bao bố khác.

     Tin cộng sản dám về chùa Vĩnh Tràng thảm sát anh Hòa, chủ tịch ban đại diện học sinh trường Nguyễn Ðình Chiểu, làm chấn động khắp tỉnh Mỹ Tho. Không ai ngờ cộng sản lại nỡ giết một học sinh mồ côi cha mẹ, sống tạm trong nhà chùa để đi học, và học giỏi như anh. Ðám tang của anh trở thành một đám biểu dương tinh thần chống cộng của toàn trường, toàn quân, toàn dân. Chưa bao giờ thấy tinh thần đoàn kết vượt cao như lúc này, một khúc quanh lịch sử quan trọng của trường như đã được đánh dấu. Và tiếp theo đó không bao lâu, đám con cháu cụ Ðồ cũng đã tham gia công tác biểu tình, xuống đường tiếp tay với sinh viên học sinh Sài Gòn, để lật đổ ông hiệu trưởng Phạm Văn Lược, một khởi điểm của phong trào lật đổ nhà Ngô vào năm 63.

     Trước đó, anh em thường lui tới với anh Hòa, thường gặp anh quét lá sân chùa, thường chuyện vãn, thảo luận chuyện học hành với anh trong căn phòng ở mái hiên tây, căn phòng có vách ngăn bằng những cây song đứng, vuông cạnh. Bây giờ, không mấy ai dám bén mảng tới chùa vì sợ bị liên lụy, chỉ còn đám Hùng, quá quen thuộc với những tàn cây bóng mát, những ngôi mộ đền đài quanh chùa, không nỡ để linh hồn anh thêm cô đơn giá lạnh. Giọng nói chẫm rãi, trầm hùng của anh như cũng còn quanh quẩn đâu đây, như đã hòa lẫn trong tiếng chim quạ kêu thương.

     Thằng Quyền bị bà già cộng sản của nó chỉnh lý liên tu bất tận, vì hình như điều gì bả lo cho nó thì nó không màng, mà điều gì nó muốn làm thì bả không đồng ý. Cảnh chung sống hòa bình lạnh này mặc dù kéo dài nhiều năm nhưng cũng có ngày chấm dứt. Từ lúc bà Sáu qua nhà xì-nẹc bà già con Hương, người tình có chân dung của nó, thì tình mẹ con bắt đầu xa. Vì thằng Quyền bắt đầu xa chạy cao bay.

     Quyền và Hương dám dắt nhau lên Sài Gòn sinh sống. Thằng Quyền tìm được một chân kế toán cho Mỹ Kim Ðịa Ốc công ty, ăn ngủ luôn ở chốn hậu liêu của văn phòng chi nhánh ở đường Lê Văn Duyệt. Con Hương mới khổ hơn, ban đầu ở đậu nhà người quen đi bán vé số Kiến Thiết, mãi nửa năm sau mới tìm được việc làm và chỗ ăn chỗ ở tại tiệm bán huy chương huân chương quân đội, hiệu An Thành, xéo xéo chợ Bến Thành trên đường Lê Thánh Tôn. Ðã cùng nhau đi xa, đã cùng nhau đi thêm bước nữa..., mấy bận đi Vũng Tàu, mà thằng Quyền cứ thánh thiện chờ cái đám cưới. Ðám cưới làm gì có một khi bà mẹ chiến sĩ đã thề với Bác và Ðảng là không chấp nhận cho con Hương trở thành đảng viên của gia đình bà. Không hiểu vì nản lòng chiến sĩ hay vì ông chủ giàu tay ấn mà con Hương trở thành bà chủ không biết thứ mấy của tiệm An Thành.

     - Tình nghĩa Hương-Quyền chỉ thế thôi!

     Quyền có lần than với Hùng như vậy. Rồi không hiểu vì nặng lòng chiến sĩ hay vì hận tình đời đen bạc mà thằng Quyền tình nguyện đi Thủ Ðức.

     Chuyện tình cảm tay đôi của Hương và Quyền coi đau thương vậy nhưng mà không gay go bằng chuyện tình cảm tay ba của Vân, Hiệp và Hùng. Hùng biết Vân từ hồi còn nhỏ, tắm mương còn ở truồng, và Hùng không hiểu mình biết thương Vân vào lúc nào, có lẽ lúc ngực Vân vừa mới chớm. Vân thương Hùng là chuyện hiển nhiên vì ở cái xóm này đâu có ai là con trai cùng lứa, mà nếu có thì nhà này cách nhà kia cả mấy cây số, mấy khi được gặp. Hùng chơi thân với Quyền, về nhà Quyền ngủ đêm hà rầm. Thấy mặt nhau hoài, tự nhiên cái cảm tình không mời cũng đến. Ban đêm học bài chung, hai đứa hay ngồi đối diện nhau, chân khều chân, chân gác chân, thằng Quyền ngồi kế bên làm gì biết được.

     Một lần đó Hùng vô buồng, tối om chỉ chứa có mỗi một bồ lúa, để tìm mấy trái xoài dú mà bà ngoại thường hay dấu dưới tấm đệm phủ lên lúa, thì Vân cũng không hẹn mà gặp, dám nối đuôi theo kẻ lén lút. Hùng nép mình vào vách rồi nhè nhẹ bước ra phía sau lưng kê mồm vô tai:

     - Hù.

     - Ái... Anh Hùng làm Vân hết hồn.

     Hùng xì gió, gỡ hai tay Vân đang đè lên ngực, kéo vòng ra sau lưng mình, ôm Vân vào lòng. Bóng tối chịu tội đồng lõa với nụ hôn đầu. Nhịp tim của Vân, nhịp tim của Hùng nghe bình bình, không hiểu tại vì kẻ hết hồn hay tại vì người lén lút. Vân bỗng sợ, vùng khỏi tay Hùng bỏ chạy.

     Hiệp lại đến với Vân trong một trường hợp rất khác thường, lúc Vân đã có chút ít ý niệm, cảm giác về trai gái. Hiệp ở trọ nhà người bà con đi học, chẳng may lại gần nhà Vân, và sau đó cũng chẳng may nhập bầy với đám Quyền, Hùng. Vì gần nhà dễ chạy qua chạy lại, Hiệp lại rành công việc vườn tược, cây trái, nên công việc lặt vặt phụ giúp bà ngoại không ít. Rơm gần lửa dễ cháy, vậy mà ông tơ bà nguyệt còn đổ thêm dầu. Chiều hôm đó Hiệp sang nhà chơi, thấy đống dừa khô mới giựt về cao như núi nên, mới xăn tay áo tính lột phụ. Hiệp nhờ Vân vô nhà lấy cây "đầm." Vân đang nói chuyện với con nhỏ bạn, bị nhờ ngang cũng ức, vùng vằng vô nhà lấy cây đầm trở ra đứng ngay cửa to tiếng:

     - Nè. Rán mà chụp.

     Con nhỏ dữ thiệt, Hiệp cứ tưởng là nó nói chơi ai dè nó thảy đại. Hiệp chỉ còn ú ớ, đưa hai tay đỡ lấy cây đầm theo cách làm sao mà để cây đầm cắm phập xuống bàn chân. Máu phọt ra có vòi, Hiệp điếng hồn không la được tiếng nào quỵ xuống ôm chân, Vân mặt biến sắc chạy vô réo ngoại vì chỉ có ngoại ở nhà. Rồi lính quính, Vân xé tẹt cái áo của mình để băng bó vết thương do chính mình gây ra. Sau đó, Vân còn phải thăm nuôi chăm sóc vết thương đã thành kỷ niệm đau đau trong tim của cả hai, cho nên mối tình anh chàng hiệp sĩ vườn mới có dịp nhen nhúm, lên hương.

     Bắt cá hai tay, Vân thật quá quắt dám học sách Ðiêu Thuyền đùa giỡn với tình yêu. Cũng hên, không bao lâu thì cô nàng bị bại lộ. Một ánh mắt tình dù che đậy cách mấy cũng sáng như lân tinh. Một cử chỉ tình dù không tiếng động nhưng cũng nói lên ngàn tiếng nói. Hiệp và Hùng làm sao không thấy không nghe, cho nên một đêm trăng nọ hai đứa gặm mía lùi, tâm sự ngoài sương. Biết nhau hết rồi, đâu ai trách ai, chỉ cần một cách giải quyết êm đẹp, êm đẹp cho cả đôi bên, bên tình bên bạn. Thế thôi. Một lá thư hai đứa viết chung, ai được trả lời, người đó thắng. Hai đứa đồng ý như vậy, và một tuần sau Hiệp được thư hồi âm.

     Hùng buồn dữ lắm. Không ngờ cái mối liên hệ mật thiết dai dẳng nhiều năm giữa Vân và Hùng trong hoàn cảnh như nửa anh em, nửa bồ bịch đó không đánh đổi được một thời gian ngắn của tuổi tròn trăng. Vì trọng bạn, trọng lời hứa Hùng bắt đầu tìm cách quên Vân, xa lánh Vân. Ác nghiệt thay, Hùng càng lơi thì Vân càng tới. Hiệp nào đâu có biết, nhưng Hùng cũng đâu làm sao trở lại được khi tâm tình mình như còn mang một vết thương chưa lành. Hùng đi Hải Quân. Hiệp thấy mình được chữ tình nhưng mất dần chữ bạn, buồn, cũng đăng đi Thủ Ðức. Mới hay, đường vào tình yêu, có hai người yêu, có tội là mình ...

     Hai năm sau, Quyền hy sinh trong trận Sầm Giang. Qua năm kế bà ngoại mất, rồi không lâu má Quyền, sao cứ hay gọi là bà Sáu, cũng mất theo. Vân bán tiệm thuốc tây Chợ Cũ một thời gian, rồi cuối cùng cũng ngược đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc. Vân đã gặp Hùng lần chót tại bùng binh Sài Gòn trước khi ra đi. Nhưng Vân không nói được tiếng nào, Vân xỉu tại chỗ vì thấy Hùng đang đi với một người bạn gái. Mợ Tám, người sau này về ở nhà của bà ngoại, kể lại cho Hùng nghe, Hùng đâu ngờ đâu biết, chợt thấy ngậm ngùi..., Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa, mà khóc với cười ... Phần Hiệp, Hiệp ra trường, đổi về tiểu khu Vĩnh Long, cưới vợ Vĩnh Long.

     Sau 75, Hùng theo đoàn người chạy loạn, đem gia đình di tản sang Mỹ. Hiệp đi học tập, rồi sau đó ra tù về quê sống với vợ con trong xã Thanh Bình. Nghe đâu dì Bảy của Quyền đã chết trong tù. Nghe đâu chú Ba kinh tài của Quyền lên làm quận trưởng Quận Ba, rồi sau đó, làm xuôi với Võ Nguyên Giáp thêm vây thêm cánh. Và nghe đâu ba của Quyền, ông Nguyễn Gia Quỳ, cũng còn được cái cơ hội chống gậy đi đốt nén hương tàn bên mồ vợ mả con. Chỉ có Vân, một hình bóng ngày xưa, đã không còn nghe ai nhắc đến.

     Ôi, những hình bóng ngày xưa, tình bằng hữu ngày xưa, những dấu vết ngày xưa... nay đã thành mây khói. Nhưng, đối với Hùng, tất cả như sẽ không bao giờ chết, mà chỉ mãi mãi bồng bềnh, mãi mãi trôi lênh đênh trong miền quá khứ...

   back to top

04. VÀO LÍNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Mười ba tuổi, miệng còn hôi sữa, mà Hùng đã dám đi Sài Gòn một mình. Mới nghe tưởng như con nít đi "bụi đời." Mà đi được hay không là ăn thua ở thằng Ðiệp và thằng Quyền, hai thằng bạn học ngồi chung một bàn với Hùng. Hai đứa nó có nhiệm vụ lo tiền. Chỉ cần mười đồng thôi, tám đồng cho cái vé xe lửa một chiều hạng cá kèo dành cho trẻ em, và hai đồng để đi xe buýt với lại phòng thân. Chỉ lo bận đi, khỏi lo bận về. Chẳng những khỏi lo bận về, mà lúc về có thể Hùng có tiền thiệt nhiều là đằng khác. Dĩ nhiên Ðiệp và Quyền sẽ không mất phần ăn chia, ăn lời. Mà phải có tiền ngay chiều nay, bằng không Hùng cũng dám đổi ý lắm. Chuyện xảy ra trong lúc mình bốc đồng, làm liều mới có hứng thú. Nói được là phải làm được, nhưng tụi thằng Ðiệp và thằng Quyền đâu biết là Hùng đã có kế hoạch hẳn hòi. Vì có lần chị Kim, chị thứ hai của Hùng, có nói:

     - Em muốn lên chị dễ lắm. Xuống nhà ga Sài Gòn em đi ra cổng chánh là bùng binh. Bến xe buýt nằm bên tay phải. Em lên xe buýt đi Phú Nhuận. Xe nào cũng có đề bến đậu, viết bên trên tấm kiếng trước. Em dặn ông bán vé cho em xuống ở rạp chớp bóng Văn Cầm. Ðối điện với rạp Văn Cầm là một cái hẻm lớn, em đi mút cái hẻm đó, rồi hỏi nhà cô Sáu Sương ở đâu thì ai cũng biết. Nhà cô là nhà cuối ngõ ngó ra đường.

     Lộ trình rõ như ban ngày làm sao mà lạc được. Vả lại nếu có lạc thì "đường đi cũng nằm trong miệng," ai mà làm hiểm làm chi với trẻ con. Cũng hên là vào thời đó "mẹ mìn" chưa ra đời.

     Ba giờ khuya Hùng có mặt ở nhà ga, chỗ mà bây giờ là Vườn Hoa Lạc Hồng. Vách tường vôi màu vàng cam cũ kỹ với hai cái cổng sắt lớn. Một bên là lối ra vào của hành khách và một bên là lối ra vào của xích-lô, xe kéo chở đồ ba-ga lúc nào cũng tấp nập nhộn nhịp. Vào bên trong mới có phòng bán vé, phòng chờ đợi cho hành khách, phòng kiểm soát hành lý... v.v.

     Ði chuyến sớm tưởng là đông, ai dè có mấy ngoe. Mấy ông bự có máu mặt, mặc vết thắt cà-vạt từ dãy phòng ngủ đối diện với nhà ga cũng lèo tèo băng qua đường. Hôm đó Hùng sửa soạn trông chỉnh tề lắm. Áo sơ mi trắng dài tay bằng vải tét-tơ-ron mỏng, quần ga-bạt-đin xanh đậm hai li ủi thẳng như dao, giày béc-ca-na da thiệt đen bóng, đôi vớ đỏ a-la-đinh mới tinh. Bạn bè đâu nỡ để Hùng bệ rạc vác mặt về thành đô lần đầu tiên, cho nên mỗi đứa đưa một món, cái nào vừa cái nào đẹp cứ mặc tình mà chọn. Chỉ có cái nón nỉ lát-sê chính cống là của Hùng mới mua, nhờ lãnh tiền học bổng.

     Xe lửa huýt còi báo động ba lần thì từ từ chuyển bánh. Xịt-xạc, xịt-xạc, xịt-xạc chui vào phố, khuấy động màn sương khuya. Qua Cầu Tàu, qua cổng số một trên đường Gia Long, qua cổng số hai trên đường Trần Quốc Toản mà sau này đổi là đường Ông Bà Nguyễn Trung Long. Tàu chạy nhanh hơn qua Giếng Nước, qua Hàng Còng, rồi qua mấy đám ruộng hai bên đường Vòng Nhỏ. Trong bóng đêm mặt ruộng đen ngòm như một mặt hồ mênh mông. Tiếng cọ sát rập rình của đường sắt và bánh xe đều đều như một điệu nhạc buồn. Những bụi than hồng tủa ra từ ống khói nhô cao trên nồi súp-de, bay bay trong không gian mờ tối. Thỉnh thoảng một hồi còi rung động màn đêm. Hùng rời cửa sổ trở về ngồi trên băng dài. Nguyên toa xe chỉ có vài người, nằm ngủ cũng còn chỗ trống. Sự khởi hành của một đoàn xe lửa cũng chỉ có vậy, Hùng nghĩ.

     Không mấy chốc đoàn xe ngừng lại ở ga Trung Lương. Mấy toa hạng sang không biết như thế nào, nhưng toa của Hùng đúng là đang bị mấy bà "lái mận" xâm lăng. Cà-ròn nào cà-ròn nấy đầy ấp mận, mận hồng đào sọc, mận hồng đào đá, mận da người, mận xanh, mận trắng, mận đỏ... được phủ sơ sài bằng mấy tấm lá chuối, và lớp dây bố ràng rịt theo kiểu mạng nhện. Cà-ròn này chồng lên cà-ròn kia mà không sợ dập. Nhưng, phải làm vậy mới đủ chỗ. Và phải làm cho nhanh, cho kịp giờ xe lửa chạy. Tiếng người nói chuyện bây giờ át luôn tiếng hơi nước xì xì ở đầu máy.

     Hùng giao khoán toa đó cho mấy bà bạn hàng, trốn lên toa kế trống trơn như không người, vừa thoải mái vừa khỏi phải lo cho bộ đồ vía. Rồi cũng không mấy chốc đoàn tàu ghé lại ga Tân Hương, may là ga này ít người đi nên tàu ngừng không lâu. Kế, đến ga Tân Hiệp. Mới là khốn khổ, không thua gì ga Trung Lương, nhưng lần này không phải mận mà là cần tàu, cải tàu-xại, đậu ô-que. Cần tàu bay mùi thơm bát ngát, thấy thèm món thịt bò xào.

     Ðoàn tàu qua ga Thủ Thừa, qua ga Tân An. Hùng lần lên toa trên nữa cho đỡ chật. Hùng ngạc nhiên thấy toa này không giống mấy toa kia, ở khoảng giữa có cái quầy nhỏ bán nước ngọt và đồ ăn vặt. Hùng không dám mua món gì hết, sợ thiếu tiền lúc tới Sài Gòn. Rồi Hùng lấy chỗ ngồi ngay cửa sổ, gió thổi vào phần phật. Chỗ này rất lý tưởng để nhìn ra ngoài nhưng cũng dễ bị cháy quần cháy áo vì những bụi than hồng nóng đỏ, bởi vậy hình như lúc nào cũng trống. Hèn chi, mấy toa sau đuôi là mấy toa hạng bét. Lãnh đủ, không phải chỉ lửa thôi mà còn khói nữa. Càng về phía đầu máy hình như toa càng sang, chỗ ngồi cũng lần lần đổi khác, từ băng cây qua ghế cây, rồi chắc từ ghế cây qua ghế nệm.

     Ngay lúc xe lửa dừng lại ở điểm hẹn hò, chỗ tránh nhau cho chuyến đi và chuyến về, thì ông xét vé xuất hiện, mặc đồng phục ka-ki xanh đội mũ cát-kết như lính. Hùng mò túi quần lấy cái vé cầm sẵn nơi tay. Cái vé màu đỏ, hình chữ nhật, làm bằng giấy cạc-tông dày, lớn bằng cái nắp viết. Ông xét vé bấm trên vé của Hùng một lỗ tròn bằng mút đũa nhưng ngần ngừ không chịu trả lại:

     - Mày đi với ai?

     - Một mình.

     - Mày mua vé hạng ba mà ngồi toa hạng nhứt thì sang quá rồi.

     Rồi ổng cũng đưa lại, Hùng ngang nhiên bỏ cái vé vào túi không thèm nói tiếng nào. Có lẽ tại thấy Hùng còn nhỏ nên ổng không muốn làm khó dễ. Hơn nữa ổng bận quá chừng, còn biết bao nhiêu người phải bấm. Cạch, cạch, cạch, lẹ làng như một cái máy. Hùng ngẫm nghĩ xét vé kiểu này cũng như không, giả sử nếu như Hùng xuống ở ga Tân An thì vé của Hùng làm gì có bấm lỗ. Cứ vậy mà xài hoài sao..., a, còn màu sắc của vé nữa chớ! Rồi đến ga Bến Lức, với mùi thơm chua chua của thơm, của khóm. Xong đến ga Bình Ðiền, Bình Chánh, Phú Lâm, ga nào cũng ngừng nên chậm như rùa và mình ngồi lâu cũng thấy chán.

     Lúc vào Chợ Lớn thì mặt trời đã lố dạng, mấy bà bạn hàng khuya hi vọng còn kịp thì giờ đi nhóm chợ. Hùng ra đứng ở cửa sổ nhìn mặt Sài Gòn, Sài Gòn muôn mặt. Trước mắt Hùng là mặt xấu với những xóm nhà lợp tôn lợp lá, vách giấy vách cây lộn xộn không một thứ tự nào, cái thụt vô sâu như mất hút cái ló ra ngoài như muốn đụng mấy toa xe. Vậy mà cũng có người sống, có trẻ con chạy chơi. Rồi đến mặt đẹp là những con đường thênh thang, xe cộ dập dìu, với những nhà lầu ngăn nắp, những công viên tươi mát dọc theo đường Hùng Vương, bịnh viện Hồng Bàng. Còn mặt tình cảm yêu thương, mặt ăn chơi đàng điếm, mặt cao bồi du đãng..., mặt gì gì nữa làm sao mà nhìn thấu được.

     Cứ theo lời chỉ dẫn của chị Kim, Hùng nhảy lên xe buýt đi Phú Nhuận. Và tìm được cái hẻm ngó qua rạp hát Văn Cầm. Tới cuối hẻm, Hùng khỏi cần hỏi thăm ai cũng biết nhà nào là nhà của cô Sáu Sương, bèn gõ cửa đứng đợi:

     - Trời ơi, Hùng, sao em lên mà không cho chị hay, chị đi đón. Cô sáu ơi, có em của con lên chơi nè. Sao nó đi hay ghê.

     Chị Kim ngạc nhiên thì ít mà Hùng ngạc nhiên thì nhiều. Hùng ngạc nhiên vì hình như chị Kim có bầu. Hèn chi lâu rồi không thấy chị về Mỹ Tho...

     Bây giờ Hùng cũng lên chị Kim, nhưng không phải đi thăm mà là ở luôn với chị để đi học. Ðại học. Bảy năm Nguyễn Ðình Chiểu biết bao nhiêu tình, tình thầy, tình bạn, tình yêu. Mà rồi phải chia tay. Nhớ ngày nào Hùng mới rời quê lên tỉnh, mà bây giờ rời tỉnh về thành đô. Có điểm giống là mình sẽ học một trường mới, làm một đoạn đời mới của người học trò, nhưng có điểm khác là ngày xưa mình còn nhỏ còn khờ, bây giờ mình lớn, mình hiểu đời đôi chút. Bảy năm trôi qua, chị Kim bây giờ cũng đã có bốn nhóc, không còn ở Phú Nhuận mà dời về Bàn Cờ. Một ngõ hẻm chạy ra đường Nguyễn Thiện Thuật, gần quán cà phê Năm Dưỡng, gần trường tiểu học Phan Ðình Phùng.

     Ðường xe lửa không còn, bây giờ văn minh hơn muốn đi Sài Gòn chỉ cần nhảy lên xe đò Á Ðông của ông Thầy Hài hoặc chui vô mấy chiếc xe lô. Xe đò rẻ hơn đôi chút nhưng phải chờ lâu, đông khách mới chịu chạy, đã vậy rước khách dọc đường giống như xe lửa nên chậm như rùa. Xe lô mặc dù đủ khách mới chạy nhưng nhanh hơn vì ít chỗ, đến khi chạy thì chạy một mạch như chuyến tàu suốt, không ghé đâu hết, cho nên nhiều bận chỉ hơn tiếng đồng hồ là đã đến nơi. Rồi bến xe cũ dời ra Xa Cảng Miền Tây, nói là đi Sài Gòn nhưng chỉ tới Phú Lâm thôi. Từ Phú Lâm vô Sài Gòn là chuyện khác, honda ôm, xích lô máy, taxi, xe lam..., lấy làm chân.

     Nghĩ lại đời người ai cũng có số, muốn cải cái số của mình cũng không được. Sau khi đậu phần hai, theo thứ tự ưu tiên Hùng quyết tâm, thứ nhất tranh mấy cái học bổng đi ngoại quốc, thứ hai là thi vào Phú Thọ, thứ ba Quốc Gia Hành Chánh, thứ tư Ðại Học Sư Phạm. Còn mấy phân khoa khác thì khỏi phải thi, coi như là bước đường cùng. Giấc mơ này cũng đâu có gì quá lớn đối với một học trò giỏi như Hùng, một học trò mà không năm nào không có ít lắm sáu lần xướng danh, không năm nào không lãnh phần thưởng, không năm nào không lãnh học bổng. Vậy mà trợt vỏ chuối sạch bách, vì hình như ngoài cái tài mình còn phải có cái "con ông cháu cha," có cái "chi địa" kèm theo nữa mới chắc ăn.

     Mấy đứa bạn thân dính ngay vòng đầu, thằng Lâm Trí Minh đi Pháp, thằng Quách Tinh Văn đi Úc, thằng Nguyễn Thành Châu đi Nhựt... rốt cuộc cái số của Hùng như dính liền với những con số của ban B cho nên Hùng phải vô Khoa Học Ðại Học. Bạn bè xỉ vả:

     - Xong "oral" mày biết tao làm thêm bao nhiêu bài tập hôn? Ba ngàn hơn. Mày cứ lo đàn địch ca hát với mấy em hoài làm sao mà đậu được.

     Hùng phân trần:

     - Tụi mày vừa phải thôi. Cái vụ học bổng đi du học thì kể như tao dở đi, nhưng ở trường Ðiện, cái bài toán Ðiện mười lăm câu chạy dài từ đập Ða Nhim về Sài Gòn, rồi vô nhà, xuống bếp..., tao không có dở à. Tao còn cho cái thằng kế bên tao cọp-dê mà nó đậu rồi sao?

     Cái không khí đại học nó làm cho sinh viên năm dự bị rơi vào cảnh bơ vơ lạc lõng, nhất là những sinh viên ở tỉnh mới lên, Hùng cảm thấy như vậy. Lạ thầy, lạ bạn, lạ lớp, lạ giảng đường. Mấy ngày đầu Hùng cứ như lúc nào cũng trong tư thế chạy vòng vòng, không biết đâu là đâu. Giáo sư, giảng viên, giảng nghiệm viên thấy đó mà chưa chắc đã biết mặt. Hóa học, Chu Phạm Ngọc Sơn, điện, Lê Công Cẩn, sinh hóa học, Phạm Hoàng Hộ... những tên tuổi của một thời.

     Tình thầy trò khô khan như sa mạc. Tình bạn bè xa xôi như cách sông cách biển. Ðại giảng đường rộng như rạp chớp bóng, thầy giảng bài cho năm sáu trăm sinh viên không biết ai là ai, cũng không khác gì một diễn viên văn nghệ văn gừng trước đám đông khán thính giả hơn phân nửa đang ngủ gà ngủ gật. Hết giờ, thầy ném cục phấn còn thừa vô bảng leo lên "xế hộp" vọt đi, học trò túa ra như vãn hát. Bạn bè cùng quê cùng lớp với Hùng bây giờ vỏn vẹn có hai đứa, thằng Tô Kim Tiền và thằng Dương Văn Út. Một số xuất ngoại, một số ở các phân khoa khác, và một số lớn rớt học lại đệ nhất ở dưới tỉnh. Chỉ còn bộ ba hết thời, trưa nào cũng chui xuống cái quán dưới cầu thang phía sau đại giảng đường ăn đu đủ ướp nước đá lạnh. Mấy dĩa đu đủ màu tím, màu hồng, màu vàng như đã trở thành món ăn thuần túy của trường Khoa Học.

     Hùng ở Sài Gòn không được bao lâu thì anh Khai, chồng chị Kim, chuyên viên sửa máy bay của Air Việt Nam đăng đi không quân. Không đăng đi không quân thì bộ binh sẽ hốt, phải biết đường mà chạy trước kẻo không kịp. Chị Kim và mấy nhóc ca bài "đường về quê ngoại," và Hùng phải đi tìm nhà trọ khác. Cũng may là có nhà của chị Kim Sa, chị bà con của Hùng, gần đó nên Hùng khỏi phải đi xa. Vẫn còn tiếp tục cuốc bộ đến trường như mọi ngày, vì nhà trọ mới cũng còn nằm trong khu Bàn Cờ. Hùng nhớ mang máng hai chị Kim Sa, Kim Phụng là bà con gì gì của trung tướng Nguyễn Văn Mạnh. Ba Hùng có lần nói cả dòng họ chỉ có cánh đó là phát. Nhưng, ở nhà chị ruột thì ở không, còn ở nhà chị bà con thì vẫn phải trả tiền. Chính vì bận bịu cái vụ tiền đó mà việc học hành của Hùng mới dở dang.

     Ở dưới tỉnh học trò đệ nhị cấp muốn kiếm tiền thêm cũng dễ, đi dạy kèm. Chòm xóm quen biết nhau cũng có, bạn bè giới thiệu cũng có. Năm bảy đứa cấp dưới gom lại thành một lớp nhỏ, vừa tiện cho người dạy vừa lợi cho đám học trò. Còn ở Sài Gòn, kiếm một mối kèm tư gia đã khó mà vấn đề di chuyển còn khó gấp mấy lần nếu không có được một chiếc xe gắn máy làm chân. Bởi vậy Hùng mới đi kiếm tiền bằng cách trổ tài... đi thi mướn. Thi bằng tú tài tráng niên. Trước hết thi cho anh Hường bạn anh Khai cũng đang làm Air Việt Nam. Chỉ cần có bằng tú tài một là được hoãn dịch, mà lương Air Việt Nam thì ngon hơn lương lính không quân nhiều. Mười ngàn tiền công. Chưa thi mà anh Hường đã đưa chiếc Vélo Solex, sáu ngàn, cho Hùng chạy trước. Chi "xộp" như vậy thì mình không làm coi cũng không được.

     - Ngày mai Hùng nhớ đưa cho anh một tấm hình nha, loại nhỏ bỏ túi, đặng làm thẻ.

     - Ừa, để Hùng về lục ngăn kéo coi có còn tấm nào không. Mà làm thẻ gì?

     - Ậy, cái thẻ này không phải dễ làm đâu. Cách này ăn chắc, bảo đảm không ai nghi ngờ gì hết.

     Vài ngày sau lúc đi nhậu tiết canh vịt Hồng Thập Tự, anh Hường mới lòi ra cái thẻ nhân viên Air Việt Nam của Hùng, cho Hùng. Không cần nấu chè cúng mà bỗng dưng đổi tên đổi họ, đổi ngày sinh tháng đẻ, đổi luôn cả nghề nghiệp địa chỉ. Thi tú tài một ban B đối với Hùng cũng dễ thôi, chỉ làm trúng hai bài toán, bài vật lý, bài hóa học là đủ đậu rồi. Việt văn thì làm nghị luận luân lý kiếm thêm điểm, chớ thơ văn quên hết rồi đâu làm nghị luận văn chương được. Không cần dò bài, còn bao nhiêu thi bấy nhiêu, mà Hùng cũng lấy "bình thứ" cho anh Hường. Quả thật, vào phòng thi với cái thẻ Air Việt Nam không ai dám hạch hỏi Hùng một tiếng.

     Lúc đó Vélo Solex và Mobylette vẫn còn thịnh hành, mặc dù xe Sachs, Goebel của Ðức đã bắt đầu nhập cảng mạnh. Hùng lấy làm hài lòng với "món đồ làm của" mới có của mình. Nhưng, có chiếc xe rồi mà thiếu bạn bè cũng mất vui, thành thử Hùng bỏ học về Mỹ Tho chơi. Chị em bạn gái ở tỉnh cũng dễ mến dễ thương hơn nhiều. Ở trên này con gái học lên dự bị Khoa Học, chứng chỉ Toán Lý Hóa hay chứng chỉ Toán Ðại Cương gì cũng vậy, đứa nào đứa nấy cằn cỗi, thấy mà tội. Cái gương mặt học trò như đã mất, thay vào đó những ưu tư ray rứt của cuộc sống hằng ngày, những băn khoăn phiền muộn ở tương lai. Hùng không muốn mình sớm trở thành ông cụ non cho nên về tỉnh hưởng nhàn. Bồ bịch, bạn bè, cà kê dê ngỗng vậy mà vui hơn.

     Nhưng hưởng nhàn cũng đâu có dễ. Không bao lâu ông bà già phát giác, bị chửi như chửi giặc, bị đuổi như đuổi tà, cho nên Hùng một phen nữa phải trồi đầu trở về thành đô. Ðang lúc mình chán học mà còn phải nhai lại bài cũ thì đúng như là cơm nếp mắc mưa, nuốt hết vô. Sức người có hạn, Hùng biết mình có giỏi cách mấy đi nữa sớm muộn gì rồi cũng phải đi lính. Một năm đã không xong, bốn năm làm gì không trục trặc. Ví dụ mình học sang năm thứ ba, thi rớt, phải đi Thủ Ðức thì còn gì ân hận hơn. Thà là tốc chiến tốc thắng, đi lính trước mặc may còn đủ thì giờ lên tướng.

     Nhưng trước khi đi lính Hùng nghĩ mình phải thi mướn một keo nữa. Kiếm tiền cách này dễ quá không làm cũng uổng. Mười lăm ngàn, một là thi cho thằng cháu của ông Tổng Trưởng Giáo Dục do anh Hường giới thiệu, hai là thi cho thằng Ngôn, bạn Hùng, bỏ học đi lính thủy từ hồi rớt trung học đệ nhất cấp... bây giờ đang trốn quân dịch. Hùng chẳng nỡ bỏ bạn bè. Việc tiền bạc thì khỏi phải lo, vì con Bé Ba bồ thằng Ngôn đang làm vũ nữ chuyên nghiệp. Hai đứa nó dám ăn cơm nhà hàng mỗi ngày thì chuyện bỏ tiền ra mua cái bằng cấp cũng là chuyện lẻ tẻ. Chỉ lo một điều hai đứa nó gây gổ liên miên không biết ngày nào giờ nào tan hàng rã đám. Mà hai đứa cùng một quê, xã Tân Hiệp, có đào bới tiên nhơn tổ đường của nhau cũng không sao.

     - Mày đừng tưởng lúc này mày làm ra tiền nuôi tao là mày làm lên. Mày phải nhớ hồi mày bỏ nhà đi theo tao, tao lo cho mày không thiếu một món gì. Tao mà lấy được bằng tú tài rồi thì mày sẽ thấy, mười cái mặt của mày cũng vứt sọt rác hết mà thôi.

     - Thôi đi. Mặt mày sống bám chéo áo đàn bà mà còn lớn họng.

     Tụi này chửi nhau tàn khốc thiệt. Ba ngày thi, ba ngày Hùng mang cái thẻ không phải là nhân viên Air Con Rồng nữa mà là phóng viên nhà báo Tia Sáng do thằng Dũng cháu thằng Ngôn làm giùm. Ba ngày lên Ða Kao ở chơi với tụi nó, đủ ba ngày thằng Ngôn càng tàn tệ hơn, bị con Bé Ba xách dao rượt chạy cùng nhà. Trốn quân dịch mà rốt cuộc cũng phải chạy băng ra đường thoát mạng. Chém giết nhau coi dữ tợn vậy rồi làm hòa với nhau cũng lẹ. Mới mầy tao đó rồi anh anh, em em cũng liền theo đó. Hùng không sao hiểu nổi cái tình yêu có ướp chất bụi đời này. Hợp rồi tan, tan rồi hợp từng giờ từng phút. Cấu xé nhau rồi cũng phải bám víu lấy nhau. Ðể sống, để cộng sinh cộng hưởng, không tách nhau rời ra được.

     Rốt cuộc rồi thằng Ngôn cũng có bằng tú tài một hạng "bình thứ," một cái giấy hoãn dịch kiểu mới, như nó mong muốn. Nhưng đối với Hùng hoãn dịch để làm cái gì, nếu mình không có chân làm cho một hãng thương mại của tư nhân hay làm cho một cơ sở hành chánh của chính phủ. Thời buổi này muốn kiếm được một sở làm, một là phải có người giới thiệu hai là phải bà con xa gần với mấy xếp lớn, mà Hùng thì không hội đủ điều kiện nào hết.

     Không ngờ trong hai năm vác mặt về thành đô, Hùng không làm nên một trò trống gì coi được. Hùng nghĩ rằng bằng tú tài hai ưu hạng của mình chắc rồi cũng chỉ là cái pát-po để mở đường vào lính mà thôi. Vào lính!

   back to top

05. ÐỆ NHỨT THẬP BÁT ÐAO PHỦ THỦ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Hùng bắt buộc phải đến Nha Trang lần đầu tiên bằng đường biển. Từ ngoài khơi nhìn vào, Nha Trang quả là một bãi cát dài ngút ngàn, xa tít. Bãi cát trắng mịn, im lìm, phẳng phiu, ấp ủ bởi những lượn sóng thì thầm nối tiếp nhau tuôn vào bờ. Thành phố không có nhà chọc trời như trải dài cho đến tận chân núi đang làm bình phong cho bức tranh thủy mặc. Bầu trời xanh, trong vắt không một gợn mây của một ngày vào thu. Mùa nhập học, nhập khóa bắt đầu và mùa hè, với Hùng, mùa hè cuối cùng của đời học trò, đời sinh viên, như rồi đã trôi qua.

     Dương vận hạm Cam Ranh, HQ 500, loại tàu lớn nhứt của Hải Quân Việt Nam lúc bấy giờ, ủi bãi trước vòng thành của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân sau hai ngày lênh đênh ngoài biển khơi. Cũng biết lờ mờ là Hải Quân Việt Nam có ba Trung Tâm Huấn Luyện chính. Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc ở Sài Gòn là trường tu nghiệp dành cho các sĩ quan trung cấp và cao cấp. Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh là trường đào tạo thủy thủ, lính tàu cơ bản. Và Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang gồm hai trường, thứ nhứt là trường Chuyên Nghiệp Sơ Ðẳng và Cao Ðẳng, trường tu nghiệp cho Hạ Sĩ Quan, và thứ hai là trường Sĩ Quan Hải Quân, trường đào tạo sĩ quan, quan tàu cơ bản. Còn trường thợ lặn, người nhái, trường ong biển, sea bees, trường gõ sét, trường chạy rùa... gì gì nữa ở đâu? Làm sao mà biết hết được! Cửa đổ bộ mở ra và toàn khóa một trăm hai mươi tám tên, lên bờ xếp thành năm nhóm, năm trung đội. Cao trước thấp sau trên bãi cát xoai xoải dốc. Ðầu óc còn lắc lư, mặt đất như còn nghiêng qua nghiêng lại.

     - Anh đi tàu có vui không?

     - Dạ vui.

     - Anh có mệt không?

     - Dạ mệt.

     - Anh có cần tôi khênh hộ anh cái sac-marin không?

     - Dạ không ạ. Cám ơn.

     - Nè, anh uống miếng nước đi cho khỏe.

     - Dạ... ực, ực... cám ơn anh.

     Nghiêm. Ðằng trước. Bước. Một hai ba bốn, một hai ba bốn... Hùng ngạc nhiên thấy đàn anh chăm sóc đàn em coi bộ tử tế quá, coi bộ tình nghĩa quá. Vậy mà nghe thiên hạ đồn cứ ra đây là sẽ bị quay nhừ tử, quay chết sống. Năm trung đội nối đuôi nhau băng qua đường, hiên ngang bước vô cổng trường, những bước chân coi như oai hùng nhưng uể oải, nặng nề vì cái sac-marin chất chồng trên vai. Sân cờ rộng rãi, sạch sẽ... Dặm chân tại chỗ. Bước. Một hai ba bốn, một hai ba bốn... Ðứng lại. Ðứng. Nghiêm. Nghỉ. Thao diễn nghỉ, tự do nghỉ.

     Tất cả nhìn lên một cái khán đài nho nhỏ làm tạm bằng ván ép. Khóa đàn anh bây giờ hoàn toàn bao vây khóa đàn em vô giữa. Một số đông vẫn tiếp tục len lỏi vào trong hàng hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm về chuyến hải hành vừa qua. Rồi bỗng một tiếng hô quá lớn như xé bầu không khí:

     - Nghiêm.

     - Nghiêm mà anh còn nhúc nhích hả? Anh có biết đứng nghiêm là đứng thế nào không?

     - Anh. Nghiêm mà anh còn cười hả? Anh dám giỡn mặt với đàn anh hả? Anh dám chống đối hả? Ở ngoài kia anh chuyên môn xách động, biểu tình, xuống đường phải không?

     - Dạ. Ðâu có.

     - Dạ dạ cái gì..., chưa chi anh đã dám học sách xin xỏ rồi.

     Ô hay, sao có vụ này. Tiếng nạt nộ, tiếng la hét của đám đàn anh thật tình có hơi lớn, hơi rộng họng, chát chúa bên tai. Thôi rồi, lời đồn quả không sai. Ðám hùm hổ này sẽ quay mình như quay dế, quay cho sứt càng gãy gọng, quay cho trầy vi tróc vảy, chưa chắc đã thôi. Bây giờ phải làm sao đây. Than vãn, run sợ cũng muộn rồi. Bạn bè sao mình vậy, chết chóc ai... Một giọng nói nhè nhẹ bên tai Hùng:

     - Các anh yếu quá. Coi nè..., mới đụng nhẹ một cái là xiểng niểng rồi. Các anh đã thấy các anh hèn hạ chưa. Các anh đã làm nhục nhã Hải Quân rồi, toàn là bún thiu, tép riu.

     Hùng đứng ngay ngắn trở lại, bực dọc lõ mắt nhìn thằng cha nhỏ xíu con mà dám nói mình riu riu. Ở Sài Gòn mà phát ngôn bừa bãi kiểu này là bị ăn đòn rồi. Không hiểu sao Hùng chẳng dám hở môi. Một câu nhịn chín câu lành, chỗ này đâu phải là chỗ đấu lý, cái luận lý một chiều đó. Rồi như ai cũng hiểu thân phận mình, không bao lâu chỉ còn nghe toàn là câu hỏi mà không thấy câu trả lời. Bài diễn văn chào mừng đàn em không ai thèm nghe vừa chấm dứt, thì những câu nói gằn gằn như ra lệnh cũng bắt đầu vang dội.

     - Tất cả khóa 17 nghe đây. Hôm nay các anh sẽ hân hạnh, được đàn anh các anh, chính thức long trọng đón tiếp.

     - Long trọng đón tiếp. Anh nghe chưa, long trọng đón tiếp.

     - Các anh biết các anh có tội, ...

     - Có tội, có tội, có tội.

     - ... đã để đàn anh các anh chờ đợi cả năm trời.

     - Chờ đợi cả năm trời, chờ đợi cả năm trời, anh biết không?

     Chỉ cần một người nói trên khán đài là đủ nghe rồi, đâu cần cái đám phụ đề, phụ diễn này đâu. Sao cứ nhai đi nhai lại nhức đầu nhức óc bên tai.

     - Các anh không thể để đàn anh các anh thêm thất vọng, sau đây, để nêu cao giấc mộng hải hồ, ...

     - Giấc mộng hải hồ, giấc mộng hải hồ.

     - ... các anh sẽ chạy một vòng quân trường theo sự hướng dẫn của đàn anh các anh.

     - Chỉ một vòng quân trường, một vòng quân trường.

     - Tất cả sac-marin lên vai... Chạy.

     Hùng không ngờ cái đám thân cao, cẳng dài phía trước phát vụt chạy như gió, chạy như muốn chạy đua nước rút với khóa đàn anh. Hùng mỏi mệt, lẹt đẹt phía sau. Mau lên, mau lên, yếu quá, yếu quá nghe lùng bùng bên tai. Hùng thấy hết, người vấp té, kẻ sút giày, đứa rơi mắt kiếng, thằng văng mũ cát-kết. Bỏ luôn. Chạy, chạy tán loạn, chạy lộn xà ngầu, chạy như điên. Một vòng quân trường mà sao chạy hoài không thấy hết. Cũng không ngừng lại được, mình như bị dòng nước lũ cuốn trôi đi, rán theo bầu bạn như chim theo đàn. Dồn hết sức tàn cho cuộc thử thách đầu tiên, không thể bỏ cuộc được. Cuối cùng Hùng cũng về đến mức ăn thua, nơi mà sau này Hùng mới biết là Thao Diễn Trường, thì anh em phần lớn đã ngay hàng thẳng lối. Hùng quăng cái sac-marin, bịch, xuống chân, đứng vô vị trí của mình. Mồ hôi nhỏ giọt, miệng khát khô. Sức nóng như lò than bốc lên từ mặt đất cát, đầy sỏi đá.

     - Anh. Anh đã thấy mệt chưa?

     - Dạ, thấy mệt rồi.

     - Mệt à, anh làm cho tôi mười cái hít đất cho nó khỏe lại coi.

     - Còn anh, anh thấy mệt chưa?

     - Dạ, chưa?

     - Tốt lắm. Anh ra đây nhảy thăng thiên độn thổ với tôi. Như vầy nè..., chừng nào tôi ngưng anh mới được ngưng nghe chưa.

     Biết nói cách gì cũng không ổn rồi. Nhưng mà mới chạy về, thà là hít đất, nhảy xổm, đi chân vịt như tụi bị quay riêng đằng kia còn sướng hơn là đứng nghiêm kiểu trời trồng, không dám nhúc nhích như thế này. Không bao lâu trời đất quay cuồng, mấy đứa bịch bịch rồi mấy đứa ói mửa xung quanh, Hùng cố nhớ cái sac-marin của mình đang nằm ở phía bên nào để lỡ có ngã xuống cũng ngã cho êm thắm... Và Hùng mơ màng thấy mình đi về bệnh xá, bốn vó đưa lên trời, hai tay hai chân có bốn thằng bạn còn tỉnh cặp kè...

     Cư xá sinh viên sĩ quan gồm bốn dãy nhà trệt lợp fibro cement có tên: alpha, beta, omega và xi. Dãy omega bị Việt Cộng pháo kích sập từ hồi khóa 14, một đống gạch vụn vẫn còn để y nguyên, chưa xây cất lại. Khóa đàn anh ở mặt trước, khóa đàn em ở mặt sau. Mười tên chung một phòng, hai giường bố loại khung sắt hai từng để sát hai bên vách cho tám tên, và hai giường gỗ để giữa phòng cho hai tên còn lại. Hùng được trả về phòng alpha 1 sau khi được chích cho một mũi thuốc khỏe và nằm nghỉ độ hơn một giờ. Bước chân vô phòng, thấy bạn bè để nguyên đồ trận nằm ngủ ngổn ngang dưới sàn xi măng. Hùng cũng chui vô trong góc làm một giấc. Ðến chiều...

     - Te, tít, tít. Te, tít, tít...

     - Ê, dậy. Còi tập họp của mình kia. Tập hợp, anh em. Tập hợp.

     - Phải hôn đó cha nội? Ðể nghe kỹ coi... Te, tít với te, tít, tít, cái nào của mình.

     - Ừ, mày có ngon thì ở đó đi mà tít te, te tít.

     Hùng ba giò bốn cẳng chạy ra sân không cần biết ai đúng ai sai, vì chưa nghe ai dặn tận mặt còi kêu sao là còi của mình. Thấy cả bọn nhốn nháo xếp hàng ngoài bãi cát trống. Những khuôn mặt bơ phờ lem luốc, những bộ đồ xốc xếch nhăn nheo, trong phút chốc, cả đám đã trở thành bệ rạc, tồi tàn như đám ăn mày. Không biết lũ đàn anh sẽ dở trò gì đây. Ăn cơm, phải, chỉ tới giờ ăn cơm thôi, còi tập hợp đi ăn cơm. Ði hàng một vào phạn xá, đi bẻ góc vào bàn ăn kê khít khít nhau thành dãy, kéo ghế một lượt, ngồi xuống một lượt. Cá chuồn chiên, canh hầm ba rọi, mực xào bắp cải. Mới nhìn qua tưởng cơm quân trường chắc cũng hương vị lắm, ai ngờ đụng đũa vô món nào cũng tanh ói, nuốt vô muốn mửa trở ra. Rán ăn mà lấy sức, nếu kén ăn, không ăn được đồ ăn thì ăn đỡ cơm chan với nước trà cho bớt mùi hôi.

     Sau bữa ăn nhạt nhẽo đầu tiên đó, tất cả về phòng căng dây bố cho giường của mình và xếp lại đồ đạc lặt vặt cho có ngăn nắp thứ tự... Mới ngày nào đi thi, mới ngày nào đi khám sức khỏe, mới ngày nào bạn bè tiễn đưa nhập trại Bạch Ðằng 2, mới ngày nào xếp hàng lãnh quân trang, và mới ngày nào mới tập đi diễn hành một hai một hai, tất cả như hiện ra trước mặt Hùng. Bây giờ, tất cả như đã rơi vào một dĩ vãng quá xa xôi. Không còn Sài Gòn, không còn những chiều đưa em dạo phố. Hùng thấy bữa nay mới như là ngày đầu tiên mình thật sự bước vào đời lính... Te, tít, tít. Te, tít, tít... tiếng còi tập hợp như cắt gọn nỗi niềm suy tư của Hùng. Ủa, cái ngày đầu tiên này chắc đã chưa chịu chấm dứt.

     Tất cả gấp rút mặc đồng phục, chạy ào ra bãi cát tập hợp. Trời chiều đã sang mờ mờ tối.

     - Tất cả khóa 17 nghe đây. Ðêm nay, đối với các anh, sẽ là đêm không ngủ. Sẽ là đêm lửa trại để đánh dấu cái giây phút các anh tự nguyện rời bỏ cuộc đời dân chính, rời bỏ nếp sống sinh viên, để đi xây giấc mộng hải hồ.

     - Giấc mộng hải hồ. Ha ha ha...

     - Sau khi nghe tiếng còi, các anh ba mươi giây trở về phòng thay đồ tiểu lễ rồi trở ra tập hợp lập tức. Anh nào chậm trễ sẽ được đàn anh các anh chăm sóc chu đáo. Te.

     Chạy đi rồi lại chạy về. Hơn ba mươi giây sau:

     - Khóa 17 nghe đây. Ðàn anh các anh nhận thấy các anh di chuyển còn chậm chạp, dềnh dàng như hàng không mẫu hạm. Ðể cho các anh có thể tăng thêm vận tốc, sau khi nghe tiếng còi, các anh ba mươi giây trở về phòng mặc thêm đại lễ, rồi mặc thêm trây-di bên ngoài, tức khắc trở ra trình diện. Te.

     Lại chạy và chạy. Cái cửa phòng sao nhỏ quá, chạy ra chạy vô muốn đạp lẫn lên nhau. Tiểu lễ bên trong, đại lễ bên ngoài, rồi trây-di bên ngoài nữa. Bung cái sac-marin tuôn hết mẹ nó lên giường, chụp cho lẹ mặc may còn đủ thì giờ. Hơn một phút sau:

     - Tất cả nghe đây. Ðàn anh các anh nhận thấy các anh chưa tiến bộ chút nào hết. Sau khi nghe tiếng còi, các anh được mười giây, lập lại mười giây, trở về phòng mang giày không vớ, theo kiểu mười giờ mười, như thế này..., hai chiếc giày như hai cây kim đồng hồ. Ðồng thời mang tất cả quần áo civil đem ra đây lập tức. Te.

     Mười giờ mười thì cũng không sao, kẹt cái không vớ, cát xúc vô giày cà nhắc cà nhắc, khó mà chạy mau được. Mà chậm trễ thì bị quay riêng. Sau mỗi hồi còi, Hùng thấy số trở ra tập hợp coi như đúng giờ đúng giấc càng lúc càng thưa. Nhưng vẫn còn là số đông. Khôn hồn thì lẫn vào đám đông, người ta làm sao mình làm vậy, nổi quá cũng tiêu, chìm quá cũng ngủm, chỉ theo đạo trung dung mới còn cơ hội sống. Hùng thảy bộ đồ dân chính còn sót của mình vào đống đồ rồi trở về hàng, tự hỏi không hiểu mình có đủ sức để theo đám đông hay không. Mấy thằng to con lớn xác ngu quá, sợ gì mà sợ dữ vậy. Cứ nghe còi là làm liền như cái máy, không biết nghĩ suy. Phải từ từ mà hành động.

     - Khóa 17 nghe đây. Sau khi nghe tiếng còi, các anh quỳ gối, hai tay để lên đầu. Te.

     Ðống áo quần bắt đầu lên dàn hỏa, tội cho mấy tên quá run sợ đem luôn mấy bộ đồ mới đi thiêu. Trong ánh lửa bập bùng mặt mày đàn anh tên nào trông cũng có nanh có gút.

     - Tất cả lập lại theo tôi: "Tôi từ bỏ dân chính."

     - Tôi từ bỏ dân chính.

     - Lớn lên.

     - Tôi từ bỏ dân chính.

     - Lớn lên nữa.

     - Tôi từ bỏ dân chính.

     - Tất cả khóc lén, khóc lớn lên. Te.

     - Hu hu. Hu hu hu hu.

     - Anh. Khóc mà anh dám cười hả. Khóc lên, khóc nữa lên.

     - Hu hu. Hu hu hu hu.

     - Pha-rô. Time out. Pha-rô. Ðể các anh được say sưa với giấc mộng hải hồ, bây giờ tất cả được phép nằm xuống, ngửa mặt lên trời, đếm sao đêm. Te. Ðếm lên. Lớn lên. Te.

     - Một, hai, ba, bốn...

     - Năm, mười, mười lăm, hai mươi...

     - Tất cả cười lên. Te.

     - Ha ha. Ha ha ha ha.

     - Khặc khặc khặc...

     - Mấy anh dám giỡn mặt với đàn anh hả? Biểu mấy anh cười, mấy anh khóc. Biểu mấy anh khóc, mấy anh cười. Giỡn mặt với đại quan hả?

     - Ha ha. Ha ha ha ha. Khặc khặc khặc.

     - Pha-rô. Pha-rô. Tất cả quỳ gối, hai tay lên đầu. Te.

     - Kể từ giờ phút này các anh được quyền gọi đàn anh các anh là niên trưởng và xưng tôi. Anh nào tiếp tục anh anh, em em theo lối dân chính sẽ được các niên trưởng chiếu cố nồng hậu. Và tiếp theo đây là phần giới thiệu 17 niên trưởng "đao phủ thủ" (danh xưng của đàn anh trong ban lo huấn nhục khóa đàn em) của các anh. Kể từ ngày mai, những vị đao phủ thủ này sẽ săn sóc các anh càng tận tình hơn nữa.

     - Ðệ nhứt đao phủ thủ, niên trưởng Võ Bửu Khai. Te. Khóc lên.

     - Hu hu. Hu hu hu hu.

     - Ðệ nhị đao phủ thủ, niên trưởng Hà Quang Hải. Khóc lên.

     - Ðệ tam đao phủ thủ, niên trưởng Trịnh Xuân Tụng. Khóc lên.

     - Ðệ tứ đao phủ thủ, niên trưởng Dương Văn Tèo...

     - Ðệ ngũ đao phủ thủ, niên trưởng Lê Lương Ngô, khóc lên.

     - Ðệ lục đao phủ thủ, niên trưởng Huỳnh Quang Hưng, ...

     - ...

     - Ðệ thập thất đao phủ thủ, niên trưởng Lý Ngọc Ẩn, khóc lên, khóc lên...

     - Sau khi giải tán, tất cả đồ ăn thức uống dân chính mà các anh mang theo phải được thanh toán bằng mọi cách ngay trong đêm nay. Anh nào chừa lại, bất cứ món gì, là anh đó sẽ... "rách." Không cờ bạc rượu chè, không cà phê thuốc lá gì cả. Rõ chưa?

     - Rõ.

     - Sau khi tan hàng các anh được phép lắc lư về phòng. Nghĩa là lăn về phòng. Rõ chưa?

     - Rõ.

     - Tan hàng.

     - Cố gắng.

     - Anh. Anh có nghe lăn về phòng hay không mà anh chạy. Lăn, nằm xuống, lăn. Anh dám xách động, chống đối đàn anh hả?

     Lăn lóc, trầy trụa rồi cũng lắc lư về được phòng, may là bãi tập hợp cũng gần cư xá. Cả bọn nhìn nhau phân vân cho số phần trước mắt của mình. Ngày mai, ngày mai rồi sẽ ra sao với đám đao phủ thủ, và còn phải chịu đựng cho biết đến bao giờ. Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh , chi binh kiểu cốt nhục tương tàn này thì còn huynh đệ làm chi cho mất công. Bước đường cùng coi như đã đến, bốn phương tám hướng, chưa nhận ra phương nào là Ðông, hướng nào là Tây, chưa biết đâu là bệnh xá, chưa biết đâu là nhà tắm, phòng vệ sinh. Làm gì hơn, đã lên lưng cọp rồi thì chỉ còn phải cỡi thôi.

     - Ê, Hùng, đâu mày phụ tao làm hết mấy thứ này coi.

     Việt, Trương Thanh Việt, thằng bạn nằm giường dưới của Hùng, vừa nói vừa lôi ra một đống lương khô, thịt hộp, sữa, đường, bánh ngọt... sắp đầy trên mặt bàn. Hùng trả lời dứt khoát:

     - Trong cái cảnh thê lương này mà ăn với uống gì nữa mậy. Tiếc rẻ làm chi, đào lỗ chôn cha nó hết cho rồi, cho đỡ hoạn nạn.

     Anh Nguyễn Thành Long, mới chịu có một tăng mà cái chân bắt đầu có tật, kéo xà lỉa xà lỉa đi vòng vòng hỏi thăm dầu nóng, cũng cười hề hề chêm vào:

     - Thằng Hùng nó nói trúng đó. Không những chôn mà còn phải chôn cho thiệt kỹ nữa. Chôn không kỹ tụi nó thấy dấu, tụi nó moi lên thì càng chết sớm. Ở đây xứ cát cũng dễ, bươi tay chôn cũng được, nếu gặp đất giồng như giồng ông Tố thì bọn mình nguy to.

     Nhóm bên kia vách còn có tiếng vọng qua:

     - Còn mấy bao thuốc lá này thì sao.

     - Thì mày rán thức suốt đêm mà hút cho hết.

     - Tụi nó đâu có cấm hút thuốc được. Cấm như vậy mấy thằng ghiền chết mẹ nó hết sao. Ðâu có tàn nhẫn dữ vậy.

     - Ðàn anh là cha mẹ mà, mày muốn được làm con cưng thì cứ giữ mà hút.

     Mười giờ đêm. Còi tắt đèn. Chờ. Ðến khi nào chỉ còn nghe tiếng ễnh ương, bù tọt, và tiếng nhà máy đèn chạy đêm rù rì đâu đây, cả bọn mới dám phân tán mỏng đi đào công sự, làm đám ma cho những cặn bã dân chính còn sót lại. Rồi như thấm mệt, tất cả lên giường lăn ra ngủ, chưa kịp nghĩ là suốt cả ngày nay đâu ai đã được đi tắm.

     Te, tít, tít. Te, tít, tít. Năm giờ sáng. Tiếng còi tập hợp, sáng này còn kiêm thêm tiếng còi đánh thức, bắt đầu nghe có vẻ ma quái, rùng rợn. Không biết lúc nào nó sẽ kêu, te, tít, tít, đơn giản như vậy mà là điểm bắt đầu của một chuyển động, một quay cuồng. Ðàn anh bàn giao nhiệm vụ làm vệ sinh cho đàn em, thụt cầu tiêu, chùi la-va-bô, rửa phòng tắm. Từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ làm việc này, bây giờ hôi thúi, chán quá. Hệ thống nước bị nghẹt, chảy tỏn tỏn như người ta đi đái. Phải ra giếng lấy nước cho lẹ, nón sắt đi nón sắt về chuyền tay nhau như dân làm đất đi đào kinh.

     Te, tít, tít. Xếp hàng đi ăn sáng, bánh mì, chuối già, nước trà.

     Te, tít, tít. Thể dục thể thao, chạy vòng vòng bãi tập, bãi cát trống giữa cư xá và bộ chỉ huy tiểu đoàn sinh viên sĩ quan. Một vòng, hai vòng, ba vòng, chạy trên cát bắt đầu thấy giống như chạy trên bùn. Bốn vòng, bước nào cũng thấy lún xuống sâu. Năm vòng, có mấy tên mặt mày tái xanh. Sáu vòng, có thằng ói mửa. Bảy vòng, ngã lịch bịch dọc đường. Tám vòng, nằm la liệt. Chín vòng, còn một số đi bộ. Mười vòng, mười một vòng..., chỉ còn mấy cán bộ đàn anh, mấy cán bộ không có nhiệm vụ quay:

     - Yếu quá. Các anh yếu quá, phải chạy tối thiểu là hai chục vòng.

     Sau đó đỡ hơn, tập đi thao diễn, một hai ba bốn, một hai ba bốn, cho đến trưa.

     Te, tít, tít. Mồ hôi như tắm mà vẫn phải xếp hàng đi vào phòng ăn, thứ tự từng trung đội, đi bẻ góc vô bàn ăn rất đàng hoàng, lịch sự. Bò ra-gu, canh rau muống, gà kho sả ớt, coi bộ có lý...

     Te... Ðàn anh bỗng dưng ở đâu túa ra đông nghẹt. Hùng linh tính như có chuyện chẳng lành. Cái gì nữa đây, trời đánh tránh bữa ăn nghen.

     - Khóa 17 nghe đây. Tất cả kéo ghế ra. Te.

     - Tất cả xoay bệ ghế vào trong. Te.

     - Tất cả quỳ gối lên, hai tay lên đầu. Te.

     Á, quỳ gối hai tay lên đầu. Ðúng là đàn anh không sợ trời đánh. Một số còn tự nhiên len lỏi vào trong hàng ngũ đàn em hỏi thăm sức khỏe từng người.

     - Trái này là trái gì, anh.

     - Trái ớt.

     - Trái này mà là trái ớt à. Trái này là trái chuối các anh biết không. Ai mà còn nói trái ớt là sẽ rách với tôi. Anh, trái này là trái gì?

     - Trái chuối.

     - Ðược lắm. Anh ăn trái chuối này cho tôi coi. Hả miệng ra.

     - Anh có cần uống rượu khai vị không?

     - Không.

     - Anh, chén này là chén gì?

     - Nước mắm.

     - Ai dám nói với anh là nước mắm, là rượu khai vị của Hải Quân anh biết chưa. Anh uống vô cho tôi coi...

     - Pha-rô. Sau khi nghe tiếng còi, tất cả ba mươi giây chun xuống bàn. Te.

     - Sủa lên, sủa to lên. Te.

     Vừa chật chội, vừa nóng nực, mà đứa này phải sủa vô mặt đứa kia. Mấy tấm drap trải bàn che khuất ánh sáng, mặt mày thằng nào trông cũng đen như lọ chảo. Sủa mậy, sủa đi mậy. Quấu quấu, quấu quấu. Quấu...

     - Pha-rô, pha-rô.

     - Tất cả chun ra ngồi vào ghế. Te.

     - Tất cả bới cơm vào chén. Te.

     Xoong cơm bây giờ thiệt đúng là xoong cháo heo. Lợi dụng lúc đàn em làm chó, đám đàn anh xấu bụng đã đổ hết mấy món ăn vô xoong cơm, trộn lộn xà ngầu. Trộn luôn mấy miếng vỏ chuối lai-sét, thấy bắt gớm.

     - Tất cả phải ăn hết chén cơm trước mặt trong vòng ba mươi giây, anh nào chậm trễ sẽ lãnh phần còn lại. Te.

     - Yếu quá. Khóa 17 yếu quá, có cái ăn mà cũng không xong. Yếu quá.

     - Tất cả bới cơm vào chén. Te.

     - Ăn. Te.

     Ðược nửa chén thứ hai, Hùng muốn ói trở ra. Chịu thôi, phen này không theo nổi đám đông được rồi, phải chịu lãnh phần ăn hết nồi cơm thôi, Hùng buông đũa.

     - Anh. Anh theo tôi ra đây. Anh dám chê cơm Hải Quân hả, vậy là anh không muốn sống rồi. Anh đi bằng đầu gối giáp vòng phòng ăn này cho tôi.

     Ðược. Bị quay riêng như vầy còn sướng hơn là ăn cái đống hổ lốn đó nhiều. Chén thứ ba, có thêm mấy tên nữa đi đầu gối với Hùng. Chén thứ tư, gần nửa khóa. Chén thứ năm, còn lại có mấy thằng, bụng nào mà ăn dữ vậy. Chén thứ sáu... Rồi người cuối cùng là thằng Ðỗ Văn Quả cũng phải tham gia công tác vừa đi đầu gối, vừa sủa ma trơi mà thôi. Mấy bà chị, mấy cô em làm trong phạn xá không cầm được nước mắt, khăn mù-soa sụt sùi.

     Chắc thấy chưa đủ "dose," đàn anh sau đó tập hợp đàn em ngoài bãi tập. Toàn bộ 17 đao phủ thủ dàn hàng ngang trước mặt. Người mặc áo rằn ri, kẻ mặc đồ thái cực đạo, tên này vận quần đùi áo lính, tên kia quấn cái quần dài ở trần trùi trụi. Ðội mũ lệch, đội mũ nghiêng, đội mũ ngược. Ðằng đằng sát khí, không mặt nào giống mặt nào.

     - Như đã hứa với các anh, hôm nay các anh sẽ được các đao phủ thủ tận tình săn sóc.

     - Tận tình săn sóc.

     - Ðể bắt đầu, các anh sẽ chạy đường trường vòng quanh sân tập. Anh nào tự động rời bỏ hàng ngũ sẽ được tiếp đãi riêng rẽ. Te. Chạy. Te.

     Mới ăn no mà bắt chạy thì không hợp vệ sinh chút nào hết. Hình như có kinh nghiệm buổi sáng, cho nên đám dẫn đầu chỉ chạy từ từ thôi. Năm vòng, chưa tên nào đào ngũ, mới đó mà tiến bộ thật. Sáu vòng, bắt đầu có người ngã ngựa. Rồi mấy vòng nữa tiếp theo, nhiều tên ói mửa lai láng, nằm rải rác khắp bãi cát, thoi thóp như chờ chết. Không biết tới vòng thứ mấy thì cả khóa đều bị quay riêng. Nguyên bãi tập gần ba trăm người, hễ thấy ai đứng thì biết là đàn anh. Ðàn anh thì có ba tốp, tốp quay, tốp cứu bồ, và tốp cho nước. Ðàn em thì chỉ có bò, trườn, lăn lộn, bơi ngửa, bơi xấp như một đàn siêu, hải cẩu, trong cái biển cát. Hải âu phi xứ, ngửa mặt lên trời vỗ cánh đếm sao trưa là sung sướng nhất, còn được cái cơ hội để nghỉ mệt, để lấy hơi.

     Ở phía hàng rào trường Kỹ Thuật có mấy tên không biết chống đối đàn anh cỡ nào mà bị chôn sống chỉ còn ngo ngoe có hai cánh tay và cái đầu lòi ra trên mặt cát. Chỉ còn thiếu cái cày và cặp trâu nữa là xong. Ở phía câu lạc bộ của Ðoàn Viên còn một nhóm đang lăn cái thùng phi, có một tên bị thụt đầu trong đó, quay vòng vòng như khúc gỗ. Một tên nữa đang biểu diễn một nghề mới của người hát xiệc, nghề "người đi trên thùng phi." Nếu người hát xiệc không đóng được tuồng thì người hát xiệc sẽ trở thành khúc gỗ, bởi vậy dầu thùng phi lắc lư cách mấy cũng phải rán mà giữ mình, rán mà đi cho vững.

     Vì lúc nào cũng bận rộn với những động tác ngoài ý muốn của mình, mà thời giờ qua mau. Lúc sắp tàn cuộc thì trời đã về chiều. Tất cả được tập hợp bên cái giếng lớn, để làm lễ "chào đời."

     - Tất cả quỳ gối, hai tay lên đầu. Te.

     - Kể từ giờ phút này, đàn anh tuyên bố cho các anh được làm lớp trứng mới, lớp "trứng thúi."

     - Trứng th... úi, thúi quá đi.

     - Trong tương lai các anh tuần tự sẽ được nở ra nòng nọc, nòng nọc sẽ đứt đuôi thành nhái, mới được đi bờ, đi phố, đi Nha Trang.

     - Úi chà, đi Nha Trang.

     - Tất cả bắt đầu lạy. Ba lạy, một... hai... ba...

     Những giọt nước mát, chảy từ đầu xuống cổ, vừa đủ thấm vào bâu áo, thấm vào da thịt như làm sống lại cái thân thể khô khan, gầy gò, bụi bậm. Ðàn anh chỉ làm được có bao nhiêu đó rồi từ từ rút lui. Từng nón sắt một, rồi hàng chục, hàng trăm nón sắt nữa dội vào nhau tung tóe. Ðàn anh đã đi xa, tiếng cười giỡn, chửi thề, văng tục như hiện về từ cõi chết, như được nghe lại lần đầu trong thế giới 17.

     Bóng đêm đã về. Xong được ngày thứ hai. Ðược tắm rửa sạch sẽ, được nhìn lại mình trong gương, được cầm lược chẻ ngôi làn tóc, những động tác thường ngày mới đó mà tưởng chừng như xa lạ. Thả lưng lên giường thấy thỏa mãn làm sao. Chắc phải viết thư về nhà diễn tả cái cảnh nửa đau thương nửa thú vị này. Cuộc đời trong quân ngũ bắt buộc phải khác cuộc đời thường tục rồi. Ai nỡ bỏ lỡ cái cơ hội này.

     - Te, tít, tít. Te, tít, tít. Te, tít, tít.

     Thôi rồi, ngày thứ hai này chắc cũng chưa đã chịu hết. Mới được sạch sẽ một chút, chẳng lẽ lại làm cho dơ trở lại. Ðàn anh không chịu để mình yên. Tập hợp, tập hợp, tập hợp hoài. Nhưng, khác hơn mấy lần trước, lần này cả khóa được hướng dẫn lên giảng đường 17. Vậy là đêm nay mình sẽ không bị hành tội, tưởng gì chớ đi học ca, học hát thì dễ rồi. Toán chiến sĩ hải quân ra khơi hôm nay. Trời nước Nam gió khơi nồng máu say. Ra đi không vương thê nhi, miền Bắc núi tuyết rét mướt, thân phơi trên Nam Băng Dương, trải trên ngàn trùng sóng... Ra khơi sóng vang rạt rào, mênh mông sóng va thân tàu, nghe âm u, ù ù, át tiếng máy, ầm ầm, quân ta reo, rầm rầm, tàu nhấp nhô. Mờ mờ xa mây núi, mờ mờ xa mây núi. Ði không vương bến bờ, chờ. Ra khơi trùng dương bát ngát. Ngày về tổ quốc ghi tên . Rồi tiếp theo, Ðây Bạch Ðằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung. Trên trời xanh ... rồi đến Ðường trường xa muôn vó câu bay dập dồn, đoàn hùng binh ... Bỗng nhiên đèn tắt tối mù, và những tiếng hô brimade, brimade vang dội như trời long đất lở. Tới nữa rồi, đàn anh tới nữa rồi. Cả bọn đang hồn vía lên mây, nhốn nháo như ong vỡ tổ, thì đèn bực sáng lên. Lại những tên đao phủ thủ.

     - Te. Ðàn anh nhận thấy các anh ca hát rất tồi. Các anh chỉ biết sủa thôi. Tất cả quỳ gối hai tay lên đầu. Sủa lên, sủa lớn lên. Te.

     Sủa thì sủa, có hại ai. Tru cũng được. Mà nghe kia, có tiếng tru của đứa nào vừa lớn vừa trong, lanh lảnh không thua gì tiếng chó sói thiệt. Nghe rợn người, đã vậy còn có phần phụ diễn đèn màu, lúc cháy lúc tắt của đám đàn anh nữa.

     - Chun xuống bàn và tiếp tục sủa. Te.

     - Pha-rô. Tất cả chun ra đi đầu gối vòng vòng giảng đường. Te.

     - Tất cả xăn ống quần khỏi đầu gối. Te.

     Da người cạ với xi-măng làm sao khỏi mòn, khỏi đau. Vậy mà có một tên đàn anh chơi dại dám cầm một bụm cát rải rải trên lối đi. Trông như xác pháo tả tơi, vì mỗi bước đi đầu gối là mỗi tiếng nổ. Xổ ống quần phủ một đầu gối, để làm cây nạng chịu đựng, gánh gồng. Rồi cũng bị bắt xăn lên, rồi cũng lén xổ xuống.

     - Anh. Anh có biết con này là con gì không?

     - Con nhái.

     - Anh mới chỉ là cái trứng thúi mà dám gọi con này là con nhái hả. Con này là ông nội của anh, anh biết chưa. Hôn ông nội anh một cái coi.

     - Hôn kiểu gì kỳ vâỵ, anh không biết nút lưỡi hả?

     - Anh kia. Anh dám cười hả. Mút ông nội anh một miếng coi.

     - Mút ông nội anh một miếng.

     - Mút ông nội anh một miếng.

     - Các anh làm quá ông nội hết xí quách rồi, trắng chạch mẹ nó rồi. Anh này, hả to họng ra. Nuốt luôn ông nội anh đi.

     - Ực...

     Ðêm hôm đó trời đổ cơn mưa. Hùng tréo chân dựa lưng trên bệ cửa sổ ngó ra hàng thông mới trồng mà lòng thấy bâng khuâng. Những hạt mưa vô tình đã xóa tan dấu vết của chỗ chôn đồ dân chính, thành một mặt cát phẳng. Ánh đèn vàng vọt từ phạn xá, từ bên kia hàng rào Kho Ðạn, phản chiếu những giọt mưa đang trở thành lâm râm, càng làm bóng đêm thêm mờ ảo. Nha Trang buồn, Hùng nghĩ vậy, mặc dù chưa biết Nha Trang trong ruột như thế nào... Xong, kể như qua được ngày thứ hai.

     - Hùng, nước trong phòng hết rồi, tới phiên mày đi lấy kìa.

     Thằng Phước, Nguyễn Thành Phước tới giục Hùng như vậy.

     - Tới giờ đi ngủ rồi mà ăn với uống gì nữa mậy.

     Tuy miệng nói vậy nhưng Hùng cũng biết bổn phận, nhảy xuống lấy cái nón sắt chạy xuống nhà ăn. Nồi nước trà còn lưng lưng, ấm ấm. Hùng chụp cái gáo múc đổ vô nón liên tục, rồi ba chân bốn cẳng chạy về, cứ sợ gặp phải đàn anh. Nhưng chạy trời không khỏi nắng, vừa ra khỏi cửa thì nghe tiếng quát tháo:

     - Anh kia, giờ này mà anh chạy đi đâu.

     - Dạ, đi lấy nước cho anh em, niên trưởng.

     - Chớ cái lũ đó không có chân không có tay hay sao mà anh phải lấy giùm. Anh giỏi lấy thì anh phải giỏi uống. Uống vô cho tôi coi.

     - Uống hết?

     - Còn chờ đợi gì nữa.

     Kê miệng uống ở vành nón thế nào nước cũng chảy ướt áo, mà phải chịu ướt áo không thôi thì bể bụng. Phải biết hy sinh. Làm xong mhiệm vụ, Hùng chào đàn anh cái cụp, xách nón không chạy tuốt về phòng không dám ngó ngoái lại.

     - Nước đâu mậy? Hết rồi hả?

     - Còn. Mà nhịn khát đi ngủ đi. Hay là mày muốn uống thêm một cái nón sắt nữa như tao thì cứ đi thử coi.

     Hùng vỗ cái bụng chông bốc, ướt nhẹp mấy cái rồi nhảy lên giường. Bây giờ mới thiệt là đã qua được ngày thứ hai.

     Ngày thứ ba cũng bắt đầu bằng thụt cầu tiêu, chùi la-va-bô, rửa phòng tắm. Cũng ăn sáng, chuối già bánh mì nước trà. Cũng chạy thể dục thể thao vòng vòng bãi tập. Cũng đi diễn hành một hai ba bốn, một hai ba bốn, nhưng bây giờ có kèm thêm phần văn nghệ, vừa đi vừa hát. Toán chiến sĩ hải quân ra khơi hôm nay... Ðây Bạch Ðằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung ... Và chỉ học thêm được mỗi cái nghề đánh giày. Ðánh ci-ra ướt với nước và bông gòn, không bóng không được đi ăn cơm. Bữa ăn trưa ngày thứ ba thiếu sót rất nhiều, không có rượu khai vị, không có cháo heo, không có lai-sét, và cũng không có chó gặm xương.

     Ðàn anh chắc đã thông cảm rồi. Ðàn anh đã biết, huynh đệ chi binh là cùng chung đời lính yêu nhau khác chi nhân tình . Nhưng, đàn anh đàn em sinh viên sĩ quan hải quân yêu nhau một cách khác. Bảo đảm thấm thía hơn nhân tình nhiều. Sau buổi cơm trưa chừng nửa giờ thì đã nghe te, tít, tít. Ðàn anh báo một tin buồn, anh Vũ Thế Tiệp đã chính thức đi vào lòng đại dương từ bệnh xá quân trường. Mặc dù mãi sau này anh em mới biết anh Tiệp chết vì bị ảnh hưởng của bịnh đái đường, nhưng cái chết của anh lúc đó đã làm tinh thần anh em bị chấn động, sa sút. Ai nấy đâm lo cho số phận của mình, không biết có nên bỏ cuộc nửa chừng, hay có nên chống báng cái đường lối huấn nhục hành hình kiểu kia. Nhưng nghĩ cho cùng, mình cũng không còn cái quyền chọn lựa.

     - Các anh đã làm nhục Hải Quân, mới vào đây có hai ngày mà đã chết một người rồi. Các anh phải chết thêm mười sáu mạng nữa thì mới xứng đáng làm quan, quan tàu, các anh hiểu chưa.

     Có người hy sinh, tưởng là mức độ quay sẽ được giảm xuống đôi chút nào ngờ giảm không giảm mà lại tăng, tăng vùng vụt. Từ đi đầu gối trên cát chuyển sang đi đầu gối trên vỉ sắt, rồi tới luôn, đi đầu gối trên vỉ sắt lật ngược. Từ đầu gối bọc quần chuyển sang đầu gối trần, một bước đầu gối một tiếng kêu... xèo... trên vỉ sắt nóng. Từ quần áo, giày vớ chuyển sang da thịt, tay chân, thân thể:

     - Anh. Tại sao anh dám để râu của anh mọc lởm chởm vậy hả? Nè, tôi giao anh hai miếng ngói này, anh vừa nhảy thăng thiên độn thổ vừa kẹp và nhổ hết đám râu đó cho tôi.

     - Còn anh. Râu anh cụt quá không nhổ được đâu. Anh lại nền xi măng đằng kia vừa hít đất vừa mài râu... nhẵn nhụi cho tôi coi.

     - Móng tay nhọn?. Mài luôn!

     Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi , cái câu này bây giờ nghe chán ngắt. Máu chưa chảy ruột sao mềm . Phải rồi, phải có máu chảy mới có đi bệnh xá, phải có đi bệnh xá mới có băng bó, phải có băng bó mới có miễn quay. Vậy mà sợ quá nghĩ không ra. Tàn trận nướng thân trên vỉ sắt, hết nửa khóa nối đuôi nhau đi thăm mấy cô y tá.

     Ðêm thứ ba đàn anh mũi lòng trước cảnh máu đổ thịt rơi, tự động ân xá đàn em. Ðể thay thế trò chơi brimade, đàn em sẽ trình diễn cống hiến đàn anh một đêm văn nghệ không ngừng, vì ngừng là bị quay tiếp. Ðàn anh hôm nay sang hơn một chút, lên làm vua, làm chúa, làm đại thần. Kiệu vua, kiệu chúa, kiệu đại thần làm bằng mấy cái... giường sắt cũng có hoa có tụi bằng... drap trải giường, được hộ tống nghênh ngang ngoài bãi cát. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau. Cũng có cung tần mỹ nữ mặc robe, jupe, cũng có vú bự vú nhỏ kèm theo kiệu cho mấy ngài. Thêm vài tên đấm bóp giả làm thái giám là đủ mặt bá quan văn võ triều đình.

     - Nè anh kia. Anh kiếm đâu cái con tiện tỳ này nó hôi nách quá. Anh đuổi cổ nó đi cho tôi coi... đi đi cha. Anh kiếm cho đại quan một con khác coi.

     - Tuân lệnh.

     Ðêm văn nghệ chửi nhỏ, chửi khéo, chửi xiên, chửi xéo đàn anh bị lộ tẩy cho nên chương trình bị bắt buộc phải ngưng ngang nửa chừng. Và đêm thứ ba cũng chấm dứt bằng một cơn quay nhừ tử.

     Qua ngày sau, cả khóa đi chích TAB. Mấy ngày ăn cháo, mấy ngày đàn anh không dám động mình tới một cọng lông. Nhờ cánh tay đau nhức tăng tăng mà cái thân đỡ khổ. Lúc hết thuốc thì chương trình ôn toán đại cương, kèm thêm phần tam giác cầu của Hải quân đại úy Lê Phụng cũng bắt đầu. Vậy mà chương trình huấn nhục vẫn tiếp tục dài dài, xen kẽ với chương trình học. Ðến ba tháng, cũng may là cường độ giảm dần, giảm dần.

     Tuần thứ sáu đánh đấu bằng lễ nở ra nòng nọc, và tuần thứ mười hai đánh dấu bằng lễ nòng nọc đứt đuôi thành nhái. Cũng tại cái giếng lớn nhưng hai lần sau này không những có nước giếng mà còn có xà bông, kem đánh răng, ci-ra tri trét lên đầu. Nhưng, kỷ niệm ý nghĩa nhất có lẽ là lễ nhận "bố con," Hùng có bố là đàn anh Lê Quang Trung hiền như cục bột. Tội cho những bác, chú bị tuyệt dòng không con, vì khóa 17 ít người hơn, phải nhận cháu, con của bạn. Ðêm bố con là đêm làm giàu cho câu lạc bộ, bố phải đãi con, nhiều khi con lẫn cháu, một chầu. Ba tháng trời chỉ có cơm quân trường, đám con cháu nhìn món nào cũng thấy thèm thấy ngon, kêu món nào cũng thấy láng thấy hết, trong tíc tắc. Bố chỉ nhìn và thông cảm, vì đoạn trường này bố cũng đã qua cầu.

     Một ngày di hành lên Hòn Chồng, và một chuyến hải hành ra Qui Nhơn, những tiết mục sau cùng trước ngày gắn alpha và đêm dạ vũ, cũng được tuần tự diễn ra theo đúng lịch trình. Gắn alpha, cánh cửa bước vào đời sĩ quan, Hùng cảm thấy... nó ngoạn mục làm sao.

     Rồi chương trình học chính thức bắt đầu. Những môn căn bản của sĩ quan như: Hàng Hải Cận Duyên, Hàng Hải Viễn Duyên, Hàng Hải Thiên Văn, Vận Chuyển Ðội Hình, Vận Chuyển Chiến Thuật, Hải Pháo (yểm trợ và phòng không), Ngư Lôi tức torpedo, Thủy Lôi là depth charge, Lãnh Ðạo Chỉ Huy... v. v. Vì phải lãnh đạo chỉ huy nên sĩ quan cũng phải học sơ qua 14 nghề của thủy thủ: Phòng Tai (cứu hỏa), Cơ Khí, Ðiện Khí, Giám Lộ (cờ đèn), Ra-dar So-nar, Trọng Pháo, Truyền Tin, Vận Chuyển, Bí Thư, Tiếp Liệu, Ẩm Thực, Chiêu Ðãi... Và những món ăn chơi như Khiêu Vũ, Thái Cực Ðạo, Xã Giao Hải Quân... Thời gian huấn nhục đã đi sâu vào tiềm thức, thấy kính mến đàn anh vô bờ, thấy mình trở nên cứng rắn như sẽ không còn cảnh ngộ nào làm mình lay chuyển nản lòng, và như sẽ không còn biết thế nào là xúc động, rơi nước mắt.

     ... Rồi thời gian thấm thoát qua mau:

     - Tất cả khóa 18 nghe đây. Te. Các anh phải biết là các anh có tội.

     - Có tội, có tội.

     - Ðã để đàn anh các anh chờ đợi cả năm trời.

     - Chờ đợi cả năm trời..., chờ đợi cả năm trời...

     ... Và, mười tám đao phủ thủ cho khóa đàn em cũng được trân trọng giới thiệu.

     - ...

     - Ðệ tứ thập ngũ đao phủ thủ, niên trưởng Trịnh Xuân Tiểu.

     - Khóc lên...

     - Ðệ tam thập lục đao phủ thủ, niên trưởng Nguyễn Bích Ngân.

     - Khóc lên...

     - Ðệ nhị thập thất đao phủ thủ, niên trưởng Nguyễn Ðức Nghĩa.

     - Có ta đây...

     - Ðệ nhất thập bát đao phủ thủ, niên trưởng Nguyễn...

     Không đợi đọc hết tên, Hùng đã nhảy lên khán đài như một võ sĩ vô địch, chấp tay bái tạ cùng đất trời. Nguyện sẽ tận tình săn sóc đàn em, nguyện sẽ giữ gìn truyền thống Hải Quân như số phần đã định. Hùng rống lên vang dội:

     - Ta là đệ nhất... thập bát đao phủ thủ...

   back to top

06. SỢI DÂY ÐỊNH MỆNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trong khi tất cả bạn cùng khóa đang say sưa với giấc mộng hải hồ, thì tôi bị gởi về trường Cây Mai để tiếp tục... học tập. Trường Cây Mai, mới nghe ai cũng mường tượng đây là một trường tiểu học với đàn trẻ nhỏ trong lứa tuổi ngậm ô mai, chớ đâu ai ngờ đây là trường Tình Báo của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Một trung tâm đào tạo những nhân viên nòng cốt cho CIA Việt Nam.

     Nói là bị hoàn toàn thì cũng không đúng lắm, phải nói là nửa bị nửa được thì hợp lý hơn. Nửa bị là vì tôi cũng như bạn bè đang còn yêu nếp sống hải hồ. Hơn một năm đi tàu và sáu tháng Duyên Ðoàn thì đã thấm vào đâu. Lính tàu mà không đủ thời gian đi tàu, không có Hải Vụ Bội Tinh thì đâu phải là lính tàu. Vả lại cái nghề hải quân vẫn thấy hay, thấy đẹp hơn cái nghề tình báo nhiều. Còn nửa được là vì tôi cũng như bạn bè đều muốn ca bài... về miền thành đô yêu dấu ..., đều muốn được đi phép dài hạn ở Sài Gòn.

     Ði phép dài hạn ở Sài Gòn thì có, nhưng dạo phố Sài Gòn dài hạn thì hình như không. Tại vì tất cả các sĩ quan khóa sinh đều bị đặt trong tình trạng nội trú, đều bị bắt buộc phải ăn cơm nấu bằng chảo đụng, giống y hệt như tất cả mọi quân trường. Không có trường hợp ngoại lệ, kể cả cái trường Cây Mai nằm trong Chợ Lớn này. Thuở đời nay, ngay giữa kinh đô ánh sáng mà cũng còn cái cảnh vợ con thăm nuôi.

     Cũng như tất cả các sĩ quan bạn, tôi cứ nghĩ sau khi mãn khóa mình sẽ trở thành Z.28. Nhưng Z.28 làm sao sống nổi với lương lính ở Việt Nam, cho nên rốt cuộc rồi tôi cũng chỉ kéo dài thêm những năm tiền lính, tính liền chứ chẳng có gì thay đổi lớn. Thật ra, nghề tình báo, nói tổng quát, là nghề nghiên cứu về địch, về kẻ thù. Thế thôi. Dân thường, lính thường, quan thường đâu dám công khai bàn bạc về Bác và Ðảng, về Trung Ương Cục, về Trường Chinh, về Võ Nguyên Giáp, về ngay cả cái tin báo... Nguyễn Chí Thanh đã chết trên đường mòn Hồ Chí Minh vì ăn bom B.52... Công khai bàn bạc như vậy thì khỏi cần chụp mũ cũng bị đi tù. Dân mình mà, nói động tới Tổng Thống một chút thì cũng đã vô khám rồi nói chi đến vấn đề tìm hiểu Bác, làm quen Bác dù chỉ qua tài liệu tin tức.

     Nghiên cứu về địch muốn có hiệu nghiệm chắc phải theo đúng binh thư Tôn Võ Tử cho nên mới đẻ ra cái vòng lẩn quẩn chu kỳ tình báo . Tin báo đưa về, mình ra công phối kiểm, nhận định, đúc kết, rồi phổ biến ra thành tin tức. Tin tức của mình trở thành tin báo của người khác. Tình báo mà, đâu ai tin ai. Lại ra công phối kiểm, nhận định, đúc kết, rồi phổ biến thành tin tức. Tin báo có cái sốt dẻo của nó, như cơm nóng. Và tin tức có cái nguội lạnh của nó, như cơm nguội. Nóng và nguội. Nóng chưa chắc đã ngon mà nguội chưa chắc đã dở. Ậy! Mà tin báo, tin tức ở đâu ra? Từ nguồn tin! Vậy nguồn tin là gì? Là mật báo viên, là cơ quan bạn, là tù binh, là không ảnh, là báo chí, là truyền hình, là bạn bè, là vợ con, là Mỹ... vv. Nhưng, nguồn tin nào là nguồn tin thật và nguồn tin nào là nguồn tin giả? Cái đó mới là điều đáng quan tâm, cái đó mới là điều đáng nói. Ðấy, trên đây là tất cả những gì cần nói của chứng chỉ Tình Báo Ðại Cương .

     Tôi tốt nghiệp một lần nữa, lần này quan trọng không phải là ưu, bình, thứ, mà quan trọng là ở lời phê bình của hội đồng giám khảo. Có khả năng về thẩm vấn , mấy chữ vắn tắt như vậy có thể thay đổi cả cuộc đời. Nhưng, đối với tôi thì khác, trước sau gì cũng là sĩ quan hải quân, nghề tình báo như nghề tay trái. Hơn nữa học tình báo là một chuyện mà làm tình báo lại là một chuyện khác, ai chả biết chuyện trong trường và chuyện ngoài đời khác nhau một trời một vực.

     Không biết cái đơn xin phục vụ gần nguyên quán của tôi với lý do cha mẹ già, anh tử trận có được cứu xét hay không mà trung tá Trần Văn Hớn, trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Hải Quân, kêu tôi vào văn phòng trình diện:

     - Anh được chỉ định làm "nai lô" Trà Cú, bắt đầu vào đầu tháng tới.

     - Dạ.

     - Anh có gì hỏi không?

     - Dạ không.

     Nilo đọc là nai lô, chữ viết tắt của chữ Naval Intelligence Liaision Officer, sĩ quan liên lạc tình báo hải quân. Khác xa với đề-lô bên pháo binh mặc dù lô nào cũng đi tiên phong, cũng sống ở ngoài field . Ði nai lô thì dễ hiểu rồi nhưng Trà Cú thì tôi chưa rõ là nơi nào. Tôi nhớ mang máng là một địa danh ở miệt Trà Vinh, Sóc Trăng, miệt có nhiều người Việt gốc Miên. Một thắc mắc lớn như vậy mà tại sao lúc đó mình không đặt vấn đề với trưởng phòng? Nhưng Trà Cú không thể ở miền Trung, tôi dám chắc như bắp. Dầu gì cũng ở miền Nam, chẳng xa đường đi mà lại gần nhân nghĩa, tôi hay nghĩ như vậy.

     Nhưng rốt cuộc đường đi thì có gần, nhưng nhân nghĩa thì xa. Ðường đi gần vì Trà Cú này là Trà Cú ở vùng Mỏ Vẹt. Gần là gần đường chim bay thôi, chớ muốn tới Trà Cú cũng phải mất cả ngày đường. Mà nói là cả ngày đường cho dễ nghe chớ thật ra đường xe lửa không có mà đường lộ đá cũng không có luôn. Ðộc đạo chỉ còn thủy vận. Không vận thì sang quá cho thân phận nai lô, tôi không dám nghĩ tới. Xuống Bến Lức theo tàu tuần ngược dòng Vàm Cỏ Ðông, ngủ một giấc thì sẽ đến nơi. Còn nhân nghĩa thì xa là vì trong vùng Mỏ Vẹt làm gì có dân chúng, nhà cửa. Chỉ có một căn cứ trơ trọi giữa cái bao la của ruộng đồng, tiếp nối với đồng Tháp Mười quanh năm phèn chua nước đọng.

     Chiều trên Phá Tam Giang ..., không hiểu chiều trên Phá Tam Giang đẹp như thế nào, nhưng chiều trên Vàm Cỏ Ðông thì thật là thơm tho, muôn hình vạn trạng. Thơm tho vì hai bên bờ sông là rẫy thơm, rẫy khóm. Những luống thơm, luống khóm song song chạy dài xa tít vào trong bờ, ngay hàng thẳng lối không khác gì ở đồn điền cao su. Cả một bầu trời ngào ngạt mùi thơm! Muôn hình vạn trạng thì chỉ dành riêng cho những người như tôi mà thôi, những người lính thủy đánh đồng Tháp Mười, không giống lính thủy đánh thủy, không giống lính thủy đánh bộ chút nào hết. Lính thủy đánh đồng Tháp Mười ngoài ca-nô hai trăm năm chục mã lực làm phương tiện đi về thành phố còn phải xài nhiều loại tàu đặc biệt hơn nữa: tàu mủ phản lực, tàu bay có chong chóng sau đuôi, tàu cao su phình lên xẹp xuống như bong bóng..., tàu gì chỉ biết lướt cỏ mà không có chân vịt. Bởi vậy chiều trên Vàm Cỏ Ðông cũng thay đổi theo từng loại tàu, chân trời có lúc như nhô lên cao, có lúc như tụt xuống thấp.

     Căn cứ Trà Cú nằm trên kinh Trà Cú gần ngã ba chảy ra sông Vàm Cỏ Ðông. Một giang đoàn Hải quân Mỹ, một đại đội Thủy quân lục chiến Mỹ đang hành quân phối hợp, cộng thêm một trung đội Tác Chiến Ðiện Tử của Hải quân Việt Nam. Nai lô mặc dù một mình, đúng y chang là quan không lính, cũng được coi là một đơn vị. Ðóng chung thì đóng nhưng hoạt động riêng biệt một mình một cõi. Ðồng thuyền với tôi là thằng nai lô Mỹ, counterpart , nhưng tôi không làm chung với nó được vì tánh thằng này như Tào Tháo. Ai mà thèm rớ đến tiền mật phí của nai lô làm chi cho mệt, phải mất công thành lập lưới báo cáo lưới, vậy mà tối ngày nó cứ thăm tới thăm lui cái ngăn kéo có chứa nửa triệu tiền mặt. Bực. Cho nên từ căn nhà xi-măng cốt sắt, tôi dọn luôn xuống khu Việt Nam ở chung với đám lính cho có bạn, đạn pháo kích chắc cũng còn... con mắt.

     Ðóng ở Trà Cú cũng giống như đi ngoại quốc vì Hải quân Mỹ bao ăn bao ở luôn cho đám nhân viên Việt Nam. Mình làm thân ăn nhờ ở đậu, như dân tộc thiểu số, ngay trên đất nước mình. Nhưng, ăn cơm Mỹ cao lắm vài tuần thì anh em bắt đầu đào ngũ. Rồi không ăn mà cũng đi lấy. Mỗi buổi sáng hai trứng hột gà, chất đầy nón sắt. Buồn, đem ra đánh bài, đứa nào gom sòng lúc về Sài Gòn sẽ chở nguyên một cần xé. Ðồ ăn trưa và chiều thì cũng lấy rồi đem ra khu gia binh của tiểu đoàn Lực Lượng Ðặc Biệt ngoài đầu kinh để đổi rau cải, gia vị, cá khô, và thực phẩm khô. Mấy bà chị chịu quá; ham, bacon, chicken, hamburger, hotdog... vv chê làm sao được. Chỉ có thứ sáu ăn tôm hùm là phe ta làm láng, không đổi chác gì hết. Sau đó, mua bếp điện bắt đầu nấu luôn ở trong trại. Thỉnh thoảng lấy ca-nô đi hai ba tiếng đường sông tới Hiệp Hòa, lò đường Hiệp Hòa và chi khu Ðức Huệ, để đi chợ.

     Ở giữa đồng làm gì có nguồn tin tốt, và làm sao mà tuyển mộ mật báo viên? Tin báo qua các công điện Mỹ, công điện Việt của các đơn vị bạn thì chỉ lai rai. Thỉnh thoảng tụi Mỹ mới bắt một vài người tình nghi đem về cho tôi thẩm vấn. Hầu hết đều là dân đi làm rẫy, vớt cá. Nhưng, lần đó là một bà già tuổi trạc sáu mươi. Không biết có phải là mẹ chiến sĩ hay không mà bà ta khăng khăng không chịu hợp tác, cứ trả lời nhát gừng những câu hỏi của tôi. Rồi bỗng nhiên lớn tiếng chửi, cả tôi lẫn Mỹ. Tự ái vùng lên, tôi ký giấy đưa bà ta về trung tâm thẩm vấn chi khu và không biết số phần của bà ta ra sao. Mấy ngày sau đi phép về nhà, tôi gặp má tôi cũng chạng tuổi đó đang lom khom bên luống rau, sực nhớ đến bà già tình nghi, lòng chợt thấy băn khoăn lương tâm cắn rứt. Chẳng lẽ mình cũng ác đến độ giết người không cần gươm giáo? Bả dám rục xương trong tù. Rồi thấy ân hận sao mình vẫn dễ mềm lòng xúc động, vẫn còn biết rơi nước mắt. Tôi biết, ba tháng huấn nhục chết sống ngoài quân trường Nha Trang rồi như cũng chưa đủ để làm trái tim mình trở thành sắt, đá.

     Nằm trại đọc công điện hoài cũng chán, nên ngoài công tác tình báo tôi tham gia các hoạt động của toán Tác Chiến Ðiện Tử cho đỡ buồn. Những cuộc hành quân đặt máy, những cuộc hành quân kiểm soát kết quả làm thì giờ qua mau. Máy báo động, sensors , thu hết âm thanh trong vùng và chuyển về căn cứ, được đặt ngang dọc trong những khu vực có nhiều đường xâm nhập người và vũ khí từ khu Mỏ Vẹt về thủ đô. Cọng ăn-ten nhú lên cao, hòa hợp với đám cỏ đồng. Ban nhạc đêm giữa chốn đồng sâu nghe rõ mồn một trên máy nhận. Dế gáy, chuột chạy, vạc sành kêu, bù tọt rống, ễnh ương tru... và đôi khi có tiếng người... mới nghe đã nổi da gà. Việt Cộng, Việt Cộng về. Kêu pháo binh dập. Dập liền tức khắc, dập không còn một mống, không còn tiếng động mới thôi. Sáng ngày cả bọn hân hoan lội nước phối kiểm. Việt Cộng chết đã đành, ai dè cả bầy, trâu bò mà đi ăn đêm, lộn cổ cỏ mềm nằm chết ngổn ngang ... Chiến lợi phẩm còn có thêm mấy con đỉa trâu mang tật thèm thuốc thèm vôi, lần nào cũng cố tình đeo bắp chân bắp đùi theo mình về trại.

     Làm ăn với Mỹ một thời gian coi bộ chắc không khá, cho nên trung tá trưởng phòng Nhì có lệnh cho tôi đổi về căn cứ Củ Chi làm nai lô Sư Ðoàn 25. Lại cũng bị chèn ép nữa, xưa nay nai lô phải nằm ở quận, nai lô chi khu, hoặc nằm ở tỉnh, nai lô tiểu khu, chớ ai hết làm nai lô giữa đồng lại nhảy vô làm nai lô sư đoàn. Nai lô Vĩnh Long, nai lô Mỹ Tho, nai lô Tân Châu, nai lô Hà Tiên... nghe vừa hợp tai vừa có thớ một chút. Nhưng không sao, dầu gì từ Củ Chi vọt về Sài Gòn cũng gần.

     Rồi chẳng bao lâu tôi lên trung úy, đúng ngày đúng tháng. Trung úy thì over qualified cho chức vụ nai lô, thành thử tôi bị triệu hồi về bộ tư lệnh Hải Quân. Mới đầu tôi được chỉ định làm sĩ quan khai thác tin tức quân khu 3, rồi sau đó, vì hơi to tiếng cho nên kiêm thêm chức vụ thuyết trình viên cho đô đốc tư lệnh Trần Văn Chơn. Bắt chước Hải quân Mỹ, Hải quân Việt Nam cũng gọi mấy ông sao của mình bằng đô đốc, bốn sao, mặc dù cấp bậc ghi rõ ràng Phó Ðề Ðốc, Ðề Ðốc. Mỹ thì chỉ good morning với admiral thôi, chứ đâu có kèm rear, vice gì gì cho admiral làm chi cho thêm dài dòng. Kính thưa đô đốc Tư Lệnh Hải Quân..., nghe nó quan liêu làm sao. Phần thuyết trình bằng anh ngữ cho đô đốc Zumwalt thì do trung úy Hoanh, khóa đàn anh, đảm nhiệm. Trung úy Hoanh thì khỏi chê, điểm thi ECL chưa bao giờ dưới 95, muốn đi Mỹ lúc nào cũng được.

     Vài tháng trước khi đi Guam lãnh tàu, trung tá trưởng phòng Nhì không hiểu vì lý do gì, đột nhiên có lệnh cho tôi thuyên chuyển xuống Bình Thủy, Cần Thơ. Như được gãi đúng chỗ ngứa vì tôi cũng định xin đổi đi chỗ khác. Ðơn vị mới là Bộ tư lệnh Hải quân hành quân Sông. Coi một nửa Hải quân vì Hải quân Việt Nam lúc này chia thành hai lực lượng, lực lượng Sông và lực lượng Biển. Ðô đốc Ðinh Mạnh Hùng làm tư lệnh lực lượng Sông. Dưới tay có luôn cả ba đô đốc: đô đốc Hoàng Cơ Minh tư lệnh lực lượng Thủy Bộ tức lực lượng 211, đô đốc Nghiêm Văn Phú tư lệnh lực lượng Tuần Thám tức lực lượng 212, và đô đốc Vũ Ðình Ðào tư lệnh lực lượng Trung Ương tức lực lượng 214. Lực lượng Thủy Bộ trấn sông Năm Căn, sông Ông Ðốc, sông Rạch Sỏi, kinh Xà No. Phần lớn lực lượng Tuần Thám trấn sông Cửu Long, hai sông Vàm Cỏ. Phần lớn lực lượng Trung Ương trấn sông Ðồng Nai, sông Lòng Tào. Mỗi lực lượng có trung bình từ ba đến năm liên giang đoàn gọi là bộ chỉ huy chấm , như 211.1, 211.2, 211.3 chẳng hạn. Mỗi chấm có trung bình từ ba đến năm chấm chấm tức bộ chỉ huy giang đoàn, 211.1.1, 211.1.2... Lực lượng Sông phối họp hành quân cấp quân đoàn với quân đoàn 3 và quân đoàn 4. Còn lãnh thổ của quân đoàn 1 và quân đoàn 2 thì bị chê vì không có sông?

     Cũng cái tội to tiếng cho nên mặc dù là sĩ quan đệ tam, sau thiếu tá Nguyễn Phước Ðức trưởng phòng và trung úy Thiện phó trưởng phòng, tôi vẫn phải lãnh phần thuyết trình. Và có lẽ vì tôi trả lời các câu hỏi của đô đốc Hùng và ban tham mưu có phần vững chắc mạch lạc, kinh nghiệm từ Sài Gòn mà, cho nên lần lần thiếu tá Ðức thấy mình như thừa, bèn xin đi lãnh tàu như trung tá Hớn. Thiếu tá Võ Văn An từ bộ tư lệnh Hải Quân đổi xuống cũng không nắm vững được gì, lần lần rồi cũng rơi vào tình trạng có cũng như không.

     Thời thế tạo anh hùng, bỗng nhiên tôi được thăng cấp đặc cách nhiệm chức. Một năm bảy tháng kể từ ngày lên trung úy, tôi là một trong bảy đứa của khóa lên đại úy đầu tiên. Không hiểu phòng Nhì đề nghị ra sao, cấp số ra sao mà tôi dính. Tôi đương nhiên trở thành phó trưởng phòng, trung úy Thiện bây giờ kém thâm niên hơn bị thuyên chuyển xuống bến Ninh Kiều. Rồi một buổi sáng đẹp trời trung úy Lê Tâm Hiệp, bạn cùng khóa với tôi đang làm chánh văn phòng cho đô đốc Hùng, gọi điện thoại thông báo:

     - Ê, chuyến này mày lại lên nữa rồi, như diều gặp gió...

     - Gì mà lên mậy.

     - Sửa soạn trình diện tư lệnh.

     - Tao? Trình diện tư lệnh giờ này? Giỡn chơi mậy?

     - Ừa. Cho mày 5 phút thôi đó.

     - Chuyện gì vậy mậy?

     - Chút nữa rồi biết, lẹ lên.

     Tôi nghĩ chắc chẳng có gì quan trọng, gặp mặt đô đốc hằng ngày mà. Nhưng, phải áo mão chỉnh tề, trình diện khác xa với cần gặp.

     - Anh là sĩ quan thâm niên nhứt của phòng Nhì sau thiếu tá An?

     Tư lệnh biết hết rồi còn làm bộ hỏi, tôi nói thầm trong bụng.

     - Dạ phải.

     - Anh thấy khả năng của anh có thể đảm nhiệm nổi phòng Nhì hay không?

     Hả? Coi luôn phòng Nhì? Câu hỏi này đến với tôi có hơi đột ngột. À, chắc thiếu tá An cũng xin đi lãnh tàu. Tôi bình tĩnh trở lại, trả lời một cách dứt khoát:

     - Nếu đô đốc tin tưởng ở tôi, tôi nguyện sẽ phục vụ hết sức mình.

     - Ðược rồi. Kể từ giờ phút này tôi chỉ định anh làm Quyền trưởng phòng Nhì.

     - Tuân lệnh đô đốc.

     Chào cái rụp bước ra khỏi phòng tôi gặp ngay trung úy Hiệp ngoài cửa:

     - Sao? Ðô đốc cho mày làm phải không? Cấp số trung tá nghe mậy.

     - Ừa. Chuyện quan trọng như vậy sao mày không báo động tao gì hết vậy.

     - Phòng Nhì như mày thì dẹp mẹ nó cho rồi. Chớ mày chưa biết chuyện đêm hôm qua à?

     - Chuyện gì?

     - Còn chuyện gì nữa. Chuyện thiếu tá An phòng Nhì của mày đó. Lem nhem ba cái đồ lặt vặt của Mỹ bàn giao. Ðô đốc giận quá chừng, ổng ký công điện thuyên chuyển thằng chả về Sài Gòn trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Mầy thấy thiếu tá An có đi làm bữa nay không?

     Tôi như trên cung trăng rớt xuống. Ðúng là trời bất dung nhơn đảng. Ðúng là như diều gặp gió. Bây giờ phải chuẩn bị việc bàn giao thôi.

     Mới làm Quyền Trưởng Phòng mà cuộc đời bên ngoài đã thay đổi hẳn. Ngoài đường có xe jeep, có tài xế. Trong nhà có điện thoại dân chính, điện thoại nhà binh, điện thoại hot-line. Họp hành ngồi ngang hàng cấp tá. Thiếu tá Bảy tức Vũ Thất tác giả Ðời Thủy Thủ, trưởng phòng 3. Thiếu tá Ðiệu trưởng phòng 6. Trung tá Lũy trưởng phòng 4... Nhưng bù lại, công việc cũng bắt đầu lu bu hơn. Họp tình báo hành quân Sông hàng tháng, họp của tư lệnh hành quân Sông mỗi tam cá nguyệt, và bay trực thăng, cessna, đi thanh tra các đơn vị với đô đốc Hùng như cơm bữa.

     Họp tình báo hành quân Sông gồm có đám nai lô thuộc hai quân khu 3 và 4, hai trưởng toán Sưu Tập 3 và 4, hai trưởng phòng Nhì vùng Sông Ngòi 3 và 4, và ba trưởng phòng Nhì lực lượng Thủy Bộ, Tuần Thám, Trung Ương. Năm sáu chục sĩ quan. Và mới ngày nào tôi còn làm nai lô, nai lô Trà Cú. Ðám nai lô nhỏ lon hơn không nói làm gì, đám trưởng phòng, trưởng toán đều thâm niên hơn tôi mới kẹt. Ðại úy Bang khóa 13, đại úy Tống khóa 15, đại úy Ẩn thủ khoa khóa 16, tất cả đều là đàn anh sắp sửa lên thiếu tá hay ít ra cũng là đại úy thực thụ, còn tôi thì mới nhiệm chức. Thêm biệt đội trưởng Biệt Ðội Sưu Tập, thiếu tá Chu Bá Yến, cũng về dự nữa thì tôi làm sao mà ngồi chủ tọa cho được. Phải biết tạo cái thế:

     - Ðô đốc tư lệnh đến. Nghiêm.

     - Mời quý vị an tọa.

     - Ðể khai mạc buổi họp ngày hôm nay tôi có đôi lời với các anh..., rằng thì là..., và tóm lại, rằng thì là... những gì trưởng phòng Nhì chỉ thị trong phiên họp này, được coi như là lệnh của tôi. Các anh nghiêm chỉnh thi hành...

     - Tất cả. Nghiêm.

     Tư lệnh rời phòng họp, bầu không khí trở thành nghiêm trọng. Ðám nai lô có mấy khi được thấy sao, nên hơi giựt mình, chuyến này về họp thật chứ không phải về chơi. Ai nấy lo hồ sơ phúc trình. Nhưng, mấy quan to thì cũng chứng nào tật nấy:

     - Ê, họp một buổi còn một buổi đi xả hơi chớ mậy.

     - Ðại ca muốn đi đâu thì đi, cần gì phải nhắn nhủ với đàn em làm chi. Chỉ sợ biên bản buổi họp, sĩ quan thư ký nó hay... thấy sao ghi vậy.

     Họp tình báo không mệt bằng họp tam cá nguyệt của tư lệnh hành quân Sông. Hầu hết mấy ông đô đốc của Hải Quân đều có mặt đầy đủ, thêm một đoàn tùy tùng lon lá tối thiểu cũng ba bốn bệt bự trên vai, mình ăn nói cũng phải lựa lời. Lên thuyết trình mà bị tư lệnh Hải Quân hỏi lên hỏi xuống là thấy mệt rồi, trả lời ấm ớ không thông suốt, bị quay tại chỗ thì còn mệt hơn nữa. Cũng may đô đốc Chơn còn nhớ mặt tôi hồi còn ở Sài Gòn, ổng không chất vấn đã đành, đôi khi ổng còn đỡ đòn cho tôi nữa:

     - Người ta đã trình bày hồi nãy rồi, chắc anh ngủ gục anh không nghe hay sao mà anh hỏi tới hỏi lui.

     Tư lệnh Hải Quân dằn mặt như vậy thì ai mà dám hỏi thêm, bởi vậy những lần thuyết trình sau không còn ai dám hạch sách tôi một điều gì nữa. Mà nói cho ngay, phần thuyết trình của phòng Nhì hành quân Sông lúc đó khó mà có chỗ chê. Vì tôi bắt áp phe với thiếu tá Sắc, thiếu tá San... đàn em của đại tá Bình, trưởng phòng Nhì quân đoàn 4 vào thời thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, cho nên bản đồ tình hình, bản đồ trận liệt, bản đồ gì gì... đều là phim chụp, chứ đâu có còn vẽ slide theo kiểu cũ rích như ngay cả bộ tư lệnh Hải Quân ở Sài Gòn.

     Trục trặc hay không là mấy phòng kia, nhất là phòng 4 của trung tá Lũy. Chỉ có mấy chiếc tàu chìm mà lần nào cũng bị quay, lần nào cũng không nắm vững chiếc nào đã vớt về thủy xưởng, chiếc nào còn kẹt dưới sông. Tàu chìm hay nằm trong vùng địch, mỗi lần vớt tàu là mỗi lần hành quân lớn để bảo vệ tàu trục và đám thợ lặn. Không hành quân lớn thì chiếc này vớt chưa xong chiếc kia lạng quạng cũng dám chìm theo. Bị quay quá rồi rốt cuộc chỉ có tôi và đại tá Ðỗ Kiểm thuyết trình. Ðại tá Kiểm mới đổi về thay trung tá Lưu Trọng Ða, trung tá Yellow Dragon tàu vải Tân Châu, làm Tham mưu trưởng hành quân Sông. Sau phần thuyết trình của tôi, đại tá Kiểm thầu hết mấy phòng kia. Cũng vui.

     Ði hải quân mà tôi sắp sửa có Không Vụ Bội Tinh, tại vì giờ bay nhiều quá. Ðô đốc Hùng đi thì tôi phải đi, quân sư mà. Trực thăng lúc đó ăn SA 7 hơi nhiều nên không dám bay bổng, bay xà xà mặt đất để rủi có ăn thì ăn AK thôi, cũng không đến nỗi. Ði Chương Thiện họp với tư lệnh Sư Ðoàn 21, chuẩn tướng Chương Dềnh Quay, cứ bay dọc theo kinh Xà No, thấy mình như chạy đua với ghe xuồng. Lúc gần đến Vị Thanh trực thăng mới vọt cao khỏi mấy lùm cây rồi đáp xuống tức khắc ở điểm thả khói màu. Ði Mỹ Tho thì vui hơn một chút, trực thăng bay dọc theo quốc lộ 4 như chạy đua với xe hàng, xe đò, xe lô, xe jeep, xe honda. Gần tới Ðồng Tâm cũng vậy, trực thăng phóng một bước nhẹ nhàng như ếch nhảy bờ giếng. Chỉ khi nào đi Năm Căn, Cà Mau, nếu không có cessna, thì trực thăng mới chịu bay tuốt trên mây, cao thật cao, cao khỏi tầm hỏa tiễn.

     Ði bay thị sát mặt trận thì vui gấp bội, như đi xem ciné. Dạo đó chiến dịch Trần Hưng Ðạo 18, trách nhiệm hộ tống đoàn công voa đi Nam Vang, được Việt Cộng chiếu cố nồng hậu. Có mười lăm chiếc tàu mà hai lần đi hai lần quành trở lại, thiệt hại mỗi bận hai chiếc trôi dạt tấp vô bờ sông. Bị pháo kích, pháo kích như mưa. Nhứt quá tam, đô đốc Hùng chuyến này quyết làm ăn lớn. Tập trung năm giang đoàn, 2 giang đoàn Tuần Thám, 2 giang đoàn Thủy Bộ, và một giang đoàn Ngăn Chận thuộc lực lượng Trung Ương. Thêm chiếc giang pháo hạm HQ 331. Có người bàn, đưa giang pháo hạm lên đó chỉ làm quà cho Việt Cộng, nhưng đô đốc Hùng cứ quyết cho lên. Tin tưởng vào khả năng trực xạ của mấy khẩu 76 ly 2, mấy khẩu bô-pho 40 ly, mấy khẩu o-e-li-cân 20 ly. Một phần như để thị oai, tàu lớn mà.

     Phối họp hành quân với trung đoàn 31, bộ chỉ huy tiền phương đặt tại Hồng Ngự dự trù càn quét đội pháo của Việt Cộng hay ẩn núp trên bờ sông trên. Bộ chỉ huy tiền phương của Hải quân vẫn nằm tại căn cứ hải quân Tân Châu. Phối họp với Sư đoàn 4 không quân, oanh tạc từ tờ mờ sáng không biết bao nhiêu phi vụ phản lực F 5, A 37 và A1 skyraider, những cuộn khói đen bay ngập trời. Bộ binh liền được trực thăng vận, dập vô những điểm pháo.

     Ðoàn công voa bắt đầu di chuyển, tàu hải quân bảo vệ chạy song song hai bên. Trên trực thăng nhìn xuống, chưa bao giờ tôi thấy nhiều tàu như vậy. Tàu như cá, chạy đặc sông. Chiếc thứ hai vừa qua khỏi vùng nguy hiểm, thì bỗng nhiên, tung... ầm, tung... ầm, tung... ầm, những làn khói cầu vòng in rõ trên không trung. Lại pháo. Ðạn nổ trên tàu tóe lửa như pháo bông. Ðạn nổ dưới nước, những cột nước dựng lên như sóng thần. Lần này đội pháo Việt Cộng không nằm trên bờ, mà liều chết ẩn núp trên mấy chiếc tàu chìm, hai tiểu đoàn bộ binh nhảy trên bờ như nhảy vào chốn vườn không nhà trống. Cay thiệt. Ầ... m... ầm..., một tiếng nổ trầm, ngân dài, vang dội. Chiếc thứ tư kéo nguyên một xà lan đạn, xà lan đạn bị nổ tung. Cả dòng sông dậy sóng, lửa túa lên đỏ cả một vùng trời. Tàu kéo chặt dây xách xe không chạy tiếp. Tàu hải quân bao vây mấy chiếc tàu chìm, và đoàn công voa tiếp tục di chuyển. Bây giờ chiếc HQ 331 mới có dịp thử súng, chùi bao nhiêu năm mới được bắn một giờ ... Tàn cuộc, hai đại đội Việt Cộng chết phân nửa, bắt sống phân nửa. Tịch thu một lô vũ khí: súng cá nhân, súng cối, súng không giật, và nhiều hỏa tiễn điều khiển con cóc SA 3 chưa kịp xài. Ðã thiệt.

     Nhưng có làm lâu mới biết: đi với đô đốc Hùng ăn bánh mì tay cầm, đi với đô đốc Minh hút thuốc Bastos xanh, còn đi với trưởng phòng Nhì hành quân Sông thì chỉ có nước ăn giấy. Chán quá. Bởi vậy đủ hai năm, đúng tiêu chuẩn, tôi không xin đi lãnh tàu như mấy quan lớn phòng Nhì mà xin đổi ra Phú Quốc, bộ tư lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Hai năm trời, điều chỉnh thực thụ cũng không xong thì luyến tiếc làm chi.

     - Anh đang nắm tình báo tham mưu của một nửa Hải quân, mà bây giờ xin đi coi một cái đảo là làm sao? Anh định đi hưởng nhàn hở?

     Ðại tá Nguyễn Ðỗ Hải trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Hải Quân phàn nàn với tôi như vậy. Nhưng, tôi biết ổng nói cho có chuyện nói thôi, ổng cũng biết bấy giờ tôi có thớ lắm. Tôi muốn đi đâu như là... tùy ý tôi. Gớm chưa! Tôi biện bạch:

     - Thì tôi làm ở Sông lâu quá rồi, bây giờ đại tá phải cho tôi ra Biển để tôi có dịp học hỏi thêm chớ.

     Vài tuần sau, một lần nữa, tôi lại phải về trình diện đại tá Hải:

     - Tôi cho anh đi mà ông Tham mưu trưởng không cho đi. Thủ bút của ông đây này, anh còn thắc mắc gì nữa không?

     Tôi cầm cái công điện đọc kỹ mấy dòng chữ viết tay xéo xéo: "Không thuận. Giữ đương sự tại Sài Gòn. Ðỗ Kiểm, ký tên." Ai chớ đại tá Kiểm thì dễ rồi, cựu Tham mưu trưởng hành quân Sông của tôi mà. Tôi chỉ biết ổng mới đổi đi mà chẳng biết ổng đổi đi đâu. Bây giờ làm Tham mưu trưởng Hải Quân? Ổng lên thì đương nhiên tôi cũng lên. Nhưng, cái ông này kỳ, không hiểu mình gì hết...

     - Ðại tá cho tôi mượn cái công điện để tôi đi bàn lại với ổng xem sao.

     Chánh văn phòng trịnh trọng mở cửa mời vào. "Commandant, cái này là tôi xin đi mà, commandant phê như vầy thì kẹt đàn em rồi. Commandant hồi trước ở ngoài đó commandant biết mà, dễ sống hơn ở đây." "Tôi tưởng anh bị đi đày nên tôi giữ anh lại, anh muốn đi thì tôi cho anh đi." Chạy đi chạy về, vác theo cái chữ to tổ bố: "Thuận." Ðại tá Hải nhột bụng, dằn mặt tôi một câu:

     - Tôi cho anh đi không phải vì cái thủ bút của ông Tham mưu trưởng đâu nghen... Anh ra đó đúng ngày đúng tháng là tôi sẽ kéo anh về.

     Rồi trước khi rời hành quân Sông, trước khi bàn giao cho thiếu tá Nguyễn Ngọc Quyên, hạm trưởng tàu chìm HQ 225 dưới Năm Căn, tôi tự nhiên muốn được lênh đênh một lần nữa trên sông Vàm Cỏ Ðông như thời mới vào nghề, mới làm nai lô. Thời đó, thời con diều của tôi mới thả, và bây giờ con diều đã gặp gió đã lên cao, thật cao... Công điện đánh đi chỉ mấy chữ gọn gàng: "Trưởng phòng Nhì hành quân Sông sẽ thám sát tình hình..., yêu cầu các nơi nhận chuẩn bị yểm trợ." Mấy đơn vị nhỏ đâu biết trưởng phòng Nhì hành quân Sông là ai, tưởng là quan lớn lắm. Trung tá Giang, chỉ huy trưởng chấm 3 tại Bến Lức chuẩn bị cho tôi 4 chiếc PBR hộ tống và chỉ huy trưởng các giang đoàn nằm tại Trà Cú và Gò Dầu Hạ đang chuẩn bị đón tiếp, chuẩn bị hồ sơ thuyết trình tình hình. Cho tôi. Một lần nữa, tôi thấy con diều của mình thật sự đã lên. Nhưng lên cao nữa, lên mãi... hay rất tiếc con diều kia hình như vẫn còn kẹt bởi sợi dây? Chừng nào sợi dây bị đứt đi, con diều tôi mới đến được với mây trời mênh mông, mênh mông như trời đất của ruộng đồng Trà Cú này. Trà Cú, cái địa danh bất hủ đó và cái căn cứ bất hủ đó cũng đang mờ mờ hiện ra trước mắt tôi. Bỗng dưng tôi nói:

     - Mình vọt lên chạy trước đi.

     - Dẫn đầu hả đại úy? OK.

     Anh trung sĩ vận chuyển đẩy hai cần máy, tiến full. Tàu bọc theo cua quẹo như honda ôm lề đường. Vừa khuất cái doi trước khi rẽ vô kinh để vào căn cứ, thì đột nhiên bùng... bùng, và tiếng súng nhỏ nổ như bắp rang. Tôi ra hiệu cho tàu quành trở lại. Chiếc BPR thứ hai ăn B 40 trở thành ngọn lửa nổi, mấy thằng em đang lội bì bõm giữa dòng. Tình báo Việt Cộng cũng lẹ, mới đó mà đã biết chiếc nào có chở trưởng phòng Nhì hành quân Sông. Sanh nghề tử nghiệp, may mà tôi bảo thằng em chạy trước vào phút cuối. Chỉ trong đường tơ kẽ tóc? Chỉ là số trời? Mà tôi cũng đâu chịu rửa cẳng lên bàn thờ sớm như vậy. Ha ha..., may là cơn gió lốc không mạnh lắm cho nên con diều của tôi vẫn còn mắc kẹt sợi dây..., sợi dây định mệnh.

   back to top

07. BƯỚC ÐẦU

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Rời trại Fort Chaffee, Arkansas, chúng tôi chỉ biết một điều là nguyên gia đình sẽ về xứ lạnh, xứ có hoa anh đào, để định cư. Hai vợ chồng tôi, bốn đứa con ba trai một gái, năm tuổi, bốn tuổi, ba tuổi, và mười bảy tháng. Thêm một cô em vợ, Huỳnh, mười bảy. Về xứ lạnh, phải, tại vì vợ chồng tôi muốn vậy. Hai đứa đã từ chối mối sponsor-ship đi Amarilo, Texas, viện cớ là muốn biết, muốn thưởng thức cái khí hậu ôn đới, có bốn mùa xuân hạ thu đông rõ rệt. Việt Nam mình, miền Nam mình mưa nắng hai mùa ai lại không biết. Texas thì chỉ có một mùa, nóng, như đã khắc ghi trong đầu. Còn một lý do nữa là vì chúng tôi không muốn vô sống trong nông trại. Tôi cũng không muốn tôi và đám con tôi sẽ sớm trở thành đám cao bồi, nhưng không dám thố lộ cùng phỏng vấn viên thuộc cơ quan LIRS, Lutheran Immigration and Refugee Services. Ði đâu chớ đi về miền bắc, về xứ lạnh, thì dễ rồi. Chỗ trống thiếu gì. Mình cũng khó lòng từ chối sponsor-ship lần thứ hai. Bởi vậy chúng tôi ở Fort Chaffee vỏn vẹn chưa đầy tháng. Không còn phải xếp hàng lãnh đồ ăn, khu B, mỗi ngày. Cơm Mỹ ăn chưa đủ tháng đã lên tới cổ họng, nuốt hết vô. Khỏi phải đi lãnh, đi lựa, đi đổi giày vớ và áo quần mùa đông. Khỏi phải lang thang ngoài Hitching Post. Và cũng khỏi bị vợ con cằn nhằn:

     - Trăm thứ chuyện quan trọng không lo, lo chuyện gì đâu!

     - Chuyện gì nữa mà lo, Mỹ nó lo hết rồi.

     Phi cơ đáp xuống phi trường Sioux Falls, South Dakota, sponsor ra tiếp đón niềm nở. Ðông quá, đứng chật cả hành lang. Máy hình chớp lia lịa. Ðâu ngờ đám mình trở thành những nhân vật quan trọng như vậy. Ba nhà thờ bảo trợ, Lutheran, United Methodist, và United Church of Christ. Giới thiệu tùm lum rồi cũng không biết ai là ai. Bây giờ phải nói bằng tiếng Mỹ, đâu phải chuyện dễ, mà không nói coi cũng không được. Trật trúng gì cũng phải nói, yes hay no gì cũng phải có một tiếng lấy lòng. Thây kệ nó, who care . Mấy đứa nhỏ thì ngây thơ vui đùa với mấy món đồ chơi mới.

     Từ Sioux Falls về Vermillion, thành phố sẽ là home-town của chúng tôi trên đất Mỹ, cũng mất khoảng hai giờ lái xe. Xa lộ I-29 đi xuyên qua vùng ruộng đồng bao la, cò bay thẳng cánh. Ðồi, đồi, lại đồi, tiếp nối trùng trùng điệp điệp. Nắng chiều chan hòa trên những cánh đồng lúa mì vàng chín tháng mười, những cánh đồng đậu nành, bắp mới gặt... làm tôi tưởng như mình đang trên quốc lộ 4, từ Sài gòn về Hậu Giang. Chỉ khác là nơi đây quá rộng, rộng như sa mạc, rộng như biển khơi, không thấy lùm cây không thấy xóm giềng nhà cửa.

     Căn nhà đầu tiên của chúng tôi trên quê hương thứ hai này là một căn nhà xưa cũ, tính ra có lẽ nó cũng gấp đôi tuổi của tôi. Nhà thờ Methodist mua căn nhà này với dự định phá đi để lấy miếng đất trống làm bãi đậu xe cho con chiên, nhưng không tìm được chỗ ở cho gia đình tôi nên đành phải lấy nó thế vào. Nhưng chúng tôi cũng phải trả tiền thuê, giá rẻ, chỉ hơn trăm đô mỗi tháng. Nhà có hai tầng và phân nửa basement. Tầng thứ nhất có phòng khách, phòng ăn, nhà bếp, toillet, và một phòng ngủ cho khách, làm phòng ngủ cho Huỳnh rất tiện. Tầng trên gồm ba phòng ngủ cho vợ chồng tôi và bốn nhóc. Basement trống trơn, chỉ có một lò sưởi loại xưa nằm ngay giữa với những ống dẫn hơi ấm tủa ra không theo một thứ tự nào trông như ông Phật có nhiều tay. Ðồ đạc trong nhà cũng đầy đủ, không thấy thiếu món gì. Của cho được như vậy là quí hóa lắm rồi, ở Việt Nam mình cũng phải là hạng nhà giàu mới sắm sửa được như vậy. Ðúng rồi, bây giờ mới thấy thiếu nhiều món. Gạo, nước mắm, rau sống... thực phẩm Á Ðông.

     - Blizzard, ngay trong đêm nay, một trăm phần trăm.

     Bà Mỹ gọi điện thoại cho vợ tôi biết là the weatherman nói như vậy. Tôi tra tự điển để biết blizzard là gì, bão tuyết, sao mà sớm như vậy, mình mới tới có mấy ngày.

     - Phải chuẩn bị.

     - Chuẩn bị cái gì? Thực phẩm hả? Khỏi phải lo, ai mua để đầy trong tủ lạnh rồi.

     Bão lụt miền Trung của mình ra sao mình cũng chưa có nếm mùi thì biết gì mà chuẩn bị. Tới đâu lo tới đó... Quả thật, năm giờ chiều tuyết bắt đầu rơi, lưa thưa, lưa thưa, rồi càng lúc càng dày, mù mịt. Nhìn tuyết rơi lần đầu tiên thấy thích thú, thấy mãn nguyện làm sao. Thấy được cảnh tuyết rơi phủ con tàu, ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn nói ... Tôi ra đứng trước sân, xòe bàn tay trơn, đón lấy những mảnh tuyết bay bay cũng cảm thấy lòng lâng lâng. Tội cho dân Sài Gòn suốt đời có biết cảnh tuyết rơi bao giờ. Tôi muốn có hết gia đình ba má anh chị em tôi ở đây, trong cảnh này, lúc này, nhưng tôi chỉ có tôi. Bơ vơ và buồn thật.

     Sáng ngày hôm sau thức giấc nhìn ra cửa sổ thấy tuyết cao khỏi đầu gối, ngập cả đường phố, ngập cả thềm ba. Tuyết đóng dầy trên cành cây, tuyết phủ trùm ngọn cỏ. Còn nghe tiếng gió hú ngoài hiên, từng loạt thổi tốc những bụi tuyết trên mặt đường bay lướt qua những đụn tuyết cao, che khuất một khoảng trời, chỉ còn một vầng mây mù trước mặt. Bão tuyết đẹp, bão tuyết chắc không giống bão lụt miền Trung.

     Vermillion là một thành phố nhỏ, chưa hẳn là nhỏ so với nhiều thành phố khác trong tiểu bang này, nhưng có trường đại học lớn, University of South Dakota. Dân chúng khoảng mười hai ngàn, cộng với khoảng tám ngàn sinh viên, vị chi là hai chục ngàn người. Vậy mà đã có hai gia đình Việt Nam đã được bảo trợ đến đây trước chúng tôi, bác Ðoàn và anh Mới. Gia đình bác Ðoàn gồm hai vợ chồng già và bốn đứa con thuộc tuổi choai choai, còn độc thân. Con gái lớn của bác đã có gia đình, chồng con thì định cư riêng ở tiểu bang Missouri. Anh Mới, Mỹ sửa cái tên tốt của anh ta và cứ kêu là Mọi, thì có vợ và hai đứa con gái nhỏ. Họ không đi đón tụi tôi được vì ai cũng bận đi làm, vả lại tụi tôi đến không nhằm vào weekend.

     Vì tuyết rơi bất thần nên tôi được một tuần nghỉ ngơi, không phải làm việc gì ngoài việc điền giấy tờ xin việc. Khỏi phải làm đơn nó cũng thâu, thằng chủ hãng là bạn thân của thằng Lyle thuộc nhà thờ Lutheran, địa chủ ở vùng này. Ở bên mình đi làm đơn, nói đến nghề nghiệp mà điền vô hai chữ "làm ruộng" thì biết là dân nghèo nhưng bên này lại khác, thằng Lyle cũng viết vô cái chữ làm ruộng, farmer, nhưng bà con lại nể sợ. Nghe nói đất của ông cố tổ của nó để lại nhiều lắm, khắp cả vùng, lớp làm lớp cho mướn... Phương tiện di chuyển cho tôi từ nhà đến sở làm, đi đi về về, thằng Lyle cũng đã lo rồi, bạn của nó, thằng George. Mỗi ngày trả một đồng, mười lăm mile mỗi bận, không cách nào hay hơn. Load King, tên của hãng. Một chi nhánh của CMI Corporation, Contract Machinery International, chuyên chế tạo xe trailer hạng nặng cho Army, Marine, Navy để chở xe tăng, thiết giáp, đại bác, hoặc súng đạn. Mới vứt bỏ súng đạn chạy qua đây, lại đút đầu vào nơi chế tạo vũ khí, hình như kiếp luân hồi của tôi chắc chưa dứt.

     Xưởng chia làm năm khu, khu một đến khu năm. Theo thứ tự là khu làm beam và parts, khu ráp, khu hàn, khu sand blast và hàn dặm, khu sơn và finishing. Tôi được chỉ định làm ở khu một, phụ cho thằng Kurt, chuyên viên phụ trách cái máy cắt sắt lớn, the big-shear. Cái máy cắt này dám cắt luôn cả thép dày cả inch. Lưỡi dao dài sáu bảy feet. Lẽ dĩ nhiên phải dùng cần trục để đưa sắt hoặc thép từ nhà kho lên dàn máy. Loại thép tấm phản lớn còn phải dùng thêm một thanh đòn có sáu cái móc mỗi bên ba cái như một cái giống lớn và phải di chuyển từ từ vì miếng thép cũng dễ tuột theo chiều nghiêng. Mấy miếng nhỏ thì chỉ xài cái "kẹp nách," trông như trái xoài tượng, có một kẽ hở và một hệ thống đòn bẩy built-in trong đó. Vừa nhanh vừa tiện, miếng thép càng nặng thì sức kẹp càng tăng, ai nghĩ ra cách này cũng tuyệt diệu. Tấm thép đặt được lên bàn xong là công việc cũng thấy nhẹ nhàng, chỉ theo giấy order đo chiều dài chiều rộng, làm dấu, kẻ phấn, rồi đẩy vào mà cắt. Ngoài vấn đề ni tấc, vấn đề số lượng cũng rất là quan trọng. Năm chục miếng băm ba băm bảy, một trăm miếng mười sáu bốn bốn..., vậy mà thằng Kurt cứ đo một miếng cắt một miếng. Tôi lóe lên một sáng kiến, bèn ra phía sau máy hì hục làm một cái adjustable stop. Thằng Kurt cũng chẳng màng tôi đang làm cái gì. Xong, tôi lôi Kurt vô giải thích:

     - Hê, mày chỉ cần đo khoảng cách từ cái stop này tới lưỡi dao một lần thôi. Khóa cái stop lại một chỗ, rồi cứ việc đẩy vô cắt bùm, bùm, bùm...

     Kurt làm theo lời tôi nói, chịu lắm, nhưng lắc đầu trả lời:

     - Ý kiến hay, nhưng rồi mày sẽ không còn việc gì để làm. Mày đâu có đứng xớ rớ được, tụi nó sẽ sai mày đi hốt rác, rửa cầu tiêu.

     Uổng công cả buổi trời, nhưng thấy nó nói cũng có lý:

     - Mày muốn xài thì xài, không thì thôi. Mày muốn tháo nó ra cũng được. Tùy mày.

     Kurt vẫn giữ cái adjustable stop của tôi phòng khi khẩn cấp, còn thì cứ bổn cũ soạn lại làm hoài. Ðo hai biên, làm hai dấu, kẻ một đường phấn tổ bố, đưa vào máy, quỳ xuống ngắm nghía xê dịch một hồi rồi mới chịu cắt. À đúng rồi, phải làm kiểu này mình mới được quỳ gối. Làm việc bên này lâu lâu được quỳ gối là sung sướng rồi. Ðứng tám giờ mỗi ngày, máu dồn xuống chân, bắp chân tê cứng, mỗi lần quỳ gối bắp thịt như dãn ra chịu cử động trở lại. Quỳ gối là sung sướng! Cắt sắt rồi cũng dễ thôi, chỉ cái việc bưng mấy tấm sắt mới cắt đó để vào rack cho thứ tự mới là đáng sợ. Tính ra mỗi ngày tôi bưng đến cả chục tấn. Chẳng lẽ cuộc đời mình rồi phải dính liền với cái máy cắt này sao? Mới ngày nào mình cũng đường đường là một sĩ quan hải quân mà. Không được. Tôi phải tìm cách thay đổi chỗ đứng của tôi. Tôi phải phân trần, tôi phải nói với sponsor, tôi nói với thằng Lyle:

     - Mày làm ơn tìm cho tao một việc gì khác đi. Mày thấy không, tao nhỏ con, không thích hợp với công việc tao đang làm.

     - Không dễ gì tìm được việc nào tốt hơn đâu. Minimum wage là hai đồng mười xu, nó trả cho mày ba đồng một giờ là khá lắm rồi. Mày có thấy điều này không?

     - Tao không cần biết nó trả tao mấy đồng. Nó trả tao hai đồng cũng được miễn sao công việc nó nhẹ nhàng một chút.

     - À, hay là như thế này. Mày thích làm cái công việc gì ở dưới Load King? Mày cho tao biết rồi tao sẽ nói với tụi nó. Không nên đi hãng khác.

     - Thợ hàn.

     Tôi trả lời ngay không cần phải suy nghĩ. Phải, đúng là thợ hàn, một nghề có giá trong đám thợ nửa chuyên nghiệp nửa lao động này. Thợ hàn, tối ngày cầm cái mỏ hàn, thì cũng không gì nặng nhọc lắm. Còn được ngồi, được quỳ gối, được nằm, được leo trèo thỏa thích.

     Qua tuần sau tôi được xếp vào lớp học hàn. Tôi mua áo da, nón hàn, còn bao tay thì có sẵn cho dân làm sắt. Mỗi ngày ở lại trễ hai giờ để học. Hàn đũa, đủ cỡ lớn nhỏ. Hàn đủ kiểu, flat, angle, bevel... Lấp vấp lúc đầu rồi cũng smooth dần dần. Sau hai tuần, sau hai mươi giờ tập dợt, tôi thi. Ðậu. Ngày tôi rời khỏi khu một, rời khỏi cái máy cắt sắt, qua khu hai tập tễnh làm thợ hàn, tôi thấy vui mừng hết sức. Không phải vui mừng cho tôi, mà phần lớn là cho cặp giò của tôi, đỡ phải bóp bóp mỗi đêm, đỡ phải xoa dầu nóng. Tuy nhiên nỗi vui mừng này không mấy chốc cũng tan biến ngay. Ðứng núi này trông núi nọ, tránh vỏ dưa cũng gặp vỏ dừa. Hàn. Hàn. Hàn hoài. Hàn miết. Hàn hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Hàn đũa, hàn dây, hàn điện. Hàn không phải là hàn, mà hàn là nhiệt. Là nóng, là cháy, là phỏng, là khét, là khói. Mù mịt tăm hơi... Tụi thợ hàn chính tông còn dọa tôi rằng:

     - Mày hàn lâu lắm cũng khoảng hai chục năm thì phải về hưu. Phổi của mày không cho phép mày làm thêm.

     - Thiệt vậy sao?

     Ngày lại ngày cứ thấy mấy chiếc trailer mới chấm tack dính sơ sơ nằm lù lù đó, tiếp tục hàn, hàn hoài không thấy hết. Mùa lạnh này hàn còn thấy nóng, đến mùa hè thì sống làm sao nổi. Chắc phải chịu "thân bại danh liệt" thôi, lần này đâu có than phiền gì với sponsor được nữa. Tôi đã được cái gì tôi đòi hỏi rồi.

     Trong đám thợ hàn hai mươi bốn trên hai mươi bốn của tôi có bốn năm đứa đàn bà, con gái. Lúc đội nón hàn thì gái cũng như trai, đến hồi dở nón ra thấy cặp mắt bồ câu, thấy làn da mịn màng và mái tóc lơ thơ mình mới giựt mình. Ðàn bà con gái ai lại đi làm thợ hàn, thiếu gì nghề để làm, cái nghề này nó làm mất hết cái vẻ thẩm mỹ của người đẹp. Thiệt là uổng, tôi nghĩ như vậy.

     Ðến giờ nghỉ, giờ ăn trưa, tất cả nhân viên trong hãng mặc dù ăn chung một chỗ, nhưng cũng chia ra từng nhóm, từng phe ngồi riêng từng bàn, từng góc. Thường thường phải làm cùng nghề hay ít ra cũng cùng khu. Ðám thợ hàn đông nhất, náo động nhất. Tuy nhiên đám thợ hàn đàn bà còn kỳ thị trống mái, thích ngồi riêng không nhập vào đám đàn ông. Trong đám đó, ngồi xa trong góc lại là con Maria, con thợ hàn gốc Indian. Hình như không đứa nào chơi với nó, cũng không thấy nó nói chuyện gì với ai. Ăn xong lại lấy sách ra đọc, không biết sách gì, chắc tiểu thuyết. Cũng có chút lập dị, làm chuyện không giống thiên hạ. Tôi không muốn mình rơi vào cảnh bơ vơ đó nên kết bè với đám thằng George, George làm ở đây lâu năm, có thớ lắm. Mình có dịp học thêm tiếng Mỹ, nói tiếng Mỹ. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng phải gặm sandwich đều đều như tụi nó thôi. Một lần tôi đem theo mấy con tôm khô của thằng bạn bên California gửi qua định khoe món Á Ðông của mình, nhưng đứa ăn đứa không ăn thì biết là bị chê. Không ngờ tụi này cổ hủ quá, không những kỳ thị chủng tộc mà còn kỳ thị thực phẩm nữa.

     - Mầy từ đâu đến?

     Hôm đó bỗng nhiên con Maria hỏi chuyện tôi trong lúc hai đứa hàn gần nhau. Giọng nó nghe cũng lờ lợ, không giống như Mỹ, tuy nhiên cũng là giọng con gái. Có cái khác. Tôi thấy nó giống như một người đàn bà Việt Nam tại vì tóc nó đen. Tôi trả lời:

     - Tao là người Việt Nam, tao tới từ Việt Nam.

     - Bao lâu rồi?

     Con nhỏ này coi bộ rành mình quá mà còn làm bộ hỏi, tôi tiếp:

     - Vài tháng. Mày làm ở đây lâu chưa?

     - Gần một năm nhưng tao cũng sắp nghỉ...

     - Tại sao vậy?

     - Tháng tới chồng tao ra trường. Tụi tao sẽ về reservation của tao ở. Chồng tao sẽ làm hiệu trưởng trường trung học ở đó.

     - Ngon quá hả. Reservation của mày ở Sioux Falls hay Sioux City?

     - Cách đây xa lắm, mấy trăm mile, mày không biết đâu. Tụi tao thuộc bộ lạc Crow Creek.

     - Vậy hả. Tao cũng không rành khu này lắm.

     Maria thỉnh thoảng nói chuyện với tôi, nhưng tôi không dám tỏ ra thân thiện với nó. Bọn Mỹ không ưa nó, mình thân với nó sẽ bị họa lây. Tôi nhiều lần muốn tìm hiểu tại sao Mỹ không ưa Indian? Tụi nó bảo rằng Indian làm biếng, tối ngày say sưa không chịu làm việc, ở không ăn welfare. Nhưng lần lần tôi mới hiểu là trong reservation thì không có việc gì làm, ra ngoài thị tứ thì bị hất hủi, không bao lâu cũng bỏ job mà về reservation, nhậu cho quên đời. Cũng may vùng này ít thấy da đen, không thôi cũng coi được màn kỳ thị da đen nữa. Nhưng tại sao tụi Mỹ thích dân Á Ðông? Chắc chưa tới lúc nó kỳ thị cũng chưa biết chừng. Trước khi rời khỏi Vermillion, Maria và chồng nó, thằng Tom lại là thằng Mỹ mà không phải là Indian, có đến nhà thăm tụi tôi, cho địa chỉ và hẹn có ngày gặp lại.

     Tôi làm ở khu hàn được hai tháng, thì bỗng nhiên được gửi trả về khu một, nhưng không phải phụ trách cái máy cắt sắt nữa mà thuộc nhóm làm small parts. Chỗ này thấy dễ thở hơn nhiều, bớt hít khói. Thỉnh thoảng mới hàn, phần lớn chỉ chấm tack cho dính, mình là builder chứ không còn là welder nữa. Nào là pedestal, out-rigger, tail gate, loading ramp... thậm chí cho đến suspension block, goose neck pin. Công việc cũng có lý hơn nhiều, cứ theo blue-print mà build, còn học hỏi thêm đôi chút. Tôi lẩn quẩn theo thằng leaderman để học đọc mấy cái ký hiệu đặc biệt. Không gì khó. Vài tuần sau tôi thấy mình cũng có khả năng để làm một leaderman, nhưng còn phải hội đủ điều kiện, phải thi lên thợ hàn hạng hai. Ðược. Tôi bắt đầu tập lén. Hàn over head, hàn vertical down, hàn vertical up. Phải canh lửa nguội một chút, nóng quá sắt chảy hết. Tập nhiều lần thì cũng phải được, nhưng còn phải chờ đúng kỳ hạn nữa. Tối thiểu, phải có ba tháng thợ hàn căn bản. Chờ. Ðúng ngày. Thi. Ðậu nữa. Dễ quá. Nhưng chức vụ leaderman chờ hoài không thấy, hình như hãng có policy riêng cho đám da vàng. Thôi cũng được, unofficial leaderman cũng khỏe hơn nhiều. Tôi được biệt phái năm tên lon ton mỗi ngày, phân công cho tụi nó làm việc còn phần tôi giữ nhiệm vụ cung cấp raw-material. Vì phải order raw-material nên tôi phải tiếp xúc và làm thân với mấy đứa chạy máy cưa, máy cắt, máy tiện, máy khoan. Nhiều lúc mình order gấp mà đám thợ chuyên nghiệp này lại bận lang thang tán dóc khắp nơi. Thợ chuyên nghiệp thường thường có nhiều thì giờ để bàn chuyện đời, chuyện car racing, horse racing, foot ball, base ball, hơn là chuyện phân tấc, foot inch ở đây. Cũng nhờ vậy nên tôi có cơ hội học cưa, học tiện, học khoan, học làm mũi... Nhưng rốt rồi "bá nghệ trần thân!" Mình lãnh lương cũng ngần ấy thôi tội gì làm công việc của người khác. Tôi lần lần cũng tập được cái tánh của tụi Mỹ, thật là Mỹ, cái tánh mà lần đầu tiên tôi thấy tôi chê, tôi khó chịu. Do your own job . Phải, cái job của tôi có đánh bóng cho mấy cũng là thợ hàn thôi, không hơn không kém.

     Mùa xuân đến, mùa ai cũng đợi mong, mùa được đi ra ngoài, thoải mái. Bông hoa vui vẻ, cây cối đâm chồi, cái gì trông cũng đẹp cũng tràn đầy nhựa sống. Nhưng hoa nào là hoa anh đào? Ðâu phải ở xứ lạnh là có hoa anh đào, muốn xem hoa anh đào thì phải đi Hoa Thịnh Ðốn, mấy người bạn Mỹ nói như vậy. Trật đường rồi, Hoa Thịnh Ðốn ở tận miền đông. Xa lắm, không thể đi được với một hai ngày nghỉ phụ vào cuối tuần, tụi tôi quyết định đi thăm vùng Black Hill, đi thăm Rushmore Mountain, chỗ có mấy cái mặt của mấy ông tổng thống Mỹ bị dán vào vách núi, một thắng cảnh quan trọng của tiểu bang nhà. Rốt cuộc tụi tôi đi thăm đủ thứ, thăm Rushmore Cave, thăm Cathedral Needle, thăm Crazy Horse, thấy đất Mỹ cái gì cũng to lớn, cũng vĩ đại. Tiếc là không phải xứ sở của mình. Trên đường về dọc theo xa lộ I-90 tụi tôi còn ghé vùng Bad Land, vùng đất sụp như một Grand Canyon cỡ nhỏ. Ðược làm quen với mấy con chipmunk . Chụp hình mấy con prairie dog làm kỷ niệm. Sau cùng, chúng tôi ngược dòng Missouri về phía bắc đến thăm Maria và Tom. Gặp lúc hai đứa nó đang bắt một bầy chồn con, chồn hôi, baby skunk , vừa về tới nhà. Maria và Tom ngạc nhiên khi nhìn thấy tụi tôi vì tụi tôi đến mà không báo trước. Kể ra tôi đọc bản đồ Mỹ cũng không tệ lắm. Tôi vào đề ngay:

     - Cái giống này hôi quá mà mày bắt làm chi.

     Tom cười ha hả, rồi giải thích một mạch:

     - Mày chưa biết nuôi giống này hả. Cái giống này bắt về, cắt bỏ hai cái hạch hôi đi rồi nuôi trong nhà như nuôi pet; chó, mèo chuột gì thấy nó cũng sợ hết. Hôi vậy chớ mà khôn lắm, nhất là cái giống có hai sọc trắng trên lưng này. Mắc lắm chứ chẳng có rẻ đâu, năm sáu chục một con. Sẵn đây mầy theo tao, tao chỉ cho mầy cái này...

     Không hiểu thằng này định dở trò gì, tôi nhắc chừng vợ tôi và Huỳnh trông coi mấy đứa nhỏ trong lúc nói chuyện với Maria, còn tôi theo Tom xuống basement.

     - Tao chỉ mày cái nghề này mày đừng có chỉ lại ai hết nghe, tao học của một ông già ở Tennessee. Tụi bác sĩ giải phẫu một con charge năm chục đồng, không rẻ đâu. Cách này chỉ mất năm phút. Một mùa cũng kiếm được vài ngàn dễ như chơi, chỉ làm trong ba tháng, tháng tư tháng năm và tháng sáu.

     - Chỉ có ba tháng?

     - Ừ, sau tháng sáu, baby skunk lớn rồi, khó train lắm.

     - Làm sao biết nó ở đâu mà bắt?

     - Ðăng báo. Thưởng năm mười đồng cho ai chỉ mình hang skunk. Thường thường người ta chỉ cho mày mấy cái xác skunk chết dọc đường thôi. Mày phải quần khu đó mà tìm hang... Nè, đeo kiếng vô kẻo nó spray vô mắt mày thì nguy.

     Tôi lại học thêm một nghề mới, nghề giải phẫu skunk, dễ như trở bàn tay. Nhưng mà con Maria có vẻ không được vui khi thấy Tom sốt sắng với tôi như vậy và lại truyền thêm cái nghề bí mật đặc biệt này. Thằng Tom bây giờ cũng đổi tánh thấy rõ, nói nhiều hơn cả con Maria. Nó bảo tôi rằng từ ngày di chuyển về đây chưa bao giờ thấy bạn bè của nó tới thăm, tôi là người đầu tiên cho nên nó khoái chí lắm. Ngoài nghề làm hiệu trưởng nó còn làm thêm một nghề nữa, cầm đồ lậu. Ðồ của Indian chất đầy nhà. Lẽ dĩ nhiên tụi nó làm gì có tiền chuộc, nhậu hết rồi, nên thỉnh thoảng Tom phải đem xuống phố bán một lần lấy lại vốn, thêm một mớ tiền lời. Tom còn collect súng nữa, đủ loại, mới có, cũ có, cowboys có, indian có... treo đầy tường, gác đầy giá. Nhưng chưa có M 16 và AK 47, tôi châm biếm nó như vậy. Thấy tôi có vẻ cũng ưa chơi súng, Tom lấy khẩu Marlin, .22, cầm đưa cho tôi:

     - Tặng mày đó. Ðể kỷ niệm với tao.

     Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

     - Thiệt hôn mậy?

     Nó bảo tôi viết tên cho nó biết rồi chẳng nói chẳng rằng lấy tấm card visit lật phía sau viết mấy dòng xác định sở hữu chủ của cây súng:

     - Tao nghĩ như vậy được rồi. Mày khỏi cần xin giấy phép.

     Trước khi về nó còn gửi cho tôi một mớ trà Tennessee, trà rễ chứ không phải trà lá, gọi là củ cũng được vì giống như mấy củ mì. Ngửi cũng thơm mùi trà, lạ thật... Maria còn muốn giữ tụi tôi ở lại để đi thăm reservation của nó, có đài kỷ niệm và có viện bảo tàng cất giữ nhiều đồ xưa của bộ lạc, nhưng rất tiếc tụi tôi không còn thì giờ. Ông cố của nó ngày xưa là tù trưởng, con Maria nói như vậy. Ðất đai vùng này hầu hết là của dòng họ nó, bây giờ thì thuộc về chính phủ rồi, chính phủ giựt không, không trả tiền, nhưng đền bù lại bằng cách xây cất nhà cửa làng mạc, trường học, công viên, và nhiều tiện nghi khác, cho toàn bộ lạc. Cái gì cũng mới toanh, sướng quá còn đòi hỏi gì nữa. Nhưng Maria cứ nghĩ là bất công, nó không còn xứ sở, không còn bộ lạc. Cũng như mình, những con người mất nước. Ðiều khác nhau là tụi nó là những kẻ mất nước đang sống trên đất nước của nó, còn mình là những kẻ mất nước đang sống lang thang trên xứ lạ quê người. Ai khổ hơn ai?

     Về đến nhà trời cũng chạng vạng tối. Vợ tôi, mấy đứa nhỏ, và Huỳnh vào nhà trước. Tôi ghé qua thùng thư lấy thư và thu dọn lại đồ còn sót trong xe. Ngạc nhiên một điều, tôi lớn tiếng gọi:

     - Má-my, làm sao em vô nhà được? Chìa khóa của anh ở đây, bóp của em cũng còn ở trong xe.

     Vợ tôi nói vọng ra:

     - Thôi rồi, hồi đi anh quên khóa cửa.

     - Em quên chứ anh quên sao được. Em là người ra sau chót mà, anh lo xe cộ.

     Cũng may đồ đạc trong nhà cũng còn y nguyên, dân ở đây cũng hiền, không đến nỗi. Tôi vừa cởi giày vừa coi mấy bì thư, hầu hết là bill . Nhưng có một cái thư trông lạ lạ. Tôi mở ra xem. Ceta, Comprehensive Educational Training Agency. Ceta chứng nhận rằng tôi đã hoàn tất ba trăm hai chục giờ cho lớp huấn luyện thợ hàn. Tôi đọc lại lần nữa cho chắc. Sao lại có chuyện này. Tôi có đi học chương trình này bao giờ đâu! Tụi này láo thật. Chẳng lẽ mình ký giấy tờ gì bậy bạ, ký mà không biết không hay. Cũng có thể lắm. Thằng Load King cũng láo, ăn công ký với đám này. Chỉ tập có hai mươi giờ, bây giờ giấy ghi ba trăm hai chục giờ. Thôi cũng được, bề gì đương sự cũng đã được cấp giấy này để tiện dụng. Tôi nghĩ tôi đã học nhiều nghề lắm rồi mặc dù mới đặt chân lên đất Mỹ mới hơn sáu tháng. Tuy nhiên đây là nghề đầu tiên tôi có giấy tờ chứng minh. Mình đang ở bottom rồi thì chỉ còn go up chứ không còn go down được nữa. Ðây là bước đầu tiên. Hãy cố gắng, hãy chịu đựng, hơn nữa, hơn nữa, rồi đời mình sẽ đi lên. Tôi khuyên tôi như vậy.

   back to top

08. CHIẾC ÐŨA THẦN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Tôi đang làm một unofficial leaderman ở khu ráp small parts, thì bị đẩy qua khu 4, khu sand blast và hàn dặm. Hóa ra làm việc cho một hãng tư của Mỹ cũng giống như mình đi lính ở Việt Nam, không được ở yên một chỗ. Có cái lợi là nhân viên trong hãng được huấn luyện đủ thứ nghề mà khỏi phải đưa ai vào trường. Nghề dạy nghề, mặc dù không rành bằng đám thợ chuyên môn, nhưng mấy lúc kẹt... không chó bắt mèo ăn cứt, cũng được. Coi bộ Mỹ không hạp với câu nhất nghệ tinh nhất thân vinh , hễ thấy mình vừa xong công việc này thì lập tức sai đi làm việc khác. Lao động làm ăn giờ, đúng là sức nào tiền nấy.

     Trailer vừa chuyển qua khu 4 thì được đưa ngay vô phòng sand blast, phòng xịt cát, thổi cát. Chiếc xe mới đưa vô sần sùi như con heo sống, mà trở ra trắng nõn như con heo đã được làm lông. Sẵn sàng để sơn. Phil, thằng foreman khu 4, định đẩy tôi vào sử dụng cái máy xịt cát đó mới khổ. Kỳ thị chủng tộc? Chắc nó mang bịnh này nặng lắm nên mới dám làm như vậy. Tôi cự thẳng vào mặt nó:

     - Mày phải biết tao là thợ hàn, và thợ hàn không làm việc đó.

     Tôi tưởng nó sẽ hùng hổ với mình, ai dè nó chỉ cười trừ rồi lơn tơn đi tìm người khác. Làm tôi cụt hứng, nhưng tôi cũng có lý do của tôi, lý do thật chính đáng. Vài ngày sau tôi mới biết đây là công việc xây tua, tới phiên mình thì mình phải làm. Sau thằng Jim là đến phiên tôi, bắt đầu lại như bắt đầu một con giáp. Cái phút giây chờ đợi coi tôi có làm nổi hay không như được xì ra, tụi Mỹ làm chung khoái chí lắm, cười ngặt nghẽo. Một thằng nói:

     - Tao thấy mày ôm cái họng súng đó cũng giống như một đứa nhỏ ôm cái vòi voi. Mày phải rán mà đứng cho vững không thôi cái vòi voi nhân tạo này dám dở bổng mày lên trời lắm đó.

     - Coi đây này. Ki-ma... sô-gi, hịch hịch.

     Tụi Mỹ lại cười to hơn khi thấy tôi biểu diễn một màn thái cực đạo. Jim kéo tôi vào phòng sand blast, chỉ cho tôi cái ống bố giống như vòi nước chữa lửa thứ bự:

     - Ðấy, liệu mà karaté cái thứ này.

     Jim có nhiệm vụ chỉ cho tôi việc sand blast. Trước hết là tròng vô bộ đồ giáp thứ thiệt, bộ đồ có những lá thép mỏng che khắp ngực bụng tay chân. Kế, trùm lên đầu một nón sắt thiệt lớn cũng có những lá thép lòng thòng phủ xuống vai. Bây giờ hai đứa trở thành hai phi hành gia không gian, hai R2D2, chỉ thấy nhau qua khung kính trước mặt. Phải la lớn mới nghe. Tôi bợ cái vòi chữa lửa lên và lắp mối nối vào bộ đồ giáp. Một làn gió thổi vào mặt mát rượi, thì ra trong hệ thống vòi voi này có một ống tiếp hơi.

     Jim xòe tay chụm ngón trỏ vào ngón cái ra hiệu sẵn sàng, tôi dang hai chân đứng theo kiểu đứng trên tàu và từ từ đẩy cần công tắc gắn ở đầu vòi về phía trước. Tiếng động cơ rú lên và một luồng ám khí phóng ra. Cái vòi tự động chĩa lên trời mặc dù tôi cố ghìm nó xuống. Ðã vậy nó còn đẩy tôi thụt lùi lần lần về phía sau, đến khi đụng vách phòng tôi mới đủ sức kiềm chế được cái con rắn quái đản này. Thằng Jim nhảy lại tiếp tay tôi ấn nó xuống, quạt qua quạt lại trên thành xe. Quạt tới đâu sáng tới đó như mình đánh vảy cá, không dám để lâu một chỗ sợ lủng luôn vô thịt.

     Nói là sand blast, nhưng đâu phải sand mà là steel, steel blast mới đúng. Những hạt thép nhỏ li ti bắn ra với một vận tốc khá mạnh. Không mấy chốc cả phòng trở nên mù mịt vì những bụi phóng xạ của đám thép hạt này. Mấy cái vỏ xe may là được phủ bởi mấy thùng sắt không thôi thì dám đã nổ mất tiêu rồi. Chỉ có cách này mới trị nổi mấy chiếc trailer hạng nặng, trailer nhà binh. Hay thiệt. Nhưng, cái cực của sand blast đâu phải là ôm cái vòi xịt tới, xịt lui mà cực là ở chỗ clean-up, là cào cái mớ thép hạt đó đổ dồn xuống hầm cho cái máy lọc. Lọc lại, xài lại. Thép hạt nặng hơn cát nhiều, xúc một giá đầy, đi không muốn vững.

     Xịt cát xong, trailer được di chuyển ra ngoài hành lang bằng xe fork-lift. Fork-lift ở đây cũng có hai loại: loại thường chạy bằng máy dầu cặn, và loại đặc biệt chạy bằng điện, bình ac-cu. Trailer được đặt nằm thăng bằng nhờ mấy bánh xe lắp sẵn phía sau, và hai cái stand như hai cái chân chịu, đặt ở phía trước dưới hai đà chính. Thằng leaderman có nhiệm vụ rọi đèn pin tìm những chỗ hàn cháy vì dư lửa, hàn bộng vì thiếu lửa, hàn như con rắn liu điu vì ngủ gục... v.v., nói chung là mấy chỗ hàn xấu, và mấy chỗ quên hàn để khoanh một vòng tròn bằng phấn. Rồi đám thợ sử dụng chisel, máy dẫy, grinder, máy mài, phân tán mỏng nhào vô mấy chỗ làm dấu, làm thịt. Tiếng cọ sát giữa thép với thép nghe điếc con ráy. Kế, đến phiên đám thợ hàn trổ tài re-weld, hàn láng trở lại. Sau cùng là tốp thợ mộc, cưa đà gỗ loại dày phủ lên trên, bắt bù-loong vào đà ngang để đóng sàn trailer. Ðó, công việc của khu 4 cũng chỉ vậy thôi, việc gì mà mình làm không trôi.

     Nhưng, trôi hay không trôi đôi khi cũng còn phải tùy thời, tùy vận. Hôm đó đến phiên tôi sand blast. Vừa xong chiếc thứ hai, tôi lấy fork-lift loại chạy bằng điện, đội cái goose neck, cái thớt đằng trước, di chuyển nó ra ngoài. Nhích tới, nhích lui mấy bận tôi cũng cho chiếc trailer đậu parallel vào đúng vị trí. Vác hai cái stand về đặt dưới đà chính sẵn sàng hai bên. Bấm nút "down" từ từ hạ xuống. Không được, stand thấp quá. Stop. Ðội lên. Vác thêm 4 miếng đà gỗ để mỗi bên hai miếng, chồng lên cái stand cho cao thêm. Ðâu vào đấy thì bỗng nhiên từ phía sau lưng tôi vọng tới:

     - Ê mạnh giỏi, Hùng, lâu quá không gặp mày. Tao tưởng mày nghỉ sở rồi chớ, ai dè mày đổi qua khu này. Bao lâu rồi mậy?

     - Gần hai tháng.

     - Hi, Hùng.

     - Hi, hi...

     - Hi, mày đang làm ở đây hả?

     - Hê, tụi mày cả băng đi đâu đây?

     - Xếp John sai tụi tao qua đây khiêng cái máy bơm hydraulic này về thử.

     - Bộ tụi bây bỏ nghề làm thợ hàn hả? Làm thợ máy hả?

     Liệng đại cái máy xuống đất cái bịch rồi cả bọn, mấy thằng Mỹ con làm chung với tôi lúc trước, móc thuốc ra hút và bắt đầu tán dóc. Chẳng có chuyện gì khác hơn là chuyện thằng xếp mới của tụi nó, thằng John đầu sói. Một điều, hai điều cứ bảo thằng John là thằng ngu. Ngu? Ngu mà sai tụi nó chạy có cờ. Oh men, men, nghe tùm lum, rồi oh men, oh shit, và four letter word văng ra tứ phía. Bắt sang qua chuyện gái..., tụi nó kể rất là tự nhiên làm tôi cảm thấy mình lạc hậu, lạc loài. Lạc hậu thì cũng chẳng màng, xưa nay nước mình có bao giờ thoát khỏi vòng chậm tiến đâu. Nhưng, cái ý nghĩ lạc loài mới thấy thấm thía làm sao. Cái loài của mình tự cổ chí kim đâu bao giờ làm tổ ở vùng này, phương trời này.

     - Ê, tụi tao phải đi nghen. Sẽ gặp lại mày.

     - Bye.

     - Bye..., bye.

     Tôi vẫy vẫy tay tiễn đám nhóc cứ tưởng mình còn trẻ như tụi nó, rồi trở lại với công việc. Ngón tay trỏ đè lên nút "down" mà cặp mắt vẫn trông chừng theo lũ bạn, hồn thả tận đâu đâu... cho đến khi nghe "cạch," một tiếng kêu nhỏ. Tôi quay lại, hốt hoảng thấy ngón tay của mình bị kẹt giữa chiếc trailer và cái cần điều khiển của chiếc fork-lift. Cái nút "up" sát bên nút "down" cũng bị vô hiệu hóa luôn, còn chỗ đâu mà bấm. Trailer cứ tiếp tục hạ xuống, và cái cần điều khiển từ từ sụm. Như chợt nhớ một điều, tôi nhìn lại hai cái stand, ôi thôi rồi, bốn miếng đà gỗ chêm thêm bên trên đã bị thằng nào lấy đi đâu mất. Sự kinh hoàng đến với tôi như một luồng điện, tôi hãi hùng la:

     - Cái tay của tao, Phil. Cái tay của tao, lẹ lên, Phil, cứu tao với...

     Thằng Phil sáng mắt thật, thấy tôi giằng co với con rùa loại snap turtle, cắn một cái trời gầm không nhả, là nó hiểu ngay vội vàng nhảy lên chiếc fork-lift, lập tức rồ máy lượn một vòng, lụi hai cây chĩa vào cái goose neck, nâng lên. Tôi mừng rỡ gỡ được cánh tay ra. Phil chạy lại:

     - Tháo bao tay ra coi.

     Tôi rút từ từ, nhè nhẹ. Ngón tay trỏ dẹp lép như tờ giấy, xương gân lòi ra trắng xác. Hên là tôi dùng có một ngón, tôi vọt miệng:

     - Oh shit. It's flat, men.

     Phil trợn mắt, nhăn mặt. Rồi như sợ mấy đứa làm xung quanh nhìn thấy, sợ tinh thần nhân công dao động vì cái ngón tay bầm dập này, Phil tiếp:

     - Tròng bao tay vô. Ði theo tao, đi.

     Tôi điếng hồn chỉ làm theo những gì Phil nói. Rồi tưởng mình mạnh sức, nhằm nhò gì với vết thương nhẹ này so với những người bị thương ngoài chiến trận ở Việt Nam, ai dè chưa được nửa đường lên phòng y tá, tôi hoa mắt không thấy đường đi. Tôi tháo bao tay ra coi lại ngón tay lần nữa. Máu bắt đầu rịn ra, bây giờ mới biết đau, nhức nhối buốt xương. Tôi bủn rủn quỵ xuống tại chỗ, mắt nhắm lại cho bớt xây xẩm. Vài phút sau, biết có ai đỡ mình lên băng ca, biết trên tay mình có cây kim vô nước biển... Rồi nghe tiếng xe Hồng thập tự hụ còi, thấy mình được đưa lên xe, thấy xe chạy xốc tới xốc lui. Văng vẳng bên tai còn nghe tiếng của mấy cô y tá:

     - Từ đây xuống Sioux City bao lâu?

     - Khoảng hai mươi phút.

     - Nhanh lên, mặt mày nó xanh ngắt rồi.

     Và giọng người tài xế:

     - Bảo nó rán lên..., hang on...

     Cứ nghĩ là mình sắp đi theo ông bà, tôi chỉ buồn tại sao mình phải rơi vào cái cảnh chôn thây nơi xứ lạ quê người. Ðánh giặc với Việt Cộng cả chục năm không chết, mới tới Mỹ chưa hai năm mà phải bỏ mạng sa trường. Ðể lại vợ con bơ vơ không ai đùm bọc, không ai nương tựa. Tức thiệt. Chỉ có việc di chuyển mấy cái trailer mà làm cũng không trôi. Mà thằng lỏi nào cũng ác, dám lấy mấy miếng gỗ của mình mà không thèm hỏi một tiếng. Tôi đang nghĩ miên mang thì xe Hồng thập tự cũng chạy ào tới bịnh viện.

     - Mày phải ký vô đây đặng bác sĩ giải phẫu ngón tay cho mày.

     Một giọng nói sát bên lỗ tai, và có người cầm tay tôi đặt lên tờ giấy. Thu hết tàn hơi, ký, một chữ ký đọc không được mà thấy cũng không được. Rồi tôi làm theo lời dặn của cô y tá chụp thuốc mê. Ðếm. Một, hai, ba... và tất cả chìm vào bóng đêm.

     Lúc tỉnh dậy, đầu tôi nặng như đá. Bỗng nghe được tiếng bốn đứa con tôi chạy giỡn lăng quăng bên giường, và tiếng vợ tôi mừng rỡ:

     - Ba tỉnh rồi kìa... Anh thấy trong người anh ra sao?

     Mình đang nằm nhà thương? Tôi cố moi trí nhớ xem chuyện gì đã xảy ra. Thôi, chết rồi, tôi quờ quạng đưa cánh tay phải mân mê cánh tay trái. Băng bột? Hai lóng tay dập nát, dẹp lép không biết có còn không? Tôi giơ cánh tay trái từ từ lên ngực, muốn cử động ngón trỏ nhưng không còn cảm giác gì hết. Chắc bị cưa mẹ nó rồi.

     - Mấy giờ rồi em?

     Tôi gượng ngồi dậy, vợ tôi đỡ lưng tôi.

     - Ba bốn giờ chiều. Anh cứ nằm nghỉ cho khỏe, ngồi lên làm chi...

     Tôi thấy choáng váng rồi buông người ngã xuống nệm. Lỗ tai lùng bùng, thái dương nhức bưng bưng. Vậy là hơn một ngày, tôi thở một hơi dài lấy sức.

     - Ba..., ha ha... ba chưa chết má à.

     - Nói tầm bậy. Ði chơi với mấy em đi, để ba nghỉ.

     Vợ tôi cầm tay tôi mân mê, bóp bóp. Và cơn buồn ngủ bỗng như trở về, kéo mi mắt tôi xệ xuống...

    

     Tôi được nhận vào học năm thứ nhất tại Western Iowa Tech Community College, Sioux City, Iowa, sau khi bản sao bằng cấp tú tài hai và bằng sĩ quan hải quân của tôi được trường gửi đi Washington D. C. khán nghiệm. Sáu giờ học, bảy giờ sáng hai giờ trưa kể luôn giờ ăn trưa, sáu giờ làm thợ hàn part time ca đêm ở Load King, bốn giờ chiều đến mười giờ tối, lái xe đi đi về về hai giờ nữa, vị chi mười bốn tiếng một ngày. Mười giờ còn lại dành cho tắm rửa, ăn ngủ, bài vở... Nhà cửa, con cái, chợ búa, nấu nướng giao hết cho vợ. Ban đầu chỉ sợ mình không đủ sức, nhưng rồi quen đi, mình như được programmed thành robot, tới giờ chạy thì chạy tới giờ ngưng thì ngưng.

     Vào lớp mấy tháng đầu thật tình mà nói, thầy giảng thầy hiểu tôi nói tôi nghe. Về nhà, tôi phải rán lấy sách ra đọc và chịu khó tra tự điển. Nhưng, tự nhiên rồi nghe được hiểu được, chẳng biết sao. Cái khó sau đó không phải là nghe mà là nói. Rồi lần lần cái khó không phải nghe và nói mà là đọc và viết. Nghe, nói, đọc, viết và gì gì đi nữa, tiếng Mỹ đối với tôi suốt đời như vẫn là sinh ngữ hai, thứ sinh ngữ phụ mà tôi đã chọn hồi nào tôi học lên ban trung học. Chán thiệt. Chung một lớp với tôi còn có hai anh bạn độc thân, cũng chịu khó đi làm đi học như tôi nhưng chỉ được một tháng thì bỏ cuộc. Không hiểu bị trở ngại vì sinh ngữ hay vì hãng thịt bò IBP, Iowa Beef Processing, trả lương cao.

     Học xong quarter đầu thì trời đã sang đông, tuyết phủ trắng đồng. Thêm một trở ngại nữa là xe cộ đường xá. Xe, mới qua thì làm gì có xe mới, tôi được chiếc Toyota đời 69 làm chân. Sáng nào nhiệt độ dưới không độ, trừ trừ, thì đề máy chưa chắc đã nổ. Ðề máy không nổ thì còn mệt dài dài, phải câu bình, phải đẩy, phải ủi..., phải làm sao cho nó chạy mới thôi. Không thể mất một buổi học mà cũng không thể mất một ngày làm, cái nào cũng là xương máu, không thể hy sinh. Ðường xá thì kinh nghiệm đã có dẫy đầy của mùa đông năm rồi, mùa đông đầu đời. Lọt xuống ruộng, cúi đầu làm dấu thánh giá rồi bò lên chạy tiếp. Quay vòng vòng, nhắm mắt niệm nam mô a di đà rồi quay đầu chạy tới. Chỉ cần vài lần thì tôi biết lướt trên tuyết, biết lạng trên nước đá.

     Nhưng lần này xui hơn, bạc đạn bánh xe trước bị bể trên đường tôi đi học về. Tôi chạy ẩu, rán được một khúc đường rồi cũng phải ngưng, vì bánh xe bắt đầu xệu xạo. Chỉ còn cách đón xe dọc đường. Ở vùng Mid-west này được một điểm là thiên hạ hay có lòng từ bi, sẵn sàng cho người lỡ đường quá giang. Nhứt là mùa đông, không cho quá giang như mang tội giết người. Lạnh quá cũng đủ chết. Bởi vậy tôi vừa chui ra khỏi xe, thumb-up một cái là bác tài Mỹ vớt tôi ngay. Ðặc biệt hơn, bác tài này là tài xế xe semi-truck hạng nặng, mình từ chối không đi coi cũng không được. Tiếng máy dầu cặn loại lớn, lộc cộc, lộc cộc..., như một điệu nhạc buồn, ru ngủ. Tôi trèo lên ba nấc thang ở ba vị trí khác nhau mới vói tay mở được cửa:

     - Cho tao về Vermillion.

     Bác tài chẳng nói chẳng rằng, vô số rồ ga chạy tiếp, hình như hắn chẳng cần biết Vermillion là đâu. Bây giờ tôi mới thấy ngồi trên xe truck loại xe be này như ngồi cao trên máy bay, thấy mình như đang trên run way chạy dài xa tít, tuyết hai bên phủ trắng ngút ngàn. Nhưng, xe truck không làm sao êm như máy bay được, mà giống như xe đò Việt Nam chạy trên lộ bị Việt Cộng đào hố, đấp mô. Tôi bị nhồi lên, hụp xuống như tàu đi trên biển, vậy mà hắn ta tĩnh bơ. Nhìn kỹ mới biết hắn ngồi trên chiếc ghế riêng, không dính liền với cái băng tôi đang ngồi. Chiếc ghế có hệ thống lò xo rất đặc biệt, nhún lên nhún xuống nhịp nhàng hóa giải những cơn xốc nẩy người một cách êm đẹp, đến nỗi làm tôi tưởng chừng hắn như đang tham thiền nhập định, ngồi yên một chỗ, không di động. Hắn mở lời để phá bỏ bầu không khí im lặng:

     - Xe của mày loại gì?

     - Toyota.

     - Mày được cái mày muốn rồi.

     Hắn vừa nói vừa mỉm cười. Rõ tư bản Mỹ chê tư bản Nhật. Nhưng, tư bản nào cũng hay hơn, cũng đỡ hơn cộng sản, nhứt là cộng sản Việt Nam. Tôi đáp lời:

     - Không. Tao chẳng được cái tao muốn, tao chỉ được cái tao cần, tao đủ sức trả tiền...

     Rồi tôi xuống ở ngã tư xa lộ 50, thumb-up thêm một lần nữa mới về tới home-town. Gọi điện thoại cho vợ tôi ra đón, rồi hai đứa đi luôn xuống tiệm bán đồ phụ tùng để mua cái bạc đạn. Cỡ nào cũng phải sửa xe trong ngày để ngày mai còn tiếp tục đi học, đi cày. Trở về nhà, cơm nước ăn qua loa rồi vợ chồng con cái mới bồng bế nhau đi. Vợ tôi không muốn tôi đi một mình mà bỏ tụi nhóc ở nhà cũng không ai baby sit.

     Vừa ra khỏi nhà thì khổ một nỗi tuyết ở đâu bỗng dưng rơi tầm tã. Tuyết rơi chẳng biết lựa giờ, rủa thầm một câu. Khoảng hơn một tiếng đường xa lộ, giữa ruộng đồng mênh mông, tôi gặp lại chiếc Toyota của tôi đang nằm co ro, cô đơn, lạnh lẽo trong lớp tuyết sương phủ kín. Quay đầu trở lại và tấp vô lề, chiếc Mazda Wagon của vợ tôi vẫn để máy chạy đều đều để giữ hơi ấm cho tụi nhỏ. Tôi đem đồ nghề ra để giải phẫu con bạn vàng bệnh hoạn của tôi. Phủi tuyết rồi hì hục tháo được cái bánh xe, tháo được cái thắng xe... ôi hỡi ôi cho cái bạc đạn, nó bị mòn lẳn một phía và dính khắn vô đùm xe, tôi không tài nào nhúc nhích nó được. Phải có cái cảo, cảo nó ra thì mặc may. Nhưng, giữa trời làm gì có cảo. Mượn, chạy vô xóm nhà lá đằng kia để mượn. Ði không mà lại trở về không, đâu có được, đi một phải trở về hai. Phải sửa cho bằng được.

     Rẽ vô exit mới biết nơi đây vỏn vẹn chỉ có một cây xăng và một cái bar. Ghé vô cây xăng là chỗ dễ mượn đồ nghề thì nghiệt thay chẳng ai biết cái cảo là cái gì, thứ đồ nghề đặc biệt có khác. Tấp vô bar thì gặp ngay một đám cao bồi. Nón đội đầu, bia cầm tay, thỉnh thoảng đưa lên miệng tu ngất ngưởng. Thấy ngại thiệt, nhưng tôi cũng làm liều hỏi đại một tên:

     - Ê, tao cần một cái bearing puller để tháo cái bạc đạn bể. Mày biết có ai có không?

     - Puller hả? Ðược rồi, để tao lo cho. Làm một chai đi.

     Chẳng đợi tôi trả lời trả vốn, hắn đã kêu tên chủ bar khui cho tôi chai bia làm tôi chới với. Tôi định nói tôi không biết uống, nhưng lỡ khui rồi từ chối cũng bất lợi:

     - Cám ơn. Nhưng tao không có thì giờ, tao ở tuốt trên Vermillion lận, tao cần sửa xe để đi về.

     - Uống hết đi rồi đi.

     Vợ tôi ở ngoài xe chắc cũng sốt ruột dữ lắm, sao lâu quá mà không thấy tôi trở ra, chớ vợ tôi có biết đâu tôi cũng đang chờ đợi, điêu đứng với tụi này. Nhâm nhi tán gẫu một lúc rồi cũng cạn chai, và tôi lấy làm lạ thấy thằng Mỹ tôi mới làm quen dám bỏ ngang đám bạn bè của nó để lo đi sửa xe với tôi. Cũng không ngờ nó lại là tài xế cái đầu máy xe truck hạng nặng, không kéo thùng, đang đậu ngoài sân. Nhưng nó lại ngạc nhiên chuyện khác, trách tôi:

     - Trời, tại sao mày không nói với tao là có vợ con của mày đang chờ ở ngoài này. Nè, bây giờ chạy theo tao.

     Vợ con dẫn theo phải nói cho nó biết? Chạy theo nó đi đâu? Cái thằng Mỹ lỏi này có tin nó được hay không? Chỉ mượn có cái cảo mà sao phải lòng vòng như vầy? Trong đầu tôi lung tung nhiều câu hỏi. Trời đã tối rồi và tuyết rơi càng lúc càng nặng cánh. Một liều năm bảy cũng liều, tôi chạy theo nó sâu vào cánh đồng phía trong. Ngừng lại tại một ngôi nhà cũ kỹ, đơn độc giữa bầu trời hoang vắng tha ma. Tôi bắt đầu biết sợ, chưa dám bước ra xe, quay cửa kiếng xuống chờ đợi động tĩnh. Có gì bất trắc thì mình vọt luôn cũng tiện. Tiếng máy dầu cặn, lộc cộc, lộc cộc..., từ đằng kia cũng là điệu nhạc buồn, ru ngủ. Hắn đến bên tôi:

     - Ê, vô nhà chơi mậy. Xe của mày có thằng khác lo rồi.

     Thôi rồi, nó đã dụ khị mình tới đây, sao mình không nghĩ tới. Bây giờ nếu nó ra tay thì làm sao đỡ cho nổi. Vợ tôi thì yếu ớt, còn tôi thì cũng chẳng mạnh mẽ gì. Thêm lũ nhỏ mệt mỏi nằm ngủ lăn lóc phía sau. Tôi bảo vợ tôi cứ ngồi yên trong xe để mình tôi nhảy ra đối phó. Bước vô phòng khách, tôi nghe được tiếng người đàn bà la thằng nhỏ phía sau nên cũng bớt phập phồng. Tôi muốn kéo nó trở về với vấn đề của tôi. Nhưng, mình nhờ người ta chớ có sai bảo ai đâu nên cũng phải khéo ăn khéo nói. Ðang suy nghĩ lựa lời, thì nó lại phát biểu ý kiến trước:

     - Vợ con mầy đâu, sao không vô.

     - Tụi tao không dám làm phiền mày nhiều. Tao chỉ muốn mượn mày cái puller mà thôi.

     Nó chạy trở ra ngoài nài nỉ vợ tôi:

     - Vô nhà đi. Không có ai cắn mày đâu. Bộ mày muốn chết ngoài này với cơn mưa tuyết hả... Hê, mấy thằng nhóc này, dậy, dậy..., vô nhà đi cho ấm.

     Ðám con tôi giật mình ngơ ngác. Nãy giờ nằm phía sau bị ngộp thở vì chật hẹp, tù túng, nghe nói vô nhà tụi nó cũng mừng, mở cửa túa ra chạy vào trong. Tôi nghĩ nếu có lũ nhỏ chạy theo hỗ trợ thì thằng Mỹ này chắc không dám dở trò gì đâu. Ðành phú cho hoàn cảnh đẩy đưa, tới đâu hay tới đó. Rồi tất cả dồn ra nhà bếp phía sau, bắt đầu màn giới thiệu:

     - Tao là Mike Wagner. Vợ tao, Mary. Con trai của tụi tao, John.

     Tôi bắt chước Mike giới thiệu vợ con từng người một, nhưng mỗi tên lại phải đánh vần. Tôi phát âm chữ Nguyễn không hiểu lỗ tai của nó nghe làm sao mà nó phiên âm thành chữ Win, win all times , nó thích cái họ như vậy.

     - Tụi bây ăn gì chưa, chắc tụi bay đói bụng. Mary, lấy đồ ăn cho tụi nó ăn đi.

     Vậy là nãy giờ mình nghi ngờ, hiểu lầm thằng Mike, tội cho nó. Dân làm ruộng, sống nơi thôn dã thì dù ở xứ nào chắc cũng vậy: hiền lành, chất phác. Tôi kết luận suông như thế và chờ đợi kết quả coi có trúng hay không. Mike chỉ biết lõm bõm về Việt Nam, chiến tranh Việt Nam, và bữa nay nó hân hạnh được gặp người Việt Nam. Cuộc chiến đã tàn, Việt Nam đến với nó bằng linh hồn, bây giờ cái gì liên hệ với Việt Nam là hình như nó đều ưa thích, nó nói như vậy. Gớm thật, thằng coi vậy mà cũng có... tâm hồn. Nó đãi ăn thì mình cứ ăn, tội gì phải làm khách. Thật ra, tôi chỉ sợ nó buồn chớ ham, chese, potato chip, snack thì cũng chẳng hạp gu gì cho lắm.

     Ðang ăn được nửa chừng thì tụi Mỹ chòm xóm, láng giềng của thằng Mike ở đâu kéo tới đông như đi chạy giặc. Thôi rồi, nó định đem đám mình ra để làm một cuộc triển lãm. Nhưng xem kìa, người nào cũng cầm một món nhạc khí trên tay violon, banjo, guitar, trompett, saxo, accordion, và luôn cả mấy cái trống tom-tom. Chẳng lẽ đây là một đại ban đồng quê của Mỹ? Tôi để thằng Mike giới thiệu, đánh vần hoài mỏi miệng. Rồi sợ ăn bữa giỗ lỗ bữa cày, tôi đến nhắc chừng thằng Mike về vụ chiếc xe:

     - Như vậy rồi chừng nào mới đi sửa xe?

     - Tao bảo mày là có thằng khác nó lo rồi, mày không tin tao sao. Tụi nó mới gọi máy CB về cho tao biết cái bạc đạn không tháo ra được bằng puller. Xe mày nhỏ, puller xe truck loại lớn không xài được. Tuị nó đang đem cái mỏ hàn gió đá ra đó đặng cắt. Tuyết rơi như bão ở ngoài đường, sửa xong chưa chắc mày sẽ đi về được. Cứ vui chơi ở đây trước đã.

     Lại nghi ngờ, hiểu lầm thằng Mike một lần nữa. Ðã bảo tụi này chất phác hiền lành. Nhưng, vui chơi làm sao được khi đầu óc mình rối như tơ vò. Ðiệu này ngày mai vô lớp phải ngủ gục. Kệ, để xem đêm văn nghệ bỏ túi của đám Mỹ này đi tới đâu. Ban nhạc hòa tấu rất hay, nhịp điệu vững vàng, nhưng toàn những bản country xa lạ mà tôi chưa từng nghe. Tụi nó giới thiệu đó là những bản nhạc mới, những bản nhạc thời trang đang thịnh hành. Tôi nói tôi thích những bản xưa. Tụi nó chơi liền những bản quen thuộc của ban The Venture mà tôi thích. Làm mình nổi hứng cũng muốn trổ tài:

     - Cho tao mượn cây đàn coi.

     - Hay quá. Mày biết chơi guitar nữa hả?

     - Chơi xoàng thôi, lâu lắm rồi chẳng rờ tới cây đàn. Mà không biết có chơi được với ngón tay gãy này hay không.

     - Gãy hồi nào vậy? Ðâu, đưa tao coi.

     Tôi giơ ngón tay gãy cho tụi Mỹ xem, ngón tay có giấy chứng nhận 35 phần trăm tật nguyện, và 1500 đồng tiền bồi thường bảo hiểm. Một ngón tay, một cảnh đời khác biệt, nhờ nó mà cuộc đời tôi mới có cơ may thay đổi. Bằng không, suốt cuộc đời còn lại chắc tôi cũng chỉ làm một tên thợ hàn lem luốc mà thôi. Mà cũng do số trời, ở bệnh viện St. Vincent ngày đó trong lúc đi tới đi lui cho dãn gân cốt, tự nhiên tôi thả lần ra phòng chờ đợi, và bao nhiêu tạp chí Time, News Week, Business Week, Sport Illustrated..., tôi lại không đọc mà cầm nhầm quyển catalog của trường đại học duy nhất tại Sioux City. Ði học đi chớ, làm cu li suốt đời sao. Sponsor của tôi, kẻ thì đốc xúi người lại cản ngăn. Nhưng, quyết định là của mình, cho cuộc đời của mình. Và tôi đã quyết định, một quyết định đổi đời.

     - Ðể tao dạo một bản coi sao, tao chỉ sợ nó gãy thêm một lần nữa.

     Dứt bản độc tấu, bản Domino, tiếng vỗ tay vang dội. Không ngờ ngón tay có tật cũng còn bấm được đàn. Trong nỗi mừng vui, tôi hôn ngón tay của tôi chùn chụt, quên bẵng chiếc xe hư đang nằm giữa trời, chờ đợi...

     Tôi yêu ngón tay tôi
     Từ khi đến nửa đời


     Nửa đời? Phải, nửa đời tăm tối đã qua và nửa đời còn lại đang lên. Ngón tay gãy như chiếc đũa thần đã thật sự đưa tôi vào miền ánh sáng.

   back to top

09. NGĂN SÔNG CÁCH NÚI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Mới học xong bằng hai năm mà đã hết trường. Muốn học lên nữa thì phải đi xa. Gần nhứt cũng hơn 150 dặm, ba giờ lái xe. Xuống Omaha, Nebraska. Cái thành phố có cái tên mới nghe như nghe tiếng Nhật, Yamaha, Toyota, Honda... Phải đi xa, hai vợ chồng tôi quyết định như vậy. Nhưng chỉ mình tôi thôi, vợ tôi và mấy nhóc vẫn ở lại nhà, tiểu bang nhà, South Dakota. Và tôi sẽ về thăm vào cuối tuần. Tôi nói với sponsor của tôi rằng, rủi có ngày nào tôi trở về Việt Nam, tôi sẽ làm ba má tôi buồn nếu tôi chỉ lấy được bằng cán sự, bằng AAS, mà thôi. Phải học lên kỹ sư, lấy bằng kỹ sư, bằng BS. Vì vậy tôi từ chối, không nhận việc của hãng Honeywell, 3M, và Perkin Elmer. Tôi đi interview để có kinh nghiệm mà lại được kêu. Rán thêm hai năm nữa, thời gian rồi sẽ qua mau. Ðã lỡ phóng lao thì cũng nên theo lao.

     Cuối hè, tôi, một người một... xe thân hành xuống Omaha. Thấy mình như học trò quê lên tỉnh. Thành phố lớn quá, đường năm sáu lane một chiều. Cũng may xa lộ I-29 rẽ vào thành phố, băng qua sông Missouri thì dẫn ngay vào đường Dodge, con đường tôi muốn tìm. Tìm được đường, rồi tìm được trường. Tìm được trường, rồi phải tìm ông Chairman.

     Credit transfer, một quarter hour thì bằng hai phần ba semester hour. Nếu tính hết cái học bạ hai năm của tôi thì tôi được chín chục giờ, nhưng ông Chairman nói chỉ được transfer tối đa sáu mươi lăm giờ, tương đương với hai năm đầu của đại học bốn năm. Ông so cái học bạ của tôi và cái học bạ mẫu của trường mới, rồi gạch bỏ từng cua một. Một công việc nhàn nhã, làm như thuộc lòng. Trường hợp của tôi cũng không phải là lần đầu tiên. Xong, ông chẳng buồn hỏi tôi tiếng nào, tự động ghi bốn cua vào giấy ghi danh cho tôi, cho semester tới. Kéo ngăn tủ lấy triện son ấn "kịt" rồi đưa cho tôi. Good luck, ông mỉm cười nói với tôi như vậy. Thank you, rồi tôi rời khỏi phòng. Vừa bước ra thì có người khác bước vô, sinh viên đổi trường nối đuôi nhau thành hàng. Tôi ngồi bẹp xuống hành lang lôi giấy tờ ra xem lại. Lấy làm hài lòng vì được đâm ngang vào năm thứ ba. Nhưng, không hài lòng lắm vì hai cua buổi sáng hai cua buổi chiều. Làm sao mà tìm việc làm cho phù họp với giờ giấc như vầy. Trở lại phân trần với ông Chairman ngay bây giờ cũng không tiện. Thôi kệ, từ từ rồi tính.

     Tôi tạt vào văn phòng tìm việc cho sinh viên. Ghi tên vào list chờ đợi tại bàn con nhỏ thư ký rồi kéo ghế ngồi chờ. Một hồi cũng được kêu vô phỏng vấn, cũng may là có nhiều phỏng vấn viên. Tôi tả sơ hoàn cảnh của tôi và kết luận rằng tôi cần gấp một công việc để làm, để kiếm tiền. Nhìn tấm giấy ghi danh, bà Mỹ làm cho tôi trả lời ngay:

     - Mày chỉ còn làm ban đêm thôi. Clean-up, không còn công việc gì khác hơn nữa. Nhiều hãng clean-up đang cần người.

     - Ghi vô đi. Hãng nào cũng được. Ngày tao xuống đây học, ngày nhập học, là ngày tao bắt đầu.

     Tôi vắn tắt như vậy và không quên cám ơn bà ta. Rời văn phòng tìm việc tôi lang thang lên câu lạc bộ sinh viên định tìm cái gì để gặm cho đỡ đói. Việc chuyển trường đã xong, công ăn việc làm cũng đã có, bây giờ còn một vấn đề quan trọng nữa là chỗ ăn chỗ ở. Vừa nhai miếng sandwich, tôi vừa lật lật cuốn điện thoại. Gọi ai đây? Có quen ai đâu mà gọi. Gọi họ Nguyễn vậy, cùng họ với mình, chừng nào không xong thì gọi họ khác. L, M, N, Nelson, Newman, Newsome, Nichol... Quá rồi, lật trở lại, đây, Nguyen, một lô Nguyen. Cứ bắt trên gọi xuống vậy.

     - Hello.

     Tiếng đàn bà làm tôi giựt mình, nửa muốn hang-up, nửa tiếc mười xu. Kệ, nói chuyện với đàn bà thử một lần xem sao, đã lỡ gọi rồi:

     - Hello. Dạ chào chị... Tôi là Hùng đây, tôi tên Hùng. Tôi ở xa mới tới đây đi học. Tôi không quen biết ai ở đây, định gọi vòng vòng để tìm chỗ ở trọ. Sở dĩ tôi gọi chị là vì chị cùng họ Nguyễn với tôi. Nhà chị có phòng trống không? Làm ơn cho tôi ở nhờ đi.

     - Tụi tôi cũng mới tới đây có mấy tháng thôi. Ðang ở chung cư, không có phòng trống đâu. Tôi thấy anh nên gọi mấy anh độc thân.

     - Chị biết ai độc thân ở đây không? Cho tôi xin số điện thoại đi.

     - Tụi tôi mới tới cũng không biết ai có gia đình, ai độc thân nữa anh ơi. Thôi anh gọi người khác đi, bye nha...

     Chưa kịp hỏi thêm tiếng nào nữa thì bị bà chị vô tình cúp ngang xương. Thất bại. Nhưng thất bại là mẹ đẻ của thành công, thất bại cho mình một bài học, một kinh nghiệm: chỉ gọi những người có tên là đàn ông thôi. Gặp đàn bà nguy hiểm quá, họ tưởng mình điên khùng, chọc phá, họ chửi cho một mách thì càng mang họa. Mới bị họa đây thì bây giờ phải có phúc, phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Phúc, gọi anh chàng Nguyen, Phuc V. này chơi.

     - Hello...

     Nghe được giọng đàn ông tôi mới thấy nhẹ mình, rồi bắt đầu đờn lại bài cũ:

     - Hello. Chào anh Phúc. Tôi là Hùng đây. Tôi ở South Dakota mới xuống, định tìm chỗ ở trọ, đi học. Anh biết có ai độc thân ở đây cần người ở chung chia tiền nhà không anh?

     Một vài giây trôi qua không thấy đầu kia trả lời, thấy lâu như một buổi..., rồi đột nhiên có tiếng:

     - Có tui nè. Lại đây chơi.

     Tôi mừng quýnh:

     - Vậy hả. Hên quá. Anh cho tôi địa chỉ đi.

     - Một một bốn ba, đường 40.

     - Tôi tới liền đó. Anh đừng có đi đâu hết nghen, chừng nửa tiếng trở lại...

     Tôi nói đại như vậy chớ chưa biết đường 40 nằm ở đâu. Dở bản đồ ra xem, cũng hên thiệt, thấy mình đoán trúng. Khoảng nửa tiếng cà rịch cà tang vừa chạy vừa xem chừng số nhà rồi cũng tới. Anh Phúc chờ tôi ở bãi đậu xe, đeo kiếng đen như thám tử, đứng dựa vào chiếc Vega. Xuyên qua cặp kiếng đen, tôi thấy anh tuổi cũng sồn sồn. Tay bắt nhưng mặt chưa chắc đã mừng, cũng phải cần thời gian tìm hiểu.

     - Lên nhà chơi. Ở đây nóng quá.

     Nắng xế trưa chiếu vào mặt tường, hắt trở ra hừng hực, bốc khói. Chung cư, lại cũng chung cư chớ có nhà cửa gì. Một dãy hai tầng, bốn căn, hai trên hai dưới. Anh Phúc ở tầng trên, căn đầu song hướng ra lộ. Anh mở tủ lạnh lấy đá làm hai ly coke rồi trở ra salon ngồi nói chuyện với tôi. Tôi kể thân phận tôi, một vợ bốn con, thèm đi học nên phải xa nhà. Anh kể thân phận anh, cũng một vợ bốn con, nhưng sợ cộng sản nên cũng phải xa nhà. Ðằng nào cũng nhà, nhưng nhà của anh sao mà xa quá. Mấy tuần qua, anh Phúc bị hãng bánh lay-off, mới xin được hãng thịt bò. IBP, Iowa Beef Processing hình như ở đâu cũng có, tuần tới bắt đầu đi làm. May là anh thất nghiệp nằm nhà, còn nghe điện thoại, không thì tôi đâu có cơ hội được gặp anh.

     - Có một phòng ngủ thôi. Anh muốn ở thì ở. Tui ở một mình không có ai nói chuyện cũng buồn.

     - Ăn thì nhiều chớ ở bao nhiêu. Tui đóng đô ở bộ salon này thì được rồi. Nhưng, anh tính chi phí tiền bạc ra sao, cho tui biết đặng tui lo. Thà mất lòng trước đặng lòng sau.

     Suy nghĩ một hồi, anh Phúc nói:

     - Thấy hoàn cảnh của anh cũng tội. Anh cứ đưa tôi mỗi tháng năm chục còn ăn uống, điện nước, gì gì để tui lo hết cho.

     Chiều hôm đó, lái xe trở về South Dakota, tôi thấy lòng hân hoan, phơi phới. Chỉ mất một ngày mà lo xong tất cả mọi chuyện. Vợ tôi ở nhà chắc cũng đang hồi hộp trông ngóng bóng tôi về.

     Việc ghi danh, nhập học, thì dễ thôi. Việc đi làm, đi clean-up, mới là việc đáng lo. Tàn buổi học chiều đầu tiên, tôi gọi điện thoại cho hãng. Carriage Cleaners. Xếp dặn tôi đến sở sớm hơn một giờ để làm giấy tờ. Mất cả tiếng đồng hồ lái xe. Ra tuốt ngoài đường 130, đường 140. Ðến nơi tôi mới biết công việc của tôi là đi hút bụi mấy chung cư. Sáu tên vô một nhóm, tính luôn thằng trưởng nhóm. Không biết bao nhiêu nhóm, đông lắm. Tôi được biệt phái cho nhóm 5, có thằng nhóc Mỹ đen mười lăm, mười sáu tuổi làm đầu tàu. Mới ngày nào vai mang ba-lô chiến đấu, trấn ải địa đầu gìn giữ quê hương, bây giờ vai mang máy hút bụi, đi hút bụi. Thấy nhục nhã làm sao. Thấy hận đủ thứ: hận đời, hận cộng sản, hận cho số phần, và hận cả ông già Chairman... Tôi lót tót theo đám nhóc như một lũ côn đồ. Leo lên xe Van, rồi nhớ hồi nào mình leo lên GMC lần đầu tiên. Muốn khóc mà không khóc được, muốn bỏ job mà bỏ không được, mình cần tiền để sống. Tụi nhỏ đâu phân biệt được tuổi tác của người mình, tưởng tôi cũng cùng lứa với bọn nó, nên có thằng dám nhằm tôi mà nghịch:

     - Mày có thích công việc của mày không?

     - Công việc là công việc.

     Tôi trả lời như vậy và bọn nó cười hề hề như ngụ ý là tôi sẽ có cơ hội nếm mùi cuộc đời hút bụi mà tôi chưa được biết. Xe chạy một lúc lâu rồi ngừng lại ở một nơi mà lũ nhỏ gọi là cái complex. Complex là chung cư cỡ lớn, gồm trung bình từ hai chục đến ba chục dãy, một hoặc hai tầng. Mỗi tầng có độ hai chục căn, mỗi bên mười căn với một hành lang chạy ngay giữa. Chỉ làm sạch cái hành lang này mà thôi. Một đứa lo một dãy. Thằng nhóc đầu tàu chỉ tôi vào dãy thứ nhất, nó vào dãy thứ hai, và tiếp tục mấy đứa kia vào những dãy kế. Nó dặn tôi rằng:

     - Mày phải hút thật sạch và hút thật nhanh. Lúc tao trở ra cửa đó thì tao cũng muốn mày trở ra cửa này. Không được chậm trễ.

     Vòng đầu tiên tôi cố ý làm thật sạch, nên chậm. Ló đầu ra thì gặp ngay thằng nhóc đang chận trước cửa:

     - Mày làm lâu quá. Tụi nó làm hết mấy dãy rồi.

     Tôi chẳng thèm trả lời, đi lại dãy thứ 7, chui vô làm tiếp vòng thứ hai. Vừa hút vừa chạy. Ló đầu ra cũng thấy thằng nhóc, đứng bên kia vọng qua:

     - Lẹ lên nữa, lẹ lên nữa. Mày nghe không?

     - OK.

     Tôi nghĩ chắc thằng nhóc này muốn chơi xỏ lá với mình. Nó làm cách gì mà lẹ vậy. Phải cho nó một bài học cho bỏ ghét. Tôi mở máy chạy rầm trời mà không thèm hút gì hết. Lượm mấy bao thuốc, tàn thuốc bỏ vô túi rồi vọt trở ra. Lại cũng thấy nó ở bên phía bên kia, to tiếng hăm dọa:

     - Mày bị đuổi, mày bị đuổi rồi... Mày biết không? Lẹ lên, lẹ lên.

     Tôi nổi sùng, quạt lại:

     - Câm cái miệng mày đi, nhóc con. Tao chỉ có hai tay thôi. Mày thấy không?

     Cũng may lúc đó là lúc trở về dọn dẹp club house và chung quanh hồ tắm. Không biết lần này tại vì làm chung một đám hay vì bị tôi cự một phát mà thằng nhóc im bớt cái họng.

     Rồi tất cả chất lên xe Van, chạy vòng vòng tìm cái complex khác. Tôi cố tình tránh xa thằng nhóc. Phải làm cách nó năm ba dãy mới được an toàn. Không còn hút cái gì nữa hết. Buồn thì lượm rác, bằng không chui vô rồi lững thững chui ra. Thằng nhóc đâu còn thì giờ đâu mà kiểm soát. Nó cũng chạy như chạy giặc, chạy có cờ.

     Mười một giờ đêm tôi mới mò về đến nhà. Anh Phúc đã ngủ mất đất. Lấy sức để sẵn sàng cho ngày mai. Mới cắt thịt, chưa quen, thế nào cũng rã rời tay chân. Tôi rón rén vào phòng tắm dội nước cho mát rồi xuống bếp lục đồ ăn. Hai khúc thịt bò, thịt thăn, của anh Phúc lận về là cái chắc, đã được luộc sẵn. Thịt tươi, chỉ xắt lát chấm nước mắm mà ăn cũng thấy ngọt, thấy ngon làm sao. No bụng, tôi ra sofa nằm thẳng cẳng. Chuyện đời cũng lắm trớ trêu, nhưng còn thì giờ đâu mà nghĩ ngợi, suy tư. Ngủ.

     Cái nghề đeo máy vaccum này, chịu đựng mới một tuần mà anh hùng thấm mệt. Nên qua thứ hai tuần sau, lợi dụng mấy giờ trống sau lớp học buổi sáng, tôi lang thang đi tìm việc khác. Theo đường Dodge ra đường 72, đường "bảy mươi sách cần" theo anh Phúc, tôi thấy một lô tiệm ăn. Cứ tấp vô điền đơn, nộp đơn, hết cái này tới cái khác. Burger King, Hardy, Mac Donald, Kentucky Fry Chicken... rồi đi lần xuống Long John Silver. Long John Silver là tiệm chót tại vì bà manager gọi tôi vào phòng trong phỏng vấn tại chỗ, và nhận luôn tại chỗ. Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Khỏi cần phải đi đâu xa. Ngày mai đã có giờ đi làm, tới đây học chiên cá, chiên tôm... Chiều hôm đó, sau khi đi hút bụi trở về sở, tôi ngang nhiên tuyên bố với thằng nhóc:

     - Chuyến này đến phiên tao. Tao lay-off mày, mày biết không? Gửi check của tao về địa chỉ này đây.

     Thằng nhóc mặt mày buồn xo, chẳng nói với tôi tiếng nào. Hình như nó cảm thấy nó có tội, cái tội áp bức tôi trong buổi ban đầu. Tôi nghĩ nó đang hối hận.

     Nghề chiên cá, chiên tôm ở Long John Silver là một nghề hết sức máy móc. Bốn vạc dầu sôi, bốn cái thùng vuông vức, khoảng chín tấc chín tấc bề cạnh và ba tấc bề sâu, lúc nào cũng chứa đầy dầu. Nhiệt độ của dầu được điều chỉnh tự động bằng điện tử, thả món gì vô cũng thấy nó sôi bùng lên. Một thùng dành riêng cho french fries và hush puppies. Một thùng dành riêng cho cá. Còn hai thùng còn lại dành cho tôm, scallop, clam... và chicken stick.

     Món nào cũng lăn bột, chiên. Hầu hết đã được làm sẵn, không biết từ đâu chở tới, vô bao giấy chất đầy trong tủ đá. Cứ lôi từng bịch, từng bịch mà thảy vào mấy vạc dầu. Chỉ có cá là phải pha bột, nhúng bột tại chỗ mà thôi. Việc thái cá, cá cod, thì giao cho mấy tên manager. Ðây là một cái quyền mà cũng là trách nhiệm, bổn phận, và phải học qua một khóa.

     Bên trên mỗi vạc dầu, phía trước cái quạt hút khói, còn có một hàng nút push button để canh giờ chiên. Tôm hai phút, cá ba phút, clam bốn phút, gà năm phút... đã được programmed sẵn. Chiên cá thì bấm nút cá, chiên gà thì bấm nút gà. Hết giờ là nó bíp-bíp và chớp đèn báo động. Vớt ra thảy lên ngăn, là xong. Lúc nào cũng phải có sẵn tối thiểu mười miếng mỗi thứ. Mấy lúc đông khách, thảy năm ba thứ vô một thùng, đến hồi nó tranh nhau bíp-bíp, bíp-bíp, không biết cái nào mà tắt, mà vớt. Cũng vui. Vớt ra lộn thì để đó lát nữa chiên lại, bằng không thảy vô thùng rác, vừa tiện vừa lợi.

     Chỉ có chiên cá là phải học thôi. Bột nhúng không được nhiều không được ít. Một miếng ngay giữa, bốn miếng bốn góc, bốn miếng bốn cạnh, rồi tám miếng giữa chín miếng kia. Tôi gọi là bát quái trận, cứ theo thứ tự ngũ hành, bốn phương, tám hướng mà thả vào là trúng. Ðộ nghiêng của miếng cá cũng phải vừa tầm, và phải thả xuống thật gọn, thật khéo. Không gọn, không khéo thì dầu nổ. Dầu nổ thì dầu văng. Văng vô mặt phỏng mặt, văng vô tay phỏng tay. Sợ phỏng mặt phỏng tay, thả xuống không gọn, không khéo thì cá lại dính chùm. Cá dính chùm thì cá lại vô thùng rác. Cá vô thùng rác nhiều quá thì phải... coi chừng.

     Tôi coi chừng kỹ lưỡng lắm mà rốt cuộc cũng không xong. Số là tôi đem cá đem tôm về ăn dặm với thịt bò của anh Phúc cũng vừa được hai tuần, sắp sửa đến lúc tôi đứng chiên một mình thì có chuyện lớn. Trưa hôm đó, một đám áo vết nâu, cà vạt nâu, phù hiệu Long John Silver gắn trên miệng túi, bất thần xông vào kiểm soát. Làm ăn kiểu này đâu có được. Tư lệnh trước khi đi thanh tra thì phải có công điện cho chỉ huy trưởng, để chỉ huy trưởng chuẩn bị chớ. Ðằng này không, thanh tra mà không báo động gì ráo trọi. Một tên cắc cớ nhảy vô đứng chiên cá tay đôi với tôi. Gặp giờ ăn trưa đông khách, làm việc gì cũng phải hấp tấp, vội vã, vậy mà trúng cái vạc dầu mắc dịch bữa đó chiên cái gì cũng mắc lẹo. Không hiểu mấy tên "cốm" đó ghi nhận tài năng của tôi như thế nào, mà qua ngày sau, tôi không ngờ tôi bị đuổi. Hết giờ làm, bà manager kêu tôi vô phòng riêng nói chuyện:

     - Bữa nay là ngày chót của mày.

     Câu nói thẳng thừng như ruột ngựa, không tình cảm, không ân oán giang hồ gì cả. Vắn tắt như thế thôi, khỏi cần nêu lý do. Lần đầu tiên rũ áo từ quan, trả lại đồng phục, bảng tên. Biết mình rất cần việc làm, nhưng tôi cũng dửng dưng, cũng chưa thấy cả bầu trời sụp đổ. Không làm chỗ này thì đi làm chỗ khác. Mấy cái đơn nộp ở mấy tiệm kia cũng được hai tuần rồi, cũng sắp tới ngày nó kêu. Nhưng tính chắc hơn, tôi trở lại văn phòng tìm việc ở trường. Bà job-commisioner của tôi cứ tưởng tôi vẫn còn làm việc ở hãng Carriage Cleaners. Tôi tả sơ về công việc tôi phải làm, về những đòi hỏi, những chỉ tiêu phải đạt được, bà ta nghi ngờ, ra vẻ ngạc nhiên, thắc mắc. Lật tới lật lui chồng hồ sơ để trên bàn, rồi bất chợt bà quay qua hỏi tôi:

     - Mày chịu đi bỏ báo không? Không đi làm được buổi sáng, không đi làm được buổi chiều thì đi làm buổi tối...

     Tôi cầm giấy giới thiệu của trường đi xuống trung tâm phát hành báo, news-paper circulation, của tờ Omaha World Herald. Người này chuyền tay người kia, đưa tôi qua mấy nẻo hành lang, tới mấy văn phòng, và sau mấy lần ngồi chờ đợi tôi mới gặp được "người cần người." Ðúng là tay bắt mặt mừng:

     - Vô đây, vô đây. Chừng nào mày đi làm được?

     - Bất cứ lúc nào.

     - Tốt lắm, ngồi xuống đây, để tao nói sơ về cái round của mày... Ðây, bản đồ đây. Cái round của mày dễ lắm, chỉ phân phối vòng vòng khu đại học mà thôi. Khu này, mày rành quá rồi. 160 tờ, mười xu một tờ, 16 đồng một ngày, mày làm chủ lấy mày. Không có gì khó hết. Ngày mai mày đi theo tao, tao sẽ chỉ cho. Mày biết tiệm Seven Eleven ở góc đường 52 và đường Leavenworth không? Tao gặp mày ở chỗ đó. Lúc hai giờ, AM.

     - Hai giờ sáng?

     - Ừ, từ hai giờ sáng đến sáu giờ sáng. Bốn tiếng là vừa.

     Tôi bật ngửa. Nhưng, cần tiền thì cứ phải làm. Không làm không tiền, không tiền không sống, không sống không học, không học thì ước vọng của mình sẽ tiêu tan. Phải cố gắng hơn nữa, hơn nữa, và tôi cúi đầu chấp nhận công việc mới, công việc thứ ba trong vòng một tháng.

     Canh một anh tỉnh giấc mộng vàng, tìm ông nhà báo thở than đôi lời, canh hai vật đổi sao dời, tính sao ông tính cũng một đời kiếm cơm ... Ðúng là cái nghề thức giấc canh khuya. Một giờ rưỡi tôi đã dậy, vừa đánh răng, vừa mặc đồ, vừa chạy. Anh Phúc thế nào cũng giật mình, nhưng chắc anh nghĩ là tôi học bài khuya, chớ làm gì biết tôi đi bỏ báo. Mắt nhắm mắt mở mà tôi cũng lái xe đến đúng giờ, đúng chỗ hẹn. Bill, ông thượng sĩ già không quân đã từng qua Việt Nam thời 67-68, đã tới trước tôi một chút. Ổng bảo tôi ra ngồi băng sau xem ổng làm việc, băng trước dành cho hai chồng báo cao đến cổ. Tay phải có nhiệm vụ xếp báo, cuộn tròn tờ báo. Tay trái tròng sợi dây thung và quăng báo, hai bên, trái phải. Một bên bắn trực xạ, một bên bắn vòng cầu. Việc lái xe thì hai tay san sẻ cho nhau, buông tay này bắt tay kia. Tôi bắt đầu tập cuộn báo, ràng dây thung.

     - Nhớ căn nhà gạch có hai cây to trước cửa này, phải liệng vô tận trong hành lang. Ông già hưu trí này không thích đi ra xa. Ổng hay phàn nàn về việc này dữ lắm.

     Tôi để mắt thâu hình căn nhà trong bóng đêm.

     - Bữa nay không có insert. Mày biết insert là gì không? Là quảng cáo của Sears, của JC Penny, của K.mart, của mấy tiệm bán thực phẩm. Mỗi insert mày được thêm một xu... Ðến ngã tư đèn xanh đèn đỏ này thì quẹo trái, thảy vô căn nhà thứ ba bên trái...

     - Xong quẹo mặt ra đường Center. Thấy cái nghĩa địa không? Thảy trước cổng sắt này hai tờ, cứ cuộn thành một cuộn.

     - Rồi tới tiệm Thrifty Neckel, năm tờ. Càng nhiều tờ càng có lợi cho mày. Ðỡ mất thì giờ.

     - Xong rồi tạt qua trái. Con đường này có năm chỗ. Thứ nhất là căn nhà có double garage.

     - Cái thứ hai có cái đèn đêm trước sân...

     - Cái thứ ba...

     Tôi bắt đầu quên lần, quên lần mấy đoạn trước. Ghét, không thèm để ý ông Bill nói cái gì nữa, làm sao mà nhớ hết 160 chỗ cho được. Ðã vậy, ban đêm, nhìn nhà nào cũng giống nhà nào, bên mình nhà lá giống nhà ngói thì bên này nhà gạch cũng giống nhà cây.

     - Tới đây mày phải xuống xe, đi vô cái chung cư này, có bảy căn. Ði, đi theo tao.

     Tôi bước xuống xe, vọt miệng nói:

     - Ê, Bill, tao thấy tao chỉ có short memory thôi.

     - Mày đừng có lo, rồi mày sẽ nhớ. Tao già đây mà tao còn nhớ, huống hồ còn trẻ như mầy. Tao bảo đảm mày tập khoảng hai tuần là được.

     Ông Bill cứ tiếp tục tả cảnh, tả tình những điểm làm dấu mà ông đã thuộc lòng. Tôi nhướng mắt hết lên, duỗi chân, tụt xuống, gác đầu vào thành ghế định làm một giấc. Mà cũng không yên, đường khuya vắng người, vắng xe, ông Bill chạy cả hai lane, quẹo bên này, tạt bên kia. Người tôi theo đó mà quật qua, quật lại.

     - Mày thấy cái hàng rào cao phía trước không? Biết đó là chỗ nào không?

     - ...

     - Vòng đai của trường đua Ak-Sar-Ben. Mày biết Ak-Sar-Ben là gì không?

     - ...

     - Là chữ viết ngược của chữ Nebraska... Tới nhà bà già này thì mày phải bỏ báo vô thùng thơ. Bà ta muốn như vậy, và mình phải chiều khách hàng, phải làm đúng theo lời yêu cầu của họ. Khách hàng là number one mày biết không?

     - Không... Ô, mày nói gì?

     - Nhớ phải bỏ vô thùng thơ.

     - ...

     Trong nửa tỉnh, nửa mơ tôi không còn nghe ông Bill nói gì nữa, chắc nói một mình riết rồi cũng đã cái miệng. Xe chạy cũng còn ẹo qua ẹo lại, lúc ngừng, lúc tiến... Rồi bỗng nhiên có tiếng ồn ào xung quanh, hình như có xe chạy, có người đi... Thành phố như đang sống lại, tôi ngồi thẳng lưng, và ông Bill cũng bắt đầu lái xe cẩn thận. Mặt trời mọc. Những tia nắng đầu ngày chiếu vào mặt làm mắt tôi cay cay. Lúc ông Bill quành xe trở về tiệm Seven Eleven, nhìn đồng hồ, tôi chỉ còn 10 phút, đủ thì giờ để chạy nhanh đến trường cho kịp lớp sáng. Ông Bill không quên dặn dò tôi:

     - Nhớ chiều về đi ngủ sớm. Sáng mai gặp lại mày.

     Tôi thực tập ba đêm liên tiếp thì đến cuối tuần. Tới ngày phải về South Dakota thăm nhà. Rồi thời gian vút bay đi, đầu tuần lại đến, lại xuống Omaha. Nhưng lần này đặc biệt hơn, tôi có đem theo cái cassette của mấy đứa con tôi để thâu lộ trình. Ðúng là diệu kế, ông Bill cười, chịu thôi, không hiểu tôi nói gì trong đó. Thêm một lần thực tập nữa thì tôi bắt đầu lái xe, và cho ông Bill ngồi phía sau. Nghe lại tiếng mình trong băng như tiếng người bịnh hoạn, nghẹt mũi, cảm cúm vì thức đêm. Thỉnh thoảng có tiếng chửi thề, vài lời phát ngôn bừa bãi không biết vì ai cho ai, nhưng rất có hiệu quả để làm dấu một ngôi nhà khó tìm, khó nhớ.

     Ðêm xuất hành một mình lần đầu tiên tôi bỏ sót ba chỗ. Tôi biết chắc như vậy. Vì mỗi ngày tôi có bốn tờ báo dư, trừ hai tờ tôi quăng lên nóc nhà thì phải còn lại hai, nhưng tôi còn đến năm. Thế nào ông Bill cũng gọi. Ði bỏ báo bù là nhiệm vụ của ổng, lẽ dĩ nhiên ổng không thích lắm. Quả thật, trưa tôi đi học về là có điện thoại. Nghe tiếng ổng là tôi vào đề ngay:

     - Tao miss ba nhà phải không?

     - Có một thôi, không tệ lắm. Có một người gọi, họ gọi thì tao mới đem báo, không gọi thì xin miễn... À, chiều nay nhớ ghé văn phòng đặng tao đưa hồ sơ, giấy tờ cho mày nghen.

     - ... còn cái cửa sổ thì sao?

     - Bể kiếng hả? Nhà nào?

     - Không nhớ rõ lắm, hình như trên đường bảy mươi. Ai trả đây?

     - Mày khỏi lo. Mình có bảo hiểm.

     Tôi thở phào nhẹ nhõm...

     Nghề bỏ báo là nghề mua báo bán báo, mua đi bán lại. Báo trong thùng hai mươi lăm xu, báo bỏ dài hạn tận nhà lại rẻ hơn, hai chục xu. Mình bán ra hai chục xu nhưng mua vô chỉ mười xu. Một lời một. Nếu không tính tiền xăng, tiền dây thung cho những ngày nắng, tiền bọc nylon cho những ngày mưa. Và tiền công phải bỏ ra đi đòi nợ. Người mua báo thường thường trả tiền trật vuột lắm. Họ đâu nhớ ngày nào họ mua, ngày nào tiền hết hạn. Ba tháng một lần, gửi giấy nợ kèm theo báo, gọi điện thoại nhắc chừng. Rồi đôi khi phải đích thân tới nhà gõ cửa:

     - Tao là paper-boy của mày. Tao tới lấy tiền báo...

     Tôi theo đuổi cái nghề vạc ăn đêm này thấm thoát đã hơn ba tháng, gần hết fall semester. Trời về đông càng ngày càng lạnh. Gió về khuya càng ngày càng buốt. Tôi bỗng nhớ đến bài Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh trong Ðôi Bạn. Gió nữa lên, lạy trời gió nữa lên. Mỗi lần tôi quăng một tờ báo là mỗi lần tôi thấy thằng nỡm nhặt một lá bàng! Thằng nỡm? Thằng nỡm còn dở, thằng nỡm đâu có biết mùa đông Omaha tuyết rơi trơn trợt như thế nào.

     Dạo này tôi với anh Phúc như mặt trời, mặt trăng, ít khi gặp nhau lâu, ít khi nhậu với nhau một hai lon bia như lúc trước. Tại vì lúc tôi nhận đi bỏ báo, thì ảnh không còn cắt thịt bò nữa, mà lại đi rửa hãng thịt bò, ca đêm. Hãng thịt bò đang hồi xuống dốc, lay-off nhân viên dài dài, may là anh còn được công việc này thay thế ngay, bằng không cũng đã đi xin trợ cấp thất nghiệp rồi. Rửa hãng thịt bò phải mang giày ủng cao đến háng, loại giày của mấy người đi câu suối, câu cá trout. Nước nóng pha lẫn máu bò nhiều chỗ ngập tới đầu gối. Thấy bắt ớn, về nhà hết muốn ăn cơm, anh than như vậy. Giờ tôi ngủ là giờ ảnh đi làm, giờ tôi đi bỏ báo là lúc anh sắp sửa mò về. Cuối tuần tôi lại về thăm nhà.

     Tuy ít tâm sự, hàn huyên nhưng giữa anh Phúc và tôi cũng có cái tình, tình đồng hương, tình tương thân tương trợ. Cái tình đơn sơ này tưởng được bền lâu, ai ngờ nó cũng chết yểu. Vì em của anh Phúc, thằng Linh, mấy năm theo bạn bè bụi đời ở miền Oregon bỗng nhiên trồi trở về Omaha. Tôi đã đóng đô ở phòng khách, nên Linh chỉ còn cách thảy tấm nệm xuống sàn nhà bếp mà làm chỗ ngủ.

     Lúc đầu tôi thấy Linh ít nói, hình như nó đang có tâm sự buồn, tâm sự chán nản của một kẻ "nam nhi thất chí" thì đúng hơn. Nhưng vài tuần sau, sau khi lang thang tìm việc khắp nơi không được một việc gì, thì nó bắt đầu cay cú, cứ hay nói đổng nhiều câu dạy đời, nhưng không hẳn tự dạy đời. Nói một mình mà chạm vào đầu anh Phúc. Dần dần Anh Phúc không chịu nổi cái triết lý tầm phào của ông em, cái triết lý mà anh Phúc bảo là ngược đời, là ngu xuẩn thì hai anh em bắt đầu gây gỗ liên miên:

     - Tao thấy tiếc rẻ cho tuổi trẻ của mày, cuộc đời của mày. Học không ra học, làm chẳng ra làm. Qua đây mấy năm rồi mà không bằng người ta mới tới.

     - Thì anh đã đi làm rồi đó. Coi anh có hơn người nào mới tới không. Hay anh chỉ biết có đi rửa hãng bò mà thôi. Anh chỉ có cái nhìn thiển cận.

     Cãi qua cãi lại cũng có bao nhiêu đó: đi học đi làm, tuổi già tuổi trẻ, qua lâu với mới qua, nhìn xa nhìn gần. Một người anh muốn biến cải ông em, và một ông em thất nghiệp, nghĩ quẩn. Rồi một hôm, sau màn cãi nhau dữ dội, anh Phúc quyết định:

     - Ðược rồi. Ðầu tháng này tao dọn đi chỗ khác. Tao để cái apartment này cho mày ở. Coi thử mày tài khôn tới đâu. Coi thử mày có lo nổi cái bản thân hèn mọn của mày hay không cái đã.

     Anh Phúc đâu có nghĩ rằng anh nói như vậy, làm như vậy là đụng chạm tới tôi. Tôi cũng phải lo cho thân tôi nữa rồi. Tôi đã giảng hòa cho hai anh em nhiều lần nên tôi có kinh nghiệm. Vì có kinh nghiệm nên tôi biết chuyến này anh Phúc nói thiệt, làm thiệt.

     Tôi thiên đô về Bellevue, một thành phố nhỏ tiếp giáp phía nam Omaha, cách Omaha chừng mười lăm dặm. Ở với ông Bill, ông chủ báo của tôi. Tám chục đồng một tháng, ăn và ở, room and board. Hai vợ chồng già và ba cô con gái ở tuổi cặp kê. Tối ngày rậm rật, boy friend rần trời, cãi lộn như giặc chòm. Cũng may tôi được ở tầng trên với hai ông bà, còn ba nàng thì dồn tuốt xuống basement cho đỡ ồn, đỡ dội. Có lần tôi làm một bữa cơm chiên Dương Châu cho cả nhà ăn. Hột gà chiên, ham chiên, hotdog chiên trộn lộn với cơm và xì dầu mà ai cũng khen ngon, làm tôi tưởng mình là cựu đầu bếp nhà hàng Ðồng Khánh, cựu đầu bếp toàn quyền Ðông Dương, chớ đâu phải cựu đầu bếp Long John Silver. Gần hết tháng đầu thì ông Bill cho biết:

     - Tao rất tiếc phải nói với mày điều này, nhưng tao phải nói, tao phải lấy mày một trăm hai chục một tháng, bắt đầu tháng tới.

     Không lẽ ông này muốn đuổi mình đi? Tám chục một tháng cũng là gồng mình rồi, một trăm hai chục thì còn đâu tiền đổ xăng. Tôi nghĩ chắc là tôi phải đi, và tôi cũng nghĩ đây là dịp tốt cho tôi đổi nghề. Ðang giữa semester thứ hai, tôi chỉ đi học buổi sáng, tội gì làm cái nghề bỏ báo này hoài. Tôi trả lời:

     - OK. Ðể tao suy nghĩ rồi tao sẽ cho mày biết ngay...

     Bổn cũ soạn lại, tôi lật cuốn điện thoại lần thứ hai. Nhưng, tôi bắt đầu phân vân với những nhân vật họ Nguyễn của tôi. Không thèm kêu họ Nguyễn nữa, kêu họ Phan, họ của vợ tôi... Ô hay, Phan..., có Phan, Ban V. Rev nữa. Phan mục sư thì dễ nói chuyện rồi. Con chiên tôi bỗng nhiên như tìm được đạo. Chiều ngày đó tôi có hẹn, mò tới thăm ông Phan. Nhà ở khỏi trả tiền mướn mà lớn như dinh ông tướng. Tôi thoáng thấy trong nhà thấp thoáng bóng dáng con gái lớn, thì biết là việc ăn nhờ ở đậu tại đây không xong rồi. Nhà Mỹ, con gái Mỹ thì không sao, chớ nhà Việt Nam, con gái Việt Nam thì dễ bị tiếng đời dị nghị. Rồi ông hứa sẽ giới thiệu cho tôi thằng Jeff, nhân viên xã hội thuộc cơ quan CWS, Church World Services, đã giúp đỡ dân tỵ nạn ở vùng này rất nhiều. Ừa, sao mình dốt tính, không nghĩ đến chuyện nhờ vả những cơ quan từ thiện này ngay từ lúc mới xuống đây? Lẹ thiệt, qua ngày hôm sau thằng Jeff, tuổi độ 30, đến tìm tôi, phỏng vấn tôi đủ điều.

     Tôi dời đô một lần nữa, xuống cái basement ẩm mốc ở nhà thằng Jeff. Basement chỉ cho phép đi xuống đi lên chứ không được đi vô đi ra. Lần này, basement and board ba chục đồng một tháng. Thằng này nó muốn cứu độ mình đây, hay là nó muốn claim mình là dependent để lấy thuế về nhiều hơn một chút cũng không biết chừng. Cái basement thiếu hơi người lâu ngày trở thành hôi hám như ổ chuột. Mất cả buổi trời mới xếp được đồ đạc chẳng ai xài sang một bên, nhường chỗ cho một khoảng trống kê được một cái giường, một cái bàn. Hốt rác, hút bụi, xịt lysol khắp nơi, mà cũng không hết mùi hôi. Dễ thở về mặt tiền bạc, mà ngộp thở về mặt không khí. Chờ lúc hai vợ chồng thằng Jeff vắng nhà, tôi cạy tấm ván ép, phá lớp cách nhiệt, toàn là than cục bên trong, mới mở được cái cửa sổ. Một cái lỗ tò vò. Chõi được tấm bửng sắt lên mới thấy cỏ, thấy cây..., thấy gió mát thổi ngang tầm mắt. Thoải mái quá chừng. Nhưng, con Linda, vợ thằng Jeff, về, nó thấy, nó sợ quá bèn la oải oải:

     - Rắn. Không được đâu, mở trống như vầy là rắn bò vô nhà...

     Tôi phải trấn an nó:

     - Hê, tao nằm ở đây, rồng còn không dám vô nói gì đến rắn.

     Rồi sợ nó giận, nó đuổi cổ mình đi thì càng mang họa, tôi tiếp ngay:

     - Tao nói giỡn chơi. Ðể rồi tao sẽ gắn thêm một lớp cửa lưới. Mày đừng có bận tâm đến vấn đề này.

     Tôi sống với cái lỗ thông hơi này như con cá mắc cạn, lâu lâu phải trồi lên mặt nước hớp hớp khí trời. Tuy nhiên tình cảnh nào cũng có cái hay, cái đẹp của nó. Con cá mắc cạn, với tôi, đẹp nhất có lẽ là mấy đêm học khuya. Nhìn ra ngoài, thấy cảnh đời hiện diện dưới đèn đêm, trong sương mù mờ ảo. Rồi thấy cuộc đời mình cũng mờ ảo theo. Thấy thèm một mối tình liêu trai. Tiếc là xứ Mỹ này coi rộng mênh mông như vậy, nhưng mà không còn đất cho mình dụng võ. Rồi những đêm mưa. Tốc tốc..., mưa rơi, trên tấm bửng sắt, từng giọt, tốc tốc..., nhỏ vào hồn, cô đơn, vắng lặng.

     Từ lúc rơi xuống basement của thằng Jeff, là tôi biết, đời sống của tôi đã được buộc dây an toàn. Mình xuống sâu mút chỉ rồi thì đâu còn lún đi đâu được nữa. Số phận của tôi hẩm hiu như vậy mà rồi cũng có bạn đồng hành. Vài tháng sau, thằng Jeff lôi thằng Xu, không biết từ đầu đường xó chợ nào, về nhập bọn với tôi. Lần này phải vứt bỏ một mớ đồ đạc mới tìm được chỗ trống. Rồi quét dọn, hút bụi, xịt lysol. Thêm một cái giường, một cái bàn. Tội nghiệp ông bạn đời trẻ tuổi của tôi, 18, bấy giờ một mình một thân, không cha mẹ, không anh em, không bà con thân thuộc. Nhưng, không biết chữ, không biết mặt vần ABC mới là điều đáng buồn, đáng thương. "Danh ca," "danh ca" thứ thiệt, "danh ca" ở