Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Truyện Dài: Một Ðời Ðể Học
Nguyễn Tấn Hưng
Làng Văn xuất bản 1988
Mục Lục
00. Tựa của Mai Thảo
01. Một Thời Xa Xưa
02. Học Trò Quê Bên Ngưỡng Cửa Tình Yêu
03. Trong Miền Quá Khứ
04. Vào Lính
05. Ðệ Nhứt Thập Bát Ðao Phủ Thủ
06. Sợi Dây Ðịnh Mệnh
07. Bước Ðầu
08. Chiếc Ðũa Thần
09. Ngăn Sông Cách Núi
10. Nghiệp Dĩ
11. Một Ðời Ðể Học
12. Ðài VOA điểm sách Một Ðời Ðể Học
back to top
00. TỰA CỦA MAI THẢO
MAI THẢO
Từ thành phố Winston-Salem, một cùng
đáy khuất lánh của tiểu bang North Carolina tôi
chưa tới lần nào nhưng hình dung được
sự cách biệt bằn bặt với mọi sinh hoạt chỉ
có ở những vùng tập trung lớn, có một bàn
viết từ nhiều năm trên quê người đã
dựng. Dựng lại. Có một nhà văn thoạt
tới Hoa Kỳ và trong lữ thứ đã viết. Viết
lại. Cõi viết ấy nối tiếp với một khởi
đầu đã có, rất tốt đẹp, ở quê
nhà, chỉ bị gián đoạn bởi đại họa
và đổi đời xẩy ra trên đất nước,
đánh dấu nơi thân thế nhà văn bằng một
giã từ vĩnh viễn những năm tháng lộng gió
trên nghìn trùng sóng nước, bởi nhà văn
ấy, trong quá khứ và trên suốt chiều dài
cuộc chiến còn là một sĩ quan của Hải quân
Việt Nam. Tôi muốn nói tới Nguyễn Tấn Hưng,
cái bàn viết đã được dựng lại,
tức khắc và trong một quyết tâm văn
chương không lay chuyển không đổi
rời của Nguyễn Tấn Hưng,
ở Winston-Salem. Với hai tác phẩm mới hoàn
thành là truyện dài MỘT ÐỜI ÐỂ
HỌC và tập truyện MỘT CHUYẾN RA
KHƠI mà vào tập thân ái này muốn
giới thiệu cùng bạn đọc.
Với California nơi tôi đang sống và như ở
trên đã nói, North Carolina là một địa chỉ
xa vời. Do vậy, tôi và Nguyễn Tấn Hưng vẫn
chỉ có thư từ và điện thoại. Nhưng
rút ngắn lại những đường đất và nối
liền lại những xa cách, văn chương vẫn có
được cho nó và cho người cái hiệu lực
tuyệt vời như thế, và trên điểm này
Nguyễn Tấn Hưng chưa gặp với tôi đã
rất gần rất thân. Lại từ lâu kia. Nhà
văn hải quân này, giữa hai lần về bến
đã có truyện ngắn hay đăng trên Văn và
đã nhiều lần tới thăm báo quán ở
đường Phạm Ngũ Lão. Vượt biển, đi
ra khỏi nước, gặp lại Văn tục bản ở
Hoa Kỳ, qua một hợp tác viết và một kỷ
niệm viết thân tình đã có với Văn từ
quá khứ, Nguyễn Tấn Hưng đã gửi cho tôi
gần như toàn bộ, toàn tập những bản thảo
đã viết, mới viết của ông. Như gửi cho
một diễn đàn bạn. Và đáp lại, qua
những truyện ngắn của ông, lần lượt,
đều đặn giới thiệu trên Văn, tạp chí
đã dành cho Nguyễn Tấn Hưng một phần
đất và một có mặt cũng thân tình như
thế.
Ðọc hết MỘT CHUYẾN RA KHƠI,
đọc tiếp tới MỘT ÐỜI ÐỂ
HỌC, tôi thấy được những gì? Thấy
được mấy điều tôi cùng yêu
mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn Tấn
Hưng đối với văn chương, ở phía có
văn chương. Ðó là hình thái của một
gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có
nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời bền
vững. Ở được với văn chương như
vậy đã là một ở đẹp. Ðẹp và
đầy. Cái ở không nửa đường đứt
gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách
khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi
cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn Tấn Hưng
thành một thống nhất và một liên tục viết
trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu
thân thế người thì đã không biết bao
nhiêu thăng trầm và đổi thay.
Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt
nghĩa tại sao, viết lại ngay cùng với bắt
đầu lại đời sống trên quê người và
viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ
Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong
hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết
Nguyễn Tấn Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ
lưỡng vô chừng. Và như thế với chính
ông trước đã. Sáu năm tục bản Văn
tôi đã gặp nhiều truyện ngắn thật
hay. Nhưng ở một số, vẫn tiếc là nếu tác
giả viết xong còn chịu khó đọc lại truyện
mình, sửa chữa, một lần, nhiều lần, tới
chuốt lọc văn thể và hoàn chỉnh bút pháp,
như kỹ luật ấy bao giờ cũng có ở những
nhà văn lớn, thì truyện đã hay còn
được hay hơn gấp bội. Nên thường
khuyên các anh em viết mới đừng bao giờ bằng
lòng ngay với bản viết lần đầu. Mà
đọc lại, sửa lại, viết lại nếu cần,
châu đáo, từng giòng từng đoạn. Nguyễn
Tấn Hưng không bao giờ phải nhận ở tôi lời
khuyên ấy. Những bản thảo ông gửi đi,
đánh máy rất đẹp, trang nào cũng hoàn
chỉnh như một trang sách đã in cho thấy tính
chất chung quyết của bản văn sau khi đọc lại
nhiều lần, sửa chữa nhiều lần. Vậy mà
còn có những truyện tôi nhận được rồi,
vài tuần sau lại nhận được thêm bản
mới, yêu cầu hủy bỏ bản cũ vì một
đầu truyện, một cuối truyện vẫn thấy là
chưa được và đã viết lại, có truyện
so hai bản viết với nhau là một viết lại hoàn
toàn. Tôi rất ưng ý về nổ lực không
ngừng đạt tới hoàn chỉnh ấy của Nguyễn
Tấn Hưng. Thấy đó là một phong cách nhà
văn.
Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều
yêu mến trước, là mặc dầu đã mười
mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ
dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam
đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng,
bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ
thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng
hướng đúng tầm với giống nòi và
đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa,
chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi
khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời
nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một
trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn
Tấn Hưng đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như
vậy. Nói một Việt Nam toàn phần, trong tâm trong
hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở
vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một
hình ảnh của đại dương, trên đó có
đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn
Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu
đêm tối và giông bão, dẫu phương
hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận,
hải trình ấy vẫn từ một bến đậu và
trở về bến đậu.
Những người dân lành của một vùng biển
mặn và những kinh động từng lúc của chiến
thời dài thẳm trong
Giòng Sông Của
Tùng
. Người lính trẻ, cái khuôn mặt
diễm lệ tan nát của tình yêu, giữa những vui
buồn đầu đời làm thành kỷ niệm, làm
thành vốn sống, trong
Thành Phố Và Quân
Trường
. Những hình ảnh, những cảnh
tượng khác của cuộc chiến tới một thời
kỳ đã kín trùm thân thế, lửa đạn,
cái chết và tuyến đầu đỏ lửa bên
cạnh điếu thuốc lá và chai rượu mạnh
của đời sống thường nhật, trong
Mùa
Ðông Và Con Ðường
. Mưa, gió, những
con đường lầy lội, sự buốt lạnh của
trời đất hợp nhập với sự buốt lạnh của
lòng người trong
Chỗ Hẹn
. Ðịa danh
những hải trình, bến bờ những giòng sông trong
Bến Cạn
, trong
Hạm Trưởng Và
Ngọc
. Tôi vừa dẫn chứng một số truyện
trong MỘT CHUYẾN RA KHƠI. Rồi tới toàn
thể những tháng năm, những chặng đoạn
đã trải qua và kể lại trong MỘT ÐỜI
ÐỂ HỌC. Ðể chứng về cái bến
đậu một đời không rời bỏ của Nguyễn
Tấn Hưng, với một bàn viết dựng ở đâu
thì cũng là phần đất quê hương, với
một hướng viết hướng tới hướng nào
thì cũng từ một tâm thể Việt Nam mà viết.
Ðiều muốn nói cuối chót với vào tập:
trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng lấp lánh, thật
tốt. Chưa lọt, chưa trùng. Ở từng cái
nhỏ, ở từng chi tiết. Nhưng để tới
được một thể hiện trong sáng và tốt
đẹp ở văn chương, nó còn thiếu cho nó
một xếp đặt tinh tế, một gạn lọc cần
thiết. Một khoảng cách nữa, để thấy rõ
hơn và lớn rộng hơn, từng đối
tượng. Bởi chưa nên ở nhiều đoạn,
nhiều khúc là những rối rắm, những chen lẫn
không ăn nhập của một trí nhớ quá chồng
chất, thêm vào là những ngắt đoạn, chuyển
đoạn, đảo lộn trật tự thời gian sử dụng
hơi nhiều, khiến người đọc khó theo dõi,
khó tiếp nhận, và không phân nhận được
đâu là những phần chính yếu tác giả
muốn dừng lại và những phần thứ yếu muốn
chỉ lướt nhanh qua.
Khuyết điểm nhỏ này chỉ là một khuyết
điểm kỹ thuật, rất khó tránh ở các tác
phẩm đầu. Và cũng rất dễ khắc phục,
nhất là với Nguyễn Tấn Hưng mà mối quan tâm
hàng đầu là tạo cho văn thể mình càng
ngày càng tới được vững vàng và hoàn
chỉnh. Như chính ông đã nói với tôi
nhiều lần. Văn chương đã ra khơi
rồi. Thân ái chúc Nguyễn Tấn Hưng còn
đưa nó tới được thật nhiều những
bến bờ tốt đẹp.
back to top
01. MỘT THỜI XA XƯA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ngày Hùng sinh ra là ngày chiến tranh chấm
dứt. Hùng ra đời như một vì cứu
tinh của nhân loại. Hùng hay đùa với
mình như vậy. Thật ra cũng có chút trùng
hợp vì Hùng sinh vào năm cuối cùng của
thế chiến thứ hai. Rõ hơn, Hùng sinh nhằm
ngày "chiến thắng Âu châu," ngày Hitler đầu
hàng Ðồng Minh. Mặc dù mãi sau này Hùng
mới biết, nhưng thời đó, thời Hùng mới
lớn, miền nam Việt Nam còn chia làm hai mươi
mốt tỉnh, đẹp như một bài thơ làm
Hùng dễ nhớ:
Gia Châu Hà Rạch Trà
Sa Bến Long Tân Sóc
Thủ Tây Biên Mỹ Bà
Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc, Cấp
Gia Ðịnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá,
Trà Vinh. Sa Ðéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An,
Sóc Trăng. Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên
Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịa. Chợ Lớn, Vĩnh Long,
Gò Công, Cần Thơ, Bạc Liêu. Và Cấp tức
Vũng Tàu. Sau này, mấy ai biết có bao nhiêu
tỉnh ở miền Nam. Nhiều tỉnh đổi thành
quận, nhiều quận đổi thành tỉnh, nhiều
tỉnh bị đổi tên xóa tên trên bản
đồ và cũng có nhiều tỉnh mới mọc lên.
Thoạt đầu nghe không hợp tai, Thủ Dầu Một
ra Bình Dương, Bến Tre ra Kiến Hòa, Mỹ Tho ra
Ðịnh Tường... nhưng nghe riết rồi cũng
quen. Mấy lần đóng quân miệt Trà Cú,
Ðức Hòa, Ðức Huệ, Hùng có dịp chọc
mấy thằng bạn bản xứ:
- Hậu Nghĩa, Kiến Tường... cái tỉnh sanh sau
đẻ muộn của tụi mày có cái tên mới
nghe đã thấy bần cố nông rồi, làm sao mà
so sánh với những tỉnh có bốn ngàn năm
văn hiến như Mỹ Tho, Cần Thơ của tụi tao
được.
Mà thiệt tình, tỉnh Mỹ Tho của Hùng xưa nay
vẫn là một tỉnh có tiếng và cũng là
tỉnh duy nhất ở miền đồng bằng có
đường rầy xe lửa đi Sài Gòn. Có cái
hay ở chỗ đó mà rồi cũng bị nhà Ngô
gỡ đi.
Di tích cổ nhứt của Mỹ Tho có lẽ là chùa
Vĩnh Tràng, một công trình kiến trúc
được xây cất vào khoảng 1840-1842, thời Thiệu
Trị. Những khu khác như khu Vườn Lài, chợ
Cũ, bến Tắm Ngựa, chùa Chà Và, cầu Quay,
bến đò ty công an, chùa Phật Ân, nhà thờ
Lớn, Bắt-tam-băng, đài chiến sĩ, lò heo,
cây xăng, cầu Bắc, đất thánh Tây, bót
số tám, bến xe Mới, bến xe Cũ, Vòng Nhỏ,
Vòng Lớn... cũng đâu có gì đặc biệt.
Họa chăng là hai cái giếng nước. Ðúng
vậy, không có thành phố nào ở miền Nam mà
có một giếng lớn như vậy. Mà tại sao
không gọi là hồ như hồ Chung Thủy bên Bến
Tre chẳng hạn. Hồ nghe lớn hơn giếng nhưng
đằng này giếng lớn hơn hồ, trường hợp
ngoại lệ. Giếng chắc cũng lâu đời, có
lẽ được đào lúc tỉnh mới thành lập,
thời Tả quân Lê văn Duyệt xây thành
Ðịnh Tường, thành Nam Vang.
Giếng chứa nước ngọt cho cả thành phố trong
mùa gió nam vì nước biển ngược dòng Cửu
Long len lỏi vào tận đây. Mùa nước ngọt
chẳng ai thèm để ý, qua mùa nước mặn mới
thấy mực nước giếng thấp dần. Khoảng
mười năm giếng được tu bổ sửa sang một
lần. Nước được bơm ra và giếng
được phơi khô. Một màn bắt cá, mò
ốc gạo, nghêu, sò... rồi mới tới công tác
đào giếng, đào sâu thêm để chứa thêm
nước. Giếng trở thành một mỏ lộ thiên
và công nhân làm đất nhung nhúc như bầy
kiến. Ðào một hai thước mà mất đôi
ba tháng, xong, xả nước vô, đôi ba tháng
sau nước vẫn còn hôi mùi bùn, vị chi phải
mất nửa năm giếng mới trở lại tình trạng
bình thường...
Dân chúng sống xung quanh giếng được quyền
xài nước giếng nhưng không được tắm
giếng, cảnh sát bắt. Ngoại trừ đám học
trò, nhứt quỉ nhì ma, đã mang danh là hàng
thứ ba thì mặc dù cảnh sát có rượt, học
trò có chạy, lâu lâu cũng phải tắm giếng
trưa trước khi đi học hay cũng tắm giếng
chiều trước khi đi phố. Và nói đến
học trò thì phải kể đến trường trung
học Nguyễn Ðình Chiểu, cũng lâu đời, có
lẽ chỉ sau trường Bưởi ở Hà Nội và
trường Pétrus Ký ở Sài Gòn về phương
diện thâm niên.
Tỉnh Mỹ Tho có năm quận: Cái Bè, Cai Lậy,
Châu Thành, Bến Tranh và Chợ Gạo. Trong năm
quận, quận Chợ Gạo có lẽ là quận nhỏ
nhứt, nghèo nhứt. Nhìn cái nhà lồng chợ
thì đủ biết, chỉ lớn bằng hai cái đình.
Năm quận nằm dọc theo sông Tiền Giang và hình
như càng xa ra biển dân cư càng nghèo. Con
gái lấy chồng về miệt gần biển này thì
bị chê, lấy chồng đi lên chứ ai lấy chồng
đi xuống. Mình lỡ sinh ra trong vùng này thì
cũng mắc tội lây,
cõng nghèo đem liệng
vô bưng, cong lưng vụt chạy ê... ê đừng
chạy theo
. Rồi cũng chạy theo. Nhưng có lẽ
nhờ cái nghèo mà học trò vùng này lại có
tiếng học giỏi... Cho đến vùng giáp ranh với
tỉnh Gò Công, vùng Hòa Ðồng, chợ Dinh mới
thấy dân cư đông đúc, đời sống trù
phú trở lại. Phần lớn bà con bên ngoại,
mấy cậu mấy dì của Hùng ở vùng này.
Ðố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Mấy người bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
Chợ Dinh đông người chen chưn như chưn rít?
Còn cầu Ô có phải là cầu đen nằm giữa
Ðồng Sơn và chợ Dinh? Cầu sơn đen, sau
này còn kêu là cầu Sập, bởi vì bị Việt
Minh giựt sập. Và tại sao bán áo con trai, bán
chỉ bán kim?
Quận Chợ Gạo được chia làm năm xã: Hòa
Ðịnh, Bình Phan, Bình Phục Nhứt, Bình Phục
Nhì và An Thạnh Thủy. Ngoại trừ xã An Thạnh
Thủy giáp ranh với tỉnh Bến Tre, còn bốn xã kia
nằm dọc theo kinh Chợ Gạo, con kinh nối liền miền
Tiền Giang và Sài Gòn qua kinh Nước Mặn miệt
Gò Công và sông Lòng Tảo miệt Vũng Tàu.
Nói đến kinh Chợ Gạo thì phải nói đến
bắc Chợ Gạo trên tỉnh lộ 21 Mỹ Tho-Gò
Công, loại bắc kéo tay, đôi khi làm trở ngại
lưu thông cho cả đường thủy lẫn
đường bộ. Mỗi lần tàu tới, phải xả
dây cáp chìm xuống đáy cho tàu qua, thắng
tàu không ăn lắm nên tàu có quyền ưu
tiên. Còi xúp-lê báo động từ đằng xa
và nhân công kéo bắc phải nhắm chừng vận
tốc của tàu mà làm việc. Nhiều lúc
ước lượng sai, phải xả dây cáp khẩn cấp
khi bắc đang ở giữa dòng, người và xe lênh
đênh trôi dạt vào bờ cả tiếng sau mới về
được bến. Mãi đến lúc sắp về
nước công binh Mỹ mới cất được cầu
Chợ Gạo. Thật là tiện lợi, xe qua cầu mặc
dầu cũng phải đóng tiền nhưng không phải
chờ đợi, tàu ghe dưới kinh qua lại cũng
không cần phải hạ cột buồm vì móng cầu
thật cao. Chỉ tội cho bến phà, bị bỏ quên,
trở thành hoang lạnh im vắng, cùng chung số phận
với hai cây cột dây thép lẻ loi buồn tẻ sừng
sững bên trời, dấu vết của Tây để lại.
Dọc hai bờ kinh Tây cũng làm lộ, lót đá ong
hoặc đá đỏ, cho xe chạy. Ðến lúc Việt
Minh nổi dậy thì lộ bị cắt, cầu bị sập
đường lớn biến thành đường mòn, rồi
nhiều đoạn mất hút trong rừng cây.
Hùng sinh ra ở xã Bình Phục Nhứt. Muốn tới
xã chỉ có hai đường, đường thủy bằng
kinh Chợ Gạo, đường bộ bằng con lộ đá
đỏ xuất phát từ tỉnh lộ 21, còn con
đường dọc theo bờ kinh thì dành riêng cho
Việt Cộng. Nếu đi đường bộ, độ
nửa chừng lộ đá đỏ, thì ai cũng ngạc
nhiên vì hai tòa nhà đồ sộ mọc lên giữa
đồng, nhà có hồ tắm trên sân thượng
có cái tục danh là lầu Cô-Tám-Cô-Chín.
Cô Tám, cô Chín có chồng Tây đã về
Tây mấy mươi đời Tây rồi, thành thử
lầu bị bỏ hoang, sụp đổ, bây giờ chỉ còn
là chỗ nghỉ chân của đám trẻ chăn trâu.
Mấy lần ba má Hùng bao xe ngựa về thăm quê trong
dịp Tết, cuối thập niên 50, Hùng cảm thấy
bùi ngùi mỗi khi đi ngang qua đây.
Không hiểu ba má Hùng di chuyển về xã Bình Phan
vào năm nào, chỉ biết rằng ông nội Hùng
muốn ba Hùng về đây lập nghiệp, nối nghiệp
ông làm nghề "trại cây." Trại cây của ba
Hùng cất tại Cầu Sắt cách chợ quận khoảng
một cây số.
Phi thương bất phú
, ông
nội Hùng nói hoài câu nói trên. Ba má
Hùng cất trại không bao lâu thì gia đình bà
cô Hùng cũng dọn theo, nhưng về chợ quận,
cất nhà mở tiệm trên miếng đất mà ba
Hùng mới sang. Coi như cho không. Không ngờ
cửa tiệm của cô Hùng phát đạt nhanh chóng
và từ từ trở thành cửa tiệm lớn nhất trong
chợ quận, lầu lên hai ba từng. Cô Hùng giàu,
nhưng đám cháu như Hùng cũng chẳng nhờ
vả được gì.
Giàu cha giàu mẹ thì ham,
giàu cô giàu chú ai làm nấy ăn
. Vả lại
cô Hùng đông con lắm, mười lăm mười
sáu đứa. Ðẻ đến đứa thứ mười
không còn đặt tên nữa, cứ kêu số,
mười, mười một, mười hai... cho đến
không biết mười mấy thì bắt đầu đặt
tên trở lại, Bích Vân, Bích Thủy.
Ba Hùng không giàu được là tại vì ông
bán chịu nhiều quá, bán chịu khắp cả làng
khắp cả quận. Tối ngày chỉ việc đi
đòi nợ cũng hết thì giờ. Rồi dần dần
bị kẹt vốn không phát triển được.
Nhiều trại cưa máy nổi lên, trại mình còn
cưa tay thì làm sao mà cạnh tranh được. Tuy
vậy chỗ làm ăn lâu cũng có cái tình, bà
con trong xã cũng còn lui tới trại của ba Hùng, cho
nên gia đình Hùng mới còn cơ hội sống.
Mỗi lần "kiến súc" từ Sài Gòn về bến
cũng vui lắm, chòm xóm đến phụ rã bè cho
cây chìm xuống sông, phải có thứ tự lớp
lang, để khỏi bị trôi. Xong việc rồi nhậu
nhẹt, tiệc tùng. Lúc kéo "súc" lên đà
để "rã tào phô," xẻ đôi, cũng vậy.
Người ta dùng dây xiềng bự cỡ cột một
đầu vào súc còn đầu kia quấn vào
bá-lăng có hai cái lỗ to để xỏ hai cây
đòn, rồi quay lên vòng vòng theo kiểu trâu
đạp rạ. Mỗi lần rã-tào-phô mà cây
đặc thì ba Hùng mừng lắm, thấy có lời,
còn cây bộng thì may ra huề vốn. Làm nghề
cây tài nghệ duy nhất là biết lựa cây, nhiều
cây bên ngoài lỗ hang vậy mà bên trong đặc
như sáp, trái lại nhiều cây bên ngoài trông
lành lặn mà bên trong dập nát cũng không
biết chừng. Cây có lỗ có hang thì mua
được rẻ nên dễ kiếm lời. Ba Hùng tính
tiền bằng bàn toán lắc cắc lẹ lắm, lẹ
hơn là làm trên giấy nhiều. Làm trên giấy
chậm là vì ông phải lẩm nhẩm cái cửu
chương chữ nho của ông mỗi lần ông viết ra
một con số. Hùng nghe riết rồi cũng thuộc
chút ít, mà nó cũng có vần...
cửu cửu
bát nhất, bát cửu thất nhì, thất cửu lục
tam, lục cửu ngũ tứ
... đâu khác gì chín
lần chín tám mốt, chín lần tám bảy hai...
Nghề cây của ba Hùng càng ngày càng xuống
dốc, bán chịu đòi chưa hết thì đến
lúc ông bắt đầu mua chịu ở Sài Gòn, mỗi
lần họ xuống đòi nợ, cơm nước đãi
đằng má Hùng mệt thở không ra hơi. Lẽ
dĩ nhiên cũng phải quơ quào đâu đó
chút đỉnh mà trả cho họ để họ vui lòng
ra về chứ đâu bao giờ trả hết một lần.
Ðó là những năm Hùng đi học sơ học,
tiểu học. Trường sơ học xéo xéo với
nhà Hùng bên kia sông, sông Tham Thu, một nhánh
sông lớn chảy vào kinh Chợ Gạo. Nói là
trường nhưng thực ra đây là một trong nhiều
nhà nghỉ mát của ông Hội đồng Lượng.
Nhà nền đúc cất theo kiểu Tây cao ráo mát
mẻ. Mỗi ngày ba Hùng phải lấy xuồng đưa
Hùng sang sông và rước Hùng về. Trong cái
cặp dán bằng giấy dầu của Hùng chỉ vỏn
vẹn có cuốn vần ABC. Qua năm sau ông Hội
đồng lấy nhà lại và Hùng đương nhiên
tốt nghiệp. Trường sơ học phải dời lên
chợ quận nhập chung với trường tiểu học.
Thực ra đây cũng là nhà của ông Huyện lấy
làm trường. Quận gì mà nghèo quá! Hùng
bắt đầu theo anh chị của Hùng chạy bộ từ
nhà đến trường mỗi ngày, một cây số
đi một cây số về. Hùng phải chạy mới
kịp người lớn đi bộ, tuy nhiên Hùng cũng
có cái cặp đệm hai ngăn như người lớn
chứ không còn ôm cặp dán bằng giấy dầu
nữa.
Ðược nửa năm thì quận có chương
trình xây cất trường mới, trả nhà cho ông
huyện. Nửa buổi đi học nửa buổi đi làm
trường, ai cũng phải đi kể cả lớp đồng
ấu. Trường được dự trù cất làm ba
dãy theo hình chữ U với hai nhà hình bát giác
ở mặt tiền làm văn phòng hiệu trưởng và
phòng họp cho thầy cô. Chỗ giao điểm của hai
lối đi hình chữ thập sẽ là sân cờ có
vườn bông. Bốn góc còn có sân tập thể
dục thể thao, sân chơi vũ cầu, bóng
chuyền... Không ngờ dự án bông hình coi
đẹp như vậy mà lại cất trên một bìa
rừng hoang vắng. Mấy lớp nhỏ như Hùng đi theo
để chơi nhiều hơn để làm nhưng cũng
là lớp trông đến giờ đi làm trường
nhiều nhất. Chặt cây phá rừng, ban gò lấp
nổng, rồi đem trâu cày lên một bận. Thấy
được miếng đất trống như thấy
được nửa đường, không bao lâu nữa sẽ
xong. Rồi đến lượt khuân đất đấp
nền, đấp đường đi. Ðất trộn với
trấu, rải trên mặt đất cho mau khô, đâu
đâu cũng thấy trấu... Công tác của học
trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn
lại dựng trường, lợp trường, cột kèo
phên vách thì do đám thợ chuyên môn lo.
Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long
trọng khánh thành, có đồng ca
này công
dân ơi đứng lên đáp lời sông
núi
... và có
ai bao năm vì sông núi quên
thân mình
... Nền trường càng ngày càng
khô, nứt nẻ càng ngày càng lớn, bàn ghế
càng gập ghềnh chổng đầu chổng gọng, vậy
mà chẳng ai phàn nàn. Mấy trường sơ học
quanh vùng lần lần đóng cửa tập trung về
trường quận, học trò càng ngày càng
đông. Giờ ra chơi có cà rem cây, có kẹo
kéo quay số, có nước đá bào si
rô... một cắc hai cắc cũng đủ xài.
Khi lớn lên, mỗi lần trở về qua mái trường
xưa cứ như còn thấy bóng dáng thầy Bảy
già, thầy Tám Chương, thầy Chín Chương,
thầy Hoàng... và cả anh Tư cà rem... Nhớ
mấy lần bị đòn, bị khẽ tay, nhớ mấy lần
chơi u đánh lộn, nhớ những đêm trăng trung
thu rước cộ đèn, có phát bánh, có
đấu xảo. Hùng nghĩ có mấy ai được
cái cơ hội tự cất trường cho mình học.
Trở lại vấn đề làm ăn, ngoài việc làm
cây ba má Hùng còn phải lo cày cấy năm mẫu
ruộng của ông nội Hùng ở dưới bờ lộ me
ông chủ Hoàng, lối duy nhất đi vào sân banh.
Qua khỏi sân banh thì đến khu rừng Cây Ðiệp,
rồi mới đến ruộng. Vùng Cây Ðiệp này
nổi tiếng là linh thiêng ma quái. Thiên hạ
đồn rằng dưới gốc cây điệp, cây to
nhứt trong vùng, là hang cọp. Quỉ hiện hồn
thành cọp nhảy ra ăn thịt người, xương
xóc đầy hang. Chưa thấy quỉ chưa thấy
cọp, nhưng thấy đây là nghĩa địa của
Việt Minh, của những người chết không chỗ
chôn. Có lần bộ đội chôn đồng bọn
ở đây cả tiểu đoàn, mười mấy đêm
liên tiếp. Mà không phải dễ chôn vì
đào đâu cũng đụng xác, lấp lại
đào nơi khác, rồi cũng lấp lại đào
nơi khác nữa, đêm qua đêm. Khu rừng
như đã được chôn năm bảy lớp
người.
Ðối với Hùng, chỉ khổ một điều
là mỗi lần ra ruộng phải đi qua những
đường mòn len lỏi trong khu rừng này, nhất
là đi ban đêm, thêm trời mưa rỉ rả.
Ngọn đèn lồng soi sáng bước chân mình
chưa đủ làm sao soi sáng cỏ cây. Tay bắt
ấn mà bụng run cầm cập. Ði đoạn giữa
thì đỡ, sợ nhất là đi sau chót. Hình
như đâu đâu cũng có oan hồn chết bắn
chết trận, chết tức tưởi... không siêu
thoát được, lẩn quẩn, quấn quít với nấm
mồ của mình trong vùi dập lãng quên.
Bờ ruộng giáp ranh với rừng, cái xa quạt dùng
để bơm nước sông vào ruộng đặt
dưới cống lại cũng hướng về phía rừng.
Mỗi lần đạp nước đêm, vừa ngó cây
nhang đốt tính giờ thay phiên vừa ngó vô
rừng tưởng mình như đang cúng vái đất
trời cho những vong hồn dật dờ kia được
siêu thăng tịnh độ. Mùi hương trầm
phảng phất không đuổi được bầy muỗi vo
ve thỉnh thoảng cắn như ong chích. Cây nhang như
dài thêm, cháy hoài không tắt. Lắm lúc
vừa đạp vừa ngủ, trật chân bị bàn
đạp đập muốn sưng ống quyển mà còn
bị anh bạn phía đầu bên kia phàn nàn:
- Ngủ gục hả, mới đạp có mấy cây
đã ngủ rồi, đạp hết bó nhang đó chưa
chắc đã xong. Bây giờ nước mới đứng,
mấy tiếng nữa mới ròng.
- Nghe nản quá, nghỉ chút đi. Vô rừng nhổ
mì về nướng ăn cái đã, đói bụng
rồi...
Ma đói đâu sợ đám ma đám quỉ không
mồ. Mì không ai trồng mà mọc đầy rừng,
ớt và ổi do chim ăn chim ỉa cũng mọc đặc
ngật trong đó.
Ba Hùng lần lần thu gọn nghề cây không làm
lớn nữa, trở về Bình Phục Nhứt xây nhà
máy xay lúa. Ông mua lại nhà máy của một
người bạn trên bến phà, gỡ ra chở về rồi
ráp lại. Lúc đầu làm ăn được lắm,
dân trong vùng không còn chở lúa qua nhà máy
Quơn Long nữa nhưng ba Hùng vẫn bận tâm về
vấn đề của một nơi người một ngả. Sau
mấy tháng đi đi về về, ông quyết định
giao cho chú Hùng quản lý rồi lâu lâu xuống
thăm một lần. Ông linh tính việc chà lúa
lấy tiền này không bền. Một đêm ông
nằm chiêm bao thấy một con sâu rọm thật to, xanh
như sâu mãng cầu, đầy lông lá không
hiểu từ đâu xuất hiện trên mặt bàn rồi
bắt đầu bò đến chân đèn, lên ngọn
đèn, tới bong bóng... bong bóng nổ tiêu
tan... Sáng ngày sau có người đến báo tin
bánh trớn nhà máy bị bể, phang vào cột nhà,
nhà sập và nhiều người bị thương.
Ðầu máy loại xưa có hai bánh trớn hai bên,
bể một cái không cân bằng không chạy
được. Hàn lại cũng không được, nó
sẽ bể nữa tiền mất tật mang. Mua cái mới
cũng không có, kiểu cũ không ai bán. Rốt
cuộc rồi ba Hùng phải bán sắt vụn cái nhà
máy đó...
Thất bại vụ nhà máy xay lúa ba Hùng đổi
nghề lần nữa, biến trại cây thành trại mộc
và trại hòm. Ông không còn đi Sài Gòn
kiến súc, bè cây bằng đường sông nữa
mà mua cây và cưa tại chỗ rồi chở về
bằng đường bộ. Trừ khi có người
đặt nguyên một cái nhà hay ít ra vài bộ
cột vài bộ đòn tay thì ba Hùng mới làm
một chuyến kha khá, bằng không đi một chuyến
nhỏ để mua cây đóng giường, bàn, tủ,
ghế, đi-văng, sóng chén... Năm bảy ông
thợ đủ làm căn trại thêm ồn ào náo
nhiệt, vui nhà vui cửa. Vài người ở xa, ăn
ngủ lại trại, năm ba ngày mới về thăm nhà
một lần. Ban đêm họ uống trà, trò chuyện,
nói chuyện tiếu lâm.
Má ơi con muốn lấy
anh thợ bào. Ảnh khom lưng ảnh đẩy cái
nào cũng sâu
. Có người ngâm thơ, thơ
Lục Vân Tiên, người thổi kèn bằng lá
cóc kèn, tiếng kèn như kèn đám ma.
Làm thợ mộc muốn phát thì phải ếm, nhứt
là mấy ông thợ cất nhà, mấy ông thợ có
bùa Lỗ Ban. Nhưng mấy ông thợ đóng
đồ mộc này cần gì phải ếm? Không ếm
không được. Không ếm thì thợ mộc cất
đầu không lên, tán gia bại sản, chết vợ
chết con, không ếm lớn phải ếm nhỏ, tổ dạy
vậy. Chính vì vậy mà lần đó ba Hùng
bị cô Ba Tỏ phàn nàn:
- Cái giường mua của anh thiệt kỳ, ngủ sáng
dậy không biết đường ra, cái cửa mùng
bên này mà cứ vạch vạch phía bên kia.
Rồi ông Năm Ðại cũng phân trần:
- Từ ngày lấy cái giường của anh về con
vợ tôi nó ngủ nó quay mặt vào vách.
Nhưng không bằng chú Chín Trâu, cự nự ba
Hùng một trận dữ tợn:
- Anh nghĩ coi nó ếm cái gì mà thằng nhỏ tui
đêm nào ngủ cũng đái dầm. Giường tui
đặt anh là giường phòng mà, nó ếm vậy
thì làm sao thằng nhỏ ăn ở với vợ con nó
được.
Không biết có đái dầm thiệt hay không nhưng
chú Chín cứ nói riết đến nỗi ba Hùng
phải đổi cho chú cái giường khác...
Ðặc biệt có ông thợ chuyên môn làm nắp
hòm, nghề của ông là đẽo cây vạt cây
với cái rìu có cánh chuồn dài hơn cán
rìu. Ðẽo làm sao cho tròn cho trơn tru cho ăn
khớp với khuôn hòm không phải chuyện dễ.
Nắp hòm đàn ông thì mô hơn nắp hòm
đàn bà cũng phải đẽo cho đúng kiểu
đúng cách. Tiền công của ông gấp đôi
mấy ông thợ kia vậy mà ông cứ đòi đi
làm chỗ khác hoài. Ba Hùng cũng bực mình
ông lắm nhưng không tìm ai thay thế ông ta
được. Ðêm nào ngoài trại hòm nghe
tiếng cây vặn mình kẽo kẹt là sáng hôm sau
có người tới mua hòm, có người qua đời.
Ðêm nào ba Hùng cũng đốt nhang ở bàn thờ
tiên sư, không hiểu ông vái cái gì, ông
có chịu vái cho dân trong làng chết hết hay
không.
Cho đến lúc má Hùng mở tiệm hàng xén thì
trại mộc trại hòm của ba Hùng cũng sắp sửa
dẹp. Lúc đầu má Hùng chỉ định bán
nước mắm dầu lửa qua ngày, nhưng rồi tiệm
càng ngày càng phát. Ba Hùng xoay qua nghề bổ
đồ và sổ sách cho vợ. Mấy mùa bán Tết
mấy năm đó cũng rầm rộ, có hoa mai, dưa
hấu, có pháo bông, lì xì... Nhưng rồi
mấy tiệm lớn mở ra ngoài đầu cầu giựt
mối, tiệm của má Hùng bị thụt vào trong
không thuận đường buôn bán. Tiệm càng
ngày càng ế, kệ càng ngày càng trống. Ông
làm không xong đến phiên bà rồi cũng thất
bại, đời người như con nước lúc lên
lúc xuống...
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê
Tiếc rẻ chiếc ghe lù mục lần trong ụ, ba Hùng
quyết định trở lại nghề cây, nhất định
lần này làm lớn. Chiếc ghe lù trông như
cái hộp dùng để bè cây, chiếc ghe chỉ
cần trọng tải mà không cần gì về hình
dáng bề ngoài. Phải xài nó trở lại. Ba
Hùng quyết định như vậy và ông đã
đợ ruộng làm vốn để mở đầu một
màn phiêu lưu mới.
Ðó cũng là năm Hùng bắt đầu xa nhà
lên tỉnh theo học ban trung học. Mỗi người
một quê hương, một thuở thiếu thời. Quê
hương và thuở thiếu thời của Hùng chỉ có
chừng đó, nhưng luôn luôn gần gũi gắn bó
với Hùng như hình với bóng. Mới đó mà
đã thành xa xưa.
back to top
02. HỌC TRÒ QUÊ BÊN NGƯỠNG CỬA TÌNH YÊU
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ai cũng biết miền Nam mưa nắng hai mùa. Ðã
vậy
mưa nghỉ, nắng ngủ, ui ui làm lai rai
.
Ðúng là cái miền làm chơi ăn thiệt.
Khác với miền Bắc khô cằn, khác với miền
Trung sỏi đá, đời sống miền Nam ôn hòa,
thịnh vượng. Dân miền Nam dư ăn dư
để... Mà có thật được như vậy hay
không? Coi vậy chớ không phải vậy, mà
đôi khi còn tệ hơn vậy, câu nói không
văn chương này lâu lâu cũng có chỗ xài.
Không dư ăn dư để gì cả. Ðó là
trường hợp của Hùng trong những năm Hùng
mới học lên ban trung học...
- Cho tụi nó đi học đi, để rồi tụi
nó về
vác giạ vay chữ hay là vác giạ vay
lúa
cho biết. Hứ, nghèo mà làm sang.
Bà con làng xóm sao hay chịu khó xì xào bàn
tán về những việc làm của thiên hạ
quá... Dẹp được cái quan niệm cổ hủ
của dân làm ruộng đâu phải dễ, mà
không hiểu vì lý do nào, ba má Hùng quyết
tình cho đám con đi học. Nói là đi học
cho sang chứ thật ra đám Hùng chẳng thua gì
đám con bị "đem bỏ chợ." Ba má Hùng vì
bận kế sinh nhai, đầu tắt mặt tối, đâu
còn thì giờ để ý đến chuyện bài
vở học hành của đám Hùng. Trời sanh
trời nuôi, thậm chí đến việc chị em Hùng
đang ở đậu nhà này hay ở trọ căn gác
kia chưa chắc ba má Hùng đã biết.
Hùng nối gót chị Kim, chị Cúc, và anh Tấn
làm bổn phận "nhà quê lên tỉnh" để đi
học. Lần đầu tiên quá giang xe đò lên
Mỹ Tho, Hùng thấy lo lo mặc dù có chị, có anh
đó. Không biết rồi sẽ làm cái gì,
ăn đâu, ngủ đâu, học trường nào.
Suốt từ nhỏ đến giờ, Hùng chưa bao giờ
rời làng, khỏi quận, chưa biết từ giã bạn
bè. Tự nhiên Hùng thấy trách nhiệm bổn
phận cho chính bản thân mình quá lớn.
Chuyện gì đến, sẽ đến. Hùng thi đậu
vào lớp tiếp liên trường Nam Tiểu học, chị
Kim, chị Cúc, và anh Tấn vẫn phải học
trường tư. Mỗi ngày học một buổi, buổi
sáng, còn buổi chiều dư thì giờ rong chơi.
Sơ mi trắng, xà lỏn đen, dép nhật. Quần
xà lỏn mà cũng bắt bỏ áo vô
quần... Trường lớn lắm, tường vôi,
vách gạch, mái ngói hẳn hòi chứ đâu có
vụ nền đất, vách ván, mái lá xập xệ
như trường cũ của Hùng. Lối ra vào có
hai hàng phượng vĩ trồng lâu năm tàn che
giáp mí. Hai đường biên đổ xi-măng
mô lên cao như hai con rồng dài thườn
thược. Cái gì trông cũng khang trang, sạch
sẽ. Bởi vậy Hùng nghĩ mình muốn học dở
cũng không được.
Căn nhà trọ đầu tiên của chị em Hùng
là nhà của ông Bảy, chỉ biết ổng thứ
bảy mà không rõ ổng tên gì. Nói là
nhà thì cũng hơi quá, thật ra đó chỉ
là một cái chòi trong hẻm cụt, cất sát
hàng rào kẽm gai của Ty canh nông. Có Ty canh
nông đó mà xóm này không được gọi
là xóm Ty Canh Nông mà bị gọi là xóm Lò
Heo mới xui. Tại vì trước cổng vô Ty canh
nông là lò heo, một Chánh Hưng của tỉnh
Mỹ Tho. Sau này ít ai kêu xóm Lò Heo tại
vì bạn hàng tự động nhóm chợ, bắt
đầu từ Cây Xăng đổ vô, trước ít
sau đông, rồi đông quá nên chính quyền
mới cất luôn chợ, thành chợ Thạnh Trị,
xóm trở thành xóm Chợ Thạnh Trị. Ông
Bảy già hưu trí rồi mà không chịu về
quê dưỡng già, còn luyến tiếc cái lò
heo. Nghề nghiệp của ông mà. Thỉnh thoảng
ông đi thăm lò heo xách về một đùm
ruột, không hẳn là ruột già mà cũng không
hẳn là ruột non. Thứ ruột gì chỉ để
chặt khúc thắng lấy mỡ mà thôi. Mấy
khúc ruột chặt khúc đó teo lại thành tép
mỡ, lớn nhỏ, ngoằn ngoèo, đủ hình đủ
dạng. Coi ghê vậy nhưng mà mấy lúc không
có gì ăn cơm, đem ra nhai cũng đỡ khổ
lắm. Hùng nghĩ ông Bảy về quê cũng
không được, sức mấy mà ông có
được miếng đất cặm dùi. Mà con
cháu của ông đâu sao chẳng thấy người
nào tới thuốc men, thăm nom?
Không hiểu ai giới thiệu chị Kim với ông Bảy,
mà tiền thuê nhà rất phải giá, gần như cho
ở không. Ông ở đằng trước có kê
một cái giường và một cái bàn. Còn
phần sau và nhà bếp ông giao hết cho đám
Hùng. Ban đêm banh ghế bố cho bốn chị em
đã không còn chỗ trống, vậy mà chị
Cúc còn lôi thêm chị Sen, bạn cùng lớp
quê bên Tân Thạch, về ở chung. Ông Bảy
có lần nói:
- Thấy mấy đứa bây là tao vui rồi. Cuối
tuần tụi bây về nhà hết tao buồn quá xá.
Tao lang thang ra Cây Xăng ngồi uống cà phê cả
buổi mà cũng chưa hết buồn.
Ngày thứ hai là ngày bận rộn nhất, mà cũng
là ngày vui nhất. Bận rộn vì phải thức
dậy sớm để đón xe đò từ quê lên
Mỹ Tho. Qua được phà Chợ Gạo coi như đi
được nửa đường, chưa qua được
thì kể như chưa đi tới đâu hết.
Xuống xe ở Mỹ Tho còn phải đón xích-lô
chở hành lý, quần áo, đồ đạc về
nhà trọ rồi vội vã thay đồ chạy đi
học. Bữa nào xui gặp ông xích lô đạp
không nổi thì chỉ biết van vái cho trời
đừng sáng vội. Ngày thứ hai là ngày
vui nhất tại vì đồ ăn đem theo còn nguyên,
còn nhiều món muốn ăn món nào thì ăn,
thịt kho, dưa giá, tép rang, khổ qua hầm... chứa
đầy trong mấy lon guigoz. Ăn nhín nhín
cỡ nào rồi mấy ngày gần cuối tuần cũng
không còn món gì để ăn.
Bởi vậy mấy chị phải trồng thêm đám rau
dọc theo hàng rào, cạnh sàn nước rửa chén.
Mồng tơi với mướp là hai thứ dễ trồng
nhất. Mồng tơi ăn riết không còn một
cái lá, chỉ còn mấy sợi giây tím tím
lăn quăn trên hàng rào. Mướp, ban đầu
ăn trái rồi đến ăn bông, xong ăn đọt,
ăn luôn lá non... Mấy bữa có canh mồng
tơi, canh mướp pha bột ngọt thì còn đỡ,
mấy bữa chỉ có "canh nước cơm" và dĩa
muối ớt thì cơm vừa dọn ra là Hùng đã
thấy no ngang. Bởi vậy anh Tấn và Hùng thỉnh
thoảng tìm đường "tẩu." Anh Tấn xuống
tụi thằng Ấu thằng Chữ, còn Hùng chạy lên
nhà thằng Kiên. Dấu diếm cách mấy rồi
lần lần bạn bè cũng biết. Nói là đi
thăm bạn bè cho có tình chứ thiệt ra là đi
ăn chực, ăn ké.
Không hiểu thằng Kiên chơi thân với Hùng
vì lý do gì, có lẽ tại Hùng học giỏi.
Nhà nó giàu quá so với Hùng nghèo rớt mồng
tơi. Nhà thằng Kiên tọa lạc ở đầu
đường Vòng Nhỏ, cạnh Cầu Sắt. Bên
ngoài nhìn vô chỉ thấy toàn cây ăn trái,
mận hồng đào, xoài rép, ổi xá lị, vú
sữa..., bao bọc bởi một hàng rào gạch có song
sắt nhọn, và hai cánh cửa sắt thật to. Nghe
nói nhà nó lúc trước có lần là trụ
sở của lực lượng Cao Ðài. Cổng là
điểm rẽ của hai con đường đá đỏ
dẫn đến hai bậc tam cấp bước lên nền
nhà, nền đúc bằng đá xanh cao khỏi
đầu. Qua một bao lơn nhỏ rồi mới đến
cửa cái. Nhà ba gian, cột căm xe tròn thiệt
bự đánh vẹc-ni đen bóng như thoa dầu hắc.
Ðồ đạc để chưng nhiều hơn để
xài bày biện khắp nơi. Ðồ cẩn xà
cừ, đồ chạm trổ, đồ cổ... Rồi tới
nhà cầu, nhà bếp, nhà ngang, nhà chứa bàn
bi-da, banh-bong. Phía sau nữa là hồ cá tiếp
giáp với một đồng cỏ bao la. Cỏ mắc
cỡ, cỏ tranh lẫn lộn với những đám cỏ
ống, cỏ chỉ. Ðó là nơi Kiên và
Hùng hay thả diều sau giờ cơm.
Ăn cơm ở nhà Kiên cũng giống như đi ăn
tiệm. Có kẻ hầu người hạ, có khai vị,
có lai-sét, có chén đựng nước chấm
riêng, có khăn lau riêng. Bởi vậy khô lân
chả phụng mà ăn không thấy ngon. Hùng thấy
mất tự nhiên trong bầu không khí trang trọng
này. Mặc dù tuổi còn nhỏ, nhưng Hùng
cũng biết nhục vì miếng ăn, nên nhiều khi
thà ăn cơm trắng với nước cơm còn
khoái hơn là đi ăn cơm chực với cá
thịt.
Cho đến lúc Kiên tặng cho Hùng những đôi
giày ba-ta nửa sạt, những đôi vớ sờn gót
thì tình bạn bắt đầu xa. Hùng không
còn chịu đựng nổi sự cách biệt giữa hai
đứa nữa. Cũng may dạo đó vào mùa
hè, mùa chia tay xảy ra đúng lúc. Cả năm
trời chơi với nhau mà Kiên không biết Hùng
ở đâu, không có dịp nào bước chân
đến xóm Lò Heo của Hùng. Dấu diếm với
bạn được như vậy cũng là khéo lắm
rồi, Hùng nghĩ.
Mùa thi năm đó Kiên và Hùng đều
đậu vô trường công, nhưng không học
chung lớp vì chọn sinh ngữ chính khác nhau.
Trường Nguyễn Ðình Chiểu lúc đó chưa
mở rộng ra tới đại lộ Hùng Vương,
cổng sau còn ngó ra đường Huỳnh Tịnh
Của nhỏ xíu. Ba dãy lầu hai từng, lợp ngói
Tây đỏ au, hình chữ U, dành cho lớp học
và một dãy trệt song song với dãy giữa làm
phòng thí nghiệm, phòng hiệu trưởng, phòng
giáo sư. Nhà của ông hiệu trưởng nằm
xa trong góc trái. Cái gì của Tây để lại
coi cũng có vẻ xa xưa, cũ kỹ.
Qua năm sau chị Kim đi Sài Gòn học và xin
được chân bán vé trường đua hai ngày
thứ bảy, chúa nhật. Thỉnh thoảng chị gửi
tiền về phụ giúp chị em Hùng còn lại
dưới tỉnh vì chị em Hùng không còn ở
nhà ông Bảy nữa, mà phải mướn nhà
khác. Ông Bảy chết, nhà sang cho người
lạ. Hùng thấy thương ông Bảy và nhớ
ngày nào ông dẫn Hùng đi thăm lò
heo. Phải nói là lò bò heo thì mới
đúng, vì đây là chỗ giết bò lẫn
heo. Bò bị đập đầu bằng búa tạ,
nhiều con xán một búa thì rồi đời, mà
nhiều con năm ba búa chưa chịu xiểng niểng. Heo
thì bị thọc huyết lũ khủ trên sàn xi măng,
xây cao hơn mặt đất khoảng vài tấc, có
đường rãnh dẫn huyết vào thùng. Chỗ
ghê gớm như vậy mà không hiểu ông Bảy
dẫn Hùng vào đó làm chi. Ðêm nào
ngủ Hùng cũng giựt mình nghe văng vẳng bên tai
tiếng heo kêu bị thọc huyết. Nhưng, người
ta nói đó không phải là tiếng heo kêu mà
là tiếng của thằng cha thọc huyết bị heo hành.
Căn nhà trọ thứ hai của chị em Hùng là nhà
chú Hai Bộ. Có hai điểm khác với nhà
ông Bảy, một là không phải ở nhà sau mà
ở bên chái, và hai là phải đóng tiền,
năm chục một tháng. Nhà chú Hai Bộ nằm
trong xóm nổi tiếng hơn xóm Lò Heo nhiều, xóm
Hàng Còng. Kêu là xóm Hàng Còng vì từ
xa nhìn tới đã thấy một dãy cây còng,
cây me tây, cao lớn tàn rộng không thua gì
những cây đa lâu đời. Xóm Hàng Còng
nổi tiếng tại vì đây là xóm làng
chơi. Nhưng muốn mướn nhà với giá rẻ
cho nên đám Hùng phải tự đề cao:
gần
bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
. Thật ra
xóm chia làm hai khu, một bên từ hàng còng trở
ra Hãng Xáng thì ong bướm nhởn nhơ, còn
một bên từ hàng trứng cá trở vào đất
Thánh Tây thì là dân làm ăn lương
thiện, có am Cô Sáu, có rẫy trồng bông
huệ...
Con đường dẫn vô xóm Hàng Còng là hai
đường mòn dọc hai bên đường rầy xe
lửa chạy giữa hai giếng nước. Hai đường
mòn này cũng chỉ được xài vào mùa
nắng mà thôi, vào mùa mưa thiên hạ đi
luôn trên đường rầy cho khỏi dính sình.
Cỏ hai bên bờ giếng không ai cắt cao đến
ngực.
Dạo đó chiều nào Hùng và thằng Ðức,
bạn cùng lớp quê bên Lộc Thuận, và mấy
đứa bạn cùng xóm cũng đi nhảy xe lửa, xe
lửa trở đầu chuẩn bị cho chuyến sáng.
Một trò chơi lý thú không tốn tiền nhưng
cũng không kém phần nguy hiểm. Từ nhà ga xe
lửa chạy thụt lùi trở lên Hàng Còng, vòng
vô miệt Bàu Súng, xong vòng ra và chạy tới
trở lên miệt Xóm Tre, Năm Nồi rồi mới chạy
thụt lùi trở về. Xe lửa lên mình nhảy
lên, xe lửa về mình nhảy xuống, không thua gì
phim cao bồi đánh với mọi da đỏ. Xe lửa
trở đầu thường chạy chậm nhưng đôi
lúc dở chứng chạy xả ga, xịt khói làm bọn
Hùng té lăn vòng vòng mấy vòng mỗi lần
bậm gan phi thân xuống đất. Bầm mình, sả
đầu gối nên bọn Hùng biết tởn, biết học
khôn, cứ đeo theo xe lửa đi xuống phố chờ cho
nó chạy chậm lại mới nhảy xuống lội bộ
trở về. Nhưng cỡ nào cũng phải nhảy
trước khi xe lửa vô nhà ga, vì mấy ông xếp
ga bắt được hạch hỏi, hăm dọa đủ
điều thì còn phiền hơn nữa.
Ðâu ai ngờ sau này đường rầy xe lửa
trở thành đường Lý Thường Kiệt nối
dài, chạy từ nhà bà già vợ ông Thiệu, qua
giếng nước, qua chùa Một Mắt tức thánh
thất Cao Ðài, xuyên qua đường Vòng Nhỏ
có trường bán công Trương Công Ðịnh
rồi lên tịnh xá Ngọc Tường, trung tâm Quân
Tiếp Vụ, sân bay Bình Ðức và tiếp giáp
với đường đi Sài Gòn tại chủng viện
Chân Phúc Minh. Mấy cây còng bị triệt hạ
để mở đường, xóm làng chơi Hàng
Còng ít còn nghe ai nói tới và đã trở
thành xóm Bờ Giếng Trên.
Không hiểu có phải vì ảnh hưởng của
xóm Hàng Còng hay không mà cả hai vợ chồng
chú Hai Bộ đều làm nghề y tá. Ngoài
những phiên trực chính ở dưới nhà
thương lớn, hai vợ chồng thay phiên nhau đi
chích dạo, tiền vô cũng khẳm. Vậy mà hai
thằng con trai của chú thiếm nuôi hoài không
thấy lớn, thuốc men đủ thứ mà tụi nó
vẫn ốm tong teo như bị sanh thiếu tháng.
Ở nhà chú Hai Bộ không được thoải mái
bằng nhà ông Bảy. Ði đứng phải có
giờ giấc. Học bài cũng không được
học khuya, sợ hai thằng nhỏ giật mình. Ngay cả
miếng đất bằng bụm tay phía sau nhà cũng
không được tự do trồng trọt. Chỉ
được đám rau răm. Mặc dù bị mấy
cây gòn che hết nắng mà đám rau răm cũng
mọc xanh rì như đám cỏ. Chị em Hùng nhờ
vào đám rau này rất nhiều. Mấy lúc kẹt
tiền, chị Cúc ba bốn bữa liên tiếp cho anh Tấn
với Hùng ăn cơm với mỗi một món độc
nhất "rau răm xắt nhuyễn thả vô nước
tương."
Gió đưa cây cải về trời, rau
răm ở lại chịu mùi nước tương
, tụi
Hùng ngâm như vậy. Dũng Thanh Lâm kia "cá
hấp, cá hấp hoài phải ngứa," thì mình "rau
răm, rau răm hoài phải cay." Bởi vậy chị
Cúc một lần đó đổi món ăn mới mà
mỗi lần nhớ lại Hùng thấy nhói trong tim.
- Bữa nay có gì ăn không chị ba? Hay là
bổn cũ soạn lại?
- Có nồi cá kho để trên bếp đó.
Anh Tấn và Hùng nghe nói có nồi cá kho trong
bụng như mở cờ, hấp tấp dọn cơm. Ðến
chừng dở nồi cá ra mới thấy hỡi ôi:
- Cá kiểu gì kỳ vậy chị Ba? Sao toàn là
đầu mà không thấy phần đuôi!
- Của thiếm Hai cắt cho đó. Chị kho cho mấy
em ăn đỡ.
Hùng nghẹn ngào nhìn anh Tấn, nhẹ nhàng đậy
nấp vung lại.
- Chị Ba à, sao chị làm vậy? Tụi em thà
chết đói...
- Chị thấy hai em ăn với nước tương
hoài, chị không nỡ.
Rồi ba chị em nhìn nhau rơm rớm nước mắt.
Qua năm sau chị em Hùng bái bai chú Hai Bộ chạy
về chú Hai Hậu, chú lao công quét dọn cho
trường Nguyễn Công Trứ, trường chị Cúc
và anh Tấn đang học. Chú Hai Hậu được
ông bác là ông Lê Văn Chẩn cho giữ miếng
vườn trên đường Vòng Nhỏ, xéo xéo
với lối vào chùa Phổ Ðức. Ðối diện
là nhà của ông Ðốc Học, cái nhà gạch
sơn nước vôi màu tím mới nhìn vô
tưởng là nhà thờ vì cất theo kiểu đưa
đầu song ra đường. Căn nhà độc nhất
vô nhị, không giống nhà nào của cả thành
phố Mỹ Tho. Ðám con gái của ông Ðốc
kênh kiệu dữ lắm không thèm chơi với
đám Hùng. Hai bên đường Vòng Nhỏ
khoảng đó là hai con rạch cho nên nhà nào
cũng có cầu. Cầu vô nhà ông Ðốc là
cầu đúc bằng xi măng cho xe chạy còn cầu
vô nhà chú Hai Hậu là cầu dừa, thấy lép
vế hơn người ta quá cỡ.
Chú Hai Hậu cũng như ông Bảy, cho ở không.
Nhưng việc đầu tiên là phải cất thêm
một cái chái tiếp theo tấm vách ván dừa của
nhà chú. Cất ra đến gốc vú sữa là
vừa, và phải vào rừng đốn cây. Miếng
đất rộng mênh mông, chỉ mặt tiền trông ra
lộ còn được khai khẩn, trồng trọt, chứ
phần sau không ai chăm sóc cây cối mọc như
rừng. Qua mấy gò mả đá xanh, qua cái ao có
cây mận da người là đến bìa rừng. Len
lỏi vào trong tìm những cây thẳng mà đốn.
Mấy cây lớn làm cột và kèo, mấy cây nhỏ
làm đòn tay. Anh Tấn mới xán một búa
đầu... bỗng nhiên rùng mình, tay chân uể
oải, không làm ăn gì được nữa. Xách
búa trở vô nhà lên giường nằm mà lên
cơn sốt. Kỳ thiệt. Thiếm Hai phải xôi chè
cúng mới hết.
Ở với chú Hai Hậu thì khỏi phải lo về mặt
kinh tế. Rau cải thì đất trống thiếu gì,
mặc sức mà trồng.
Ăn cơm không có rau
như nhà giàu chết không có nhạc
, bởi vậy
bầu, bí, mướp, dưa leo bò thả giàn, rau
thơm, xà lách, cải trời, cải rổ lên xanh
liếp. Còn cá tôm thì dễ thôi, tay làm
hàm nhai. Làm siêng thì đấp đập tát
mương, làm biếng thì đi câu cá bống dừa
cá bống cát, còn trớt lớt luôn thì chỉ
đi cắm mấy cây cần-câu-cắm dọc theo
mương để bắt cá trê. Mặc dù xa nhưng
nước sông Bảo Ðịnh cũng tràn tới
đây, trong mương cũng có nước lớn
nước ròng. Vào mùa mưa chú Hai hay trồng
thêm vạt mì, để ăn thì ít nhưng để
bắt chuột thì nhiều. Chuột cống con nào con
nấy lớn bằng con heo con. Chuột cống xù kêu
"rù rù rù..." mới ăn được, còn chuột
cống lang kêu "chét chét chét..." thì chỉ giết
đem chôn. Trái cây cũng không thiếu thứ
gì, ngoài dừa với chuối vườn nào cũng
trồng, còn có mận, xoài, bưởi, ổi, chùm
ruột, vú sữa... Cây vú sữa bên chái mới
ác, nhiều đêm Hùng đang ngủ mà dám rụng
xuống mùng đồm độp, coi mái lá chầm như
không.
Bấy giờ Hùng mới nhớ ra là mình đang sống
ở miền Nam, miền làm chơi ăn thiệt. Chị
Cúc thêm một lần nữa kéo chị Sen về ở
chung. Bạn bè Hùng đứa nào mà không
thích đi vườn, không thích lên chơi với
Hùng. Mấy bữa ăn cơm vườn, mỗi đứa
một tô bưng ra gò mả đá xanh vừa ăn
vừa trò chuyện cũng thần tiên. Trời chiều
nhờ đó mà thêm ý nghĩa.
Mới sống với chú Hai Hậu chưa mục một lớp
lá thì phải dọn đi nơi khác. Lần này
không riêng gì chị em Hùng mà cả chú thiếm
Hai. Ðám con ông Chẩn đòi chia gia tài mặc
dù ổng chưa chết. Chú Hai Nhì về Sài Gòn
coi rạp hát Văn Cầm ở Phú Nhuận thì không
tính rồi, mấy bà cô giành nhau mấy đám
ruộng trong xã Thanh Bình thì cũng yên, chỉ còn
chú Năm Trứng, cậu út, là thầu đám
ruộng vườn dọc theo đường Vòng Nhỏ.
Chú Năm đòi bán miếng vườn chú thiếm
Hai và đám Hùng đang ở để lấy tiền
ủi ruộng lập cư xá Lê Văn Chẩn đối
diện trường trung học bán công Trương Công
Ðịnh. Lý do chính đáng để đuổi
tá vườn. May là nhờ bà con nên chú Năm
Trứng còn nghĩ tình, giao cho chú Hai Hậu trông coi
miếng vườn khác tuốt trên ngã ba sân bay
Bình Ðức, ngó vào Xóm Tre.
Lại một lần nữa khăn gói gồng gánh di tản
về vườn, chuyến này về vườn thật chứ
không phải về vườn ngoại ô đèn vàng
nữa. Chú thiếm Hai cất nhà mới, và chị em
Hùng cũng cất nhà mới cách nhau một cái
mương. Tại vì gia đình chú thiếm Hai
tăng cường nhanh chóng, tính tới con bé Gái
Nhỏ đã là đứa thứ sáu rồi. Ðám
Hùng cũng tăng cường thêm con bé Gấm sẽ
vào học lớp tiếp liên. Em kế Hùng, con bé
Ðẹp, mất hồi còn nhỏ nên giữa Hùng với
con bé Gấm có cách khoảng. Vả lại đám
Hùng cũng đã lớn chồng ngồng rồi nên
thích ở riêng. Ở riêng bạn bè trai gái
cũng dễ.
Dạo đó Hùng ít về quê thăm nhà vào
cuối tuần mà ở lại với bạn bè. Bữa
nào có tiền thì đi ăn phở Tàu Bay, đi
ăn hủ tiếu Phánh Ký, hoặc đi thụt bi-da
Châu Diều. Ðứa này tưởng đứa kia có
tiền mà mấy bận ngồi đồng mà chưa bao
giờ biết tởn. Có cây viết Pa-ke hay cái
kiếng Rầy-ban cầm đỡ cũng được vài
trăm mà trả tiền nợ. Bữa nào không tiền
thì đi tắm sông Cửu Long, Cầu Tàu, Cầu Bắc,
Cầu Dầu của nhà máy Ðỗ Quang. Một lần
tại Cầu Tàu, gặp lúc nước ròng sát
đến nỗi thấy lườn chiếc tàu chìm nằm
lật úp ngoài khơi, đứng trên cầu nhìn
xuống nước đã thấy ngộp mà dám nhảy.
Hơn mười thước có, chỉ nhảy đứng
thôi mà lúc trồi lên đã muốn hụt hơi.
Lội ra chiếc tàu chìm, thấy nước cuốn xoáy
mà sợ. Bao nhiêu đứa chết ở chỗ này
mà sao vẫn còn ngu. Ngu thì có ngu nhưng tụi
bạn làm được thì mình phải làm
được... Rồi có bữa đi chơi xa hơn
một chút, qua Cồn Rồng, Tân Thạch, Bến Tre, vô
Gò Cát, Thanh Bình, Bến Tranh, lên Trung Lương,
Bến Chùa, Tân Hiệp, xuống Cai Lậy, Cái Bè.
Vào giữa niên khóa năm đó, Hùng đi học
ăn sáng khỏi tốn tiền. Mấy ông bán bánh
mì thịt, sữa đậu nành, bò bía, đậu
đỏ bánh lọt trước cổng trường không
ông nào chịu lấy tiền của Hùng.
- Thôi, khỏi cần trả, có người trả cho
chú mầy rồi. Ăn cả tháng chưa chắc
đã hết.
Hùng làm tĩnh, bỏ tiền vô túi:
- Thiệt hả? Ai trả cho tui vậy?
- Không được tiết lộ bí mật à.
Tiết lộ bí mật thì chú mày không có
ăn mà tao cũng không có bán à.
- Nhưng tại sao ông biết tui là người tới
ăn mà ông không lấy tiền.
- A, cái đó thì cũng là bí mật nữa!
Mấy ông Tàu kín miệng thật, Hùng không biết
người gửi tiền cho mình ăn sáng là ai, già
trẻ, trai gái. Nhưng Hùng biết chắc người
đó không là bà con thân thuộc gì với
Hùng vì ngoài mấy chị em ra đâu còn ai.
Hùng suy nghĩ hoài mà không tìm ra câu trả
lời... Nhưng hôm đó ông bán sữa đậu
nành dám ngang nhiên đòi tiền, Hùng vừa móc
túi vừa hỏi:
- Ủa, không ai trả trước cho tui à?
Rồi như ông sực nhớ điều gì, ông hỏi
lại:
- Phải chú mày hay đi chung với thằng... có
cái bớt đỏ bên má phải hôn?. Bữa nay
nó đâu rồi? Nè, cất tiền đi.
Ðúng là thằng Châu, có hỗn danh là Châu
Búa vì cái bớt đỏ đó. Vậy là mật
hiệu đã bị khám phá. Lần hồi rồi
thằng Châu cũng biết, hăm he đòi ăn chia.
Chỉ biết tới đó thôi, cả tháng trời
không bật mí thêm cái bí mật nào hết.
Hùng đổi chiến thuật với ông bán bánh
mì:
- Tui thấy tui ăn như vầy hoài mang tội mút
đầu. Ba bữa nữa mà ông không cho tui biết
người đó là ai thì tui... thà nhịn đói
đi học thôi.
- Ê, chú mày nói thiệt hay nói giỡn đây?
- Thiệt mà.
- Có người lo cho, sướng quá mà không
chịu hả?
Chiến thuật hồi mã thương của Hùng coi vậy
mà hiệu nghiệm. Qua ngày thứ ba đúng hạn
kỳ, ông Tàu trao cho Hùng một bì thư không
một chữ bên ngoài. Hùng xé thư xem lén
một mình:
- Thôi, chết tao rồi Châu ơi.
- Gì mà chết mậy. Ðưa tao coi..., nói tao
nghe với.
Nói làm sao được. Trong bao thư vỏn vẹn
có một tấm hình, phía sau viết mấy chữ
ngoằn ngoèo: "Tặng anh yêu quí." Con Cẩm, chết
rồi, con Cẩm bạn bé Gấm ở phía vườn sau
nhà. Phải ăn nói làm sao đây, chỉ thấy
Cẩm tới nhà một hai lần.
- Dấu hả? Trước sau gì tao cũng biết.
Qua ngày sau Hùng trao cho ông Tàu một bức thư
hẹn Cẩm ở con đường thật vắng mục
đích không phải để dễ tâm tình mà
chỉ sợ thiên hạ thấy. Cẩm còn nhỏ quá,
ngực chưa chắc đã dậy trái tràm, tình
yêu cũng nên để trong lòng mà thôi, trai
gái dọc đường ai coi cho được. Hùng
chỉ coi Cẩm như em gái, chờ thời gian để
hiểu thật lòng mình. Hùng biết đêm
đó Hùng làm Cẩm buồn vô hạn.
Sự việc này đặt Hùng vào ngưỡng cửa
tình yêu mà chính Hùng cũng chưa dám nghĩ
tới. Hùng tự hỏi ai thương mình và mình
đã để ý ai chưa. Học trò đệ tứ
cũng lớn rồi, mười lăm mười sáu rồi.
Mới ngày nào chú Hai Hậu dẫn Hùng đi sơn
trường Nguyễn Công Trứ, bên hông nhà ông
Chẩn, cố tình cho Hùng thấy mặt con Phượng,
cháu nội của ông Chẩn. Ðám này học
dở nhưng giàu, chuột sa hũ nếp, chú Hai Hậu
nói mí mí như vậy. Rồi dạo nào chơi
thân với thằng Quyền, em Vân của nó có món
ngon vật lạ gì thì cứ như phải để dành
cho Hùng, riêng cho anh Hùng. Lúc đưa cũng
không lấy tay về liền, giữ đó hơi lâu,
bốn mắt chạm nhau như bắn một niềm tin. Thêm
con nhỏ bán mía ngoài Cầu Bắc, suýt chút
nữa Hùng bị đập, may mà có thằng Châu
Búa. Tại con nhỏ có cảm tình với Hùng,
viết thư cho Hùng chứ ai mà thèm đi giành
gái với lũ đầu trâu mặt ngựa đó.
Phải biết nói nhỏ nhẹ thì người ta
nhường cho, Hùng thấy mình lên mặt quá xá
cỡ.
Cẩm, Phượng, Vân, và luôn cả con nhỏ bán
mía cũng đều đang học tiếp liên, làm
như ở Mỹ Tho lớp tiếp liên là lớp tìm
yêu cho con gái. Ðối với Hùng đặc biệt
còn có thêm một con nhỏ học tiếp liên nữa,
lớp tiếp liên tư thục của ông Phạm Công
Bình. Hồng Lan.
Ðầu lòng hai ả tố nga,
Hồng Hoa là chị em là Hồng Lan
. Hồng Hoa cũng
đẹp nhưng không bằng Hồng Lan. Con nhỏ vóc
dáng mảnh mai, nước da trắng bóc môi đỏ
như son. Hai thằng con ông Bình ngày nào không
chận ở cầu thang lên lớp học. Thằng Lữ con
chủ tiệm may Batou ngày nào không đạp xe
đạp rề rề hết đại lộ Lê Lợi.
Thằng Châu từ bên đất Thánh Tây cũng
nhào qua... Còn dân Bến Tre thì vô số kể,
thằng Hòa dân Giao Long, thằng Thiện dân Vang Quới,
thằng Lạc dân Bình Ðại... thằng nào cũng
theo. Toàn là đám bạn trang lứa với Hùng.
Tụi nó đâu ngờ Hùng không theo mà Hùng
được. Tại vì Hồng Lan học chung lớp với
bé Gấm, em Hùng. Thỉnh thoảng bé Gấm dẫn
Hồng Lan về nhà chơi, Hùng có dịp nịnh
đầm, và sau đó mấy lần đi vườn, vô
tuốt miệt Xóm Tre, thì tình yêu như có ai
đưa đường dẫn lối. Một lần Hùng
ghé nhà thăm Hồng Lan bất thình lình, chỉ
có mình Hồng Lan ở nhà. Hồng Lan sợ và
Hùng cũng sợ. Không hiểu Hồng Lan sợ gì,
nhưng Hùng chỉ sợ mình cầm lòng không
đậu, vô tình làm tổn thương cái thiêng
liêng cao quý của tình yêu. May mà có cô
Năm bên hè qua chơi lúc Hùng thả lưng nằm
võng trên bộ ván mà Hồng Lan đang ủi đồ.
- Con nhỏ này ủi cái quần chưa thẳng, tới
hồi lấy chồng rồi làm sao?
- Thôi đi bà. Thiếu điều cháy rồi mà
còn thẳng với không thẳng...
Cuối năm đó chị Kim đậu phần một rồi
lấy chồng ở Sài Gòn, chị Cúc cũng đậu
phần một rồi đi dạy tiểu học ở Cai Lậy,
Hùng và anh Tấn đậu trung học đệ nhất
cấp, bé Gấm đậu vào đệ thất trường
công, Lê Ngọc Hân. Theo nhà người ta
đáng lý ra phải mần heo ăn mừng, đằng
này ba má Hùng cho mỗi đứa có năm chục
bạc, không đủ tiền đi Mỹ Tho dẫn bồ ra
quán Mỹ Duyên ăn kem...
Dù thế nào đi nữa, nếu thượng đế cho
cuộc đời này lùi lại, Hùng cũng sẽ van
xin cho mình được làm một người học trò
quê, một lần nữa lên thành, lân la bên
ngưỡng cửa tình yêu của thời mới lớn.
back to top
03. TRONG MIỀN QUÁ KHỨ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Con đường Lý Thường Kiệt nối dài,
hóa thân của đường xe lửa cũ, mùa
nào cũng trở ngại. Lý do thật đơn
giản là vì bác Tám lục lộ có nhiệm
vụ phải bảo vệ con đường. Cách duy
nhất mà bác đã học được ở
trường Công Chánh là xách ki đi xuống
ruộng đào lớp nhựa đường "made in Việt
Nam" lên, đập nhỏ ra rồi rải tứ giăng
trên mặt đá. Vào mùa nắng, bụi bay mù
mịt mỗi lần có xe chạy qua hay chỉ cần một
cơn gió lớn. Lội bộ suốt con đường,
lỗ mũi có khoen. Vào mùa mưa, con
đường trở thành nhão nhẹt. Ði bộ
còn không muốn vững vì đôi giày hàm
ếch càng lúc càng to, càng nặng, nói gì
tới đi xe đạp xe gắn máy. Sình quấn
vào căm, vào bánh xe, vào gạt-đờ-bu
không mấy chốc là phải vác, phải dẫn,
hoặc phải gởi. Tội nghiệp cho mấy cô học
trò trung học, không biết phải đi kiểu sao cho
vừa lòng cái áo dài trắng thước tha,
lượt thượt của mình.
Tuy trắc trở vậy nhưng nhờ chỗ ở lâu cho
nên con đường này, mặc dù không phải
là con đường mang tên em, đối với Hùng
cũng có nhiều cái tình. Thời đó là
thời bình, hoặc giả tạm gọi là thời bình
đi, vì chiến tranh chưa lan tràn vào thành
thị. Ban đêm cũng chưa có giới nghiêm.
Bọn Hùng lúc đó đang mới tập đàn
tập hát cho nên nguyên ban thường hay mải mê
trình diễn nghêu ngao ngoài đường cho đến
hai ba giờ khuya. Cho khỏi phiền làng xóm đang
cần sự yên lặng nghỉ ngơi.
Ánh trăng
sáng ngà, có cây đa to, có thằng cuội
già, ôm một mối mơ
. Nhờ những bài
hát và những đêm trăng như vậy mà ban
nhạc một ngày một tiến. Ôm một mối
mơ? Mơ gì? Hùng mơ rằng con đường
mãi mãi là của riêng mình và lũ bạn,
không phải là của chính phủ, của công ty
gì cả.
Ðây là vùng ngoại ô thành phố cho nên
không có cảnh nhà cửa cất san sát, khít
vách với nhau, không có cảnh đâu mặt,
đụng đít. Mà một bên đường là
ruộng, trải dài tuốt ra đường Ngô Tùng
Châu, đường đi Bình Ðức, đi căn
cứ Ðồng Tâm. Và một bên là vườn,
ăn luồn ra đường Nguyễn Tri Phương,
đường đi Trung Lương, Bến Chùa. Một
mặt nối tiếp xuống vườn ông Khánh có
nuôi đủ thứ thập vật, trĩ trích, công
ngỗng, rùa rắn, trăn lươn, như là một
cái sở thú tư.
Con đường đã mang đến cho Hùng hai niềm
vui khác biệt. Vì ở ruộng có cái vui của
ruộng. Mùa nước nổi đi soi ếch, chém
cá, mùa gieo mạ đi bắt cá trê lét, cua
đồng, mùa cấy lúa đi câu cá rô, và
mùa đập lúa đi bắt cá cạn, cá chạch.
Và ở vườn thì có cái vui của vườn,
mùa mận có mận, mùa xoài có xoài, mùa
mít có mít, mùa vú sữa có vú sữa...,
mùa nào mình cũng ăn trái cây đi... hái
trộm được hết. Của nhà luôn luôn thua
xa của thiên hạ. Cây thấp khỏi trèo chẳng
nói làm gì, cây cao cũng khỏi trèo luôn.
Trèo làm chi cho mệt trong khi trên tay mình có
cái ná giàn thung. Như xoài tượng chẳng
hạn, trái nào trái nấy to bằng bắp chuối
mà tòng ten chỉ bởi cái cuống nhỏ xíu,
dài thòng. Chỉ mành treo chuông. Một thằng
bắn một thằng hứng, và phải bắn ngay cuống
cho thật ngọt. Kỵ nhứt là bắn trúng trái
xoài, bắn trúng trái xoài là bị mất
phiên, không được phép bắn nữa mà
phải chịu khó giữ "gôn."
Bắn trái cây thì quá dễ, bắn gà bắn
vịt mới khó. Vì gà vịt biết chạy, biết
la. Ðã vậy quanh quẩn không chịu đi xa
nhà, bắn không khéo chủ nhà nghe tiếng, bể
ổ, chạy chết không kịp trối. Phải ngay con
mắt và không có viên thứ hai. Chết không
kịp la, chết không kịp giãy, chỉ còn trân
mình, hai cẳng đơ ra, oằn oại. Tàn nhẫn
thiệt, nhưng phải có nó cho nồi cháo khuya,
mới có đủ hứng thú để bàn chuyện
chính chị, chính em. Vì thời cuộc đẩy
đưa, học trò đệ nhất đệ nhị bấy
giờ bắt buộc phải sớm tham gia các hoạt
động chính trị hay ít ra cũng phải sớm có
chút ít suy tư về vận mạng đất nước.
Dầu sao cũng là lớp đàn anh, lớp lãnh
đạo cho đám học trò. Mà nói cho cùng,
cũng chỉ có ba con đường thôi, con
đường quốc gia, con đường cộng sản,
và con đường lưng chừng cầu an. Biết
sớm muộn gì rồi thí sinh cũng phải chọn
một trong ba đề: đi lính, vô bưng,
hay... làm thầy giáo.
Không có gà vịt thì phải đi đào
trùn câu cá. Cá tra, cá dồ, cá cầu
tiêu, cá gì cũng được, miễn là có
cá cho nồi cháo khuya. Thời buổi này học
trò lớn cũng đâu còn thì giờ để
đi câu thời, câu vận ngoài sông trong rạch.
Câu cá trộm còn phải cẩn thận hơn là
bắn gà bắn vịt nhiều, vì hồ cá
thường được đào sát bên hè chủ
nhà. Phải biết mồi thả xuống là cá
cắn câu liền tức khắc, và cá cắn câu
thì phải giựt lên bờ liền tức khắc,
không được chậm trễ một tích tắc nào
hết. Con cá lên bờ rồi mà tiếng động
chỉ như con cá ăn mống, mới đúng
điệu. Yếu tay một chút, bị con cá
lượn vài vòng dưới nước là trật
đường rầy, chủ nhà dám sẽ bưng
đèn ra đi thăm hồ cá. Lên trên bờ
phải trùm cá vô bao bố ngay. Cá giãy
bạch bạch không thua gì con chó con. Cũng biết
sủa nữa chớ: kẹt-kẹt, kẹt-kẹt... kẹt-kẹt.
Dây nhợ gì cứ để như vậy về nhà
tính sau. Mấy bữa hên dính được một
con mẹ là xong, còn mấy bữa xui gặp toàn
những con mới dậy thì, làm đi làm lại cái
màn "giựt, chụp" này hoài cũng không khá
được. Lạng quạng, trái tim trong ngực nó
nhảy luôn ra ngoài...
Những hoạt động về đêm của bọn Hùng
dọc theo con đường heo hút này lần lần
được du nhập qua miền Gò Cát, chùa Vĩnh
Tràng. Tại vì bạn bè của Hùng sống ở
miệt này đông, vả lại khu này "vườn
rộng, rào thưa, dễ kiếm gà." Chủ vườn
ở đây mỗi người tệ lắm cũng có năm
bảy mẫu. Vườn này nối tiếp vườn kia
trùng trùng điệp điệp như rừng, nhiều
chỗ âm u tĩnh mịch không thấy ánh sáng mặt
trời không thấy dấu vết con người, mới
bước vào cứ tưởng mình là Lỗ Bình
Sơn trên hoang đảo, cứ tưởng mình bước
thêm bước nữa là dám tìm được cái
Ðế Thiên Ðế Thích thứ hai.
Ðêm Noel năm đó chỉ có ba đứa trú
đóng tại nhà Quyền. Hiệp, Hùng và khổ
chủ. Vừa xong màn cháo cá, Quyền như chợt
nhớ ra một điều lên tiếng:
- Ê, mấy chị Bất Tri, Bất Minh, Bất Thông
dở thiệt, mình cũng nên dạy cho mấy bả bài
học "câu cá" này mới được. Nghe đồn
mấy bả chỉ biết câu cá thòi lòi ăn đi
học thôi.
Hiệp phụ họa theo:
- Ừa, nhờ cá thòi lòi chắc không ăn cứt
cho nên mấy bả mới học giỏi, nổi tiếng như
vậy. Còn tụi mình ăn mấy con cá cầu này
hoài chắc cứt nó dọng lên óc, đầu óc
nó lú lẫn đi. À, mà gần nhà bác Ba
cũng có mấy hồ cá ngon lành lắm nha, bữa
nào mình vô đó câu đem cho ổng nhậu.
Hùng hỏi:
- Bác Ba nào?
Hiệp trả lời ngay:
- Thì bác Ba ở gần chùa Vĩnh Tràng mầy
mới gặp hôm đó, mới đó mà quên
rồi. Ổng là ông Bất Thành, ba của mấy
chị Bất Bất mà thằng Quyền mới nhắc.
Ổng còn dám đặt cho con chó của ổng tên
là Bất Tử nữa mậy. Ðể bữa nào chờ
ổng đi vắng coi nó bất tử hay nó tử cho
biết, cho ổng nhậu con chó của ổng thì ổng
mới bớt cái tật "bất bất" của ổng.
Bác Ba với cây đờn vi-ô-lông thì quên
sao được, Hùng xen vào:
- Ê, tụi mình đâu có thể làm chuyện
bất nhơn, bất nghĩa, bất cần phải trái
như vậy được. Nghe thằng Quyền nói bác
Ba coi vậy chớ mà chịu chơi lắm mà. Phải
hôn mậy? Ổng biết đờn vi-ô-lông, vậy
sao mình không kéo ông già bất cần đời
vô ban của mình luôn cho nó xôm trò.
Hiệp cười cười:
- Ừa, ổng chịu chơi lắm. Ổng còn bất
kể dư luận, dám lăm le tán tỉnh bà Sáu
má thằng Quyền nữa đó.
Quyền nghe câu nói đó không lọt lỗ tai,
bèn cắt ngang:
- Thôi dẹp tụi mày đi. Thằng nào muốn
đi phố thì theo tao đi lựa đồ vía.
- Ði phố giờ này?
- Noel mà mậy!
- Ði thì đi.
Hiệp và Hùng theo Quyền đi hỏi thăm sức
khỏe cái tủ áo của ông Sáu, ông già
của thằng Quyền. Mỗi đứa lôi ra một
cái, vết cũng được măng-tô cũng
được, bận xùng xình như thám tử.
Rồi cả ba tàng hình vào bóng đêm. Hiệp
đề nghị đi tắt đường vườn, không
chịu đi đường cái. Cuối đường,
lúc sắp ra khỏi vườn thì nguy thay... lọt ngay
ổ phục kích của đám lính đồn Cây
Số Bốn.
- Ai đó, dơ tay lên.
- Giỡn hoài mấy cha...
Có tiếng thằng Quyền trả lời.
- Dơ tay lên. Không thôi tao bắn thấy mẹ
bây giờ!
Có ánh đèn pin rọi vô mặt, có tiếng
kéo cơ bẩm lên đạn lách cách, Hùng
hết sức ngạc nhiên. Sao lại có vụ này.
Chắc thằng Quyền đã gây lộn, hiềm khích
với tụi nó rồi, thằng Quyền ẩu lắm.
Biết nhau quá mà, tụi nó xưa nay vẫn nể
mặt đám Hùng là đám đàn anh sao bữa
nay dám làm chuyện quái gở động trời như
vậy được. Con đường vườn đi
đã mòn chân, triệu triệu lần không thằng
nào dám hỏi. Bực thiệt. Nhưng phải
đưa hai tay lên trời, tụi này nổi cơn
cũng dám bắn ẩu lắm chớ chẳng phải chơi...
- Ai đó, đứng lại. "Tiền tuyến."
- "Xung phong." Ði năm về tám. Hốt
được ba con.
Lần đầu tiên vô chuồng cọp, lần đầu
tiên cho muỗi ăn "rề-quay-dông." Sáng ngày,
thằng tư Năng dám làm mặt lạ hăm he
đòi giải cả ba lên Ty Công An, rồi bảo
vì nhân đạo nên mới chịu thả về. Kể
từ đó, Hùng thấy thuở thanh bình như
đã hết. Kể từ đó, những hoạt
động về đêm của bọn Hùng coi như
đã chết. Và kể từ đó, Hùng thấy
tiếng nói không có súng đạn yểm trợ
của mình không dằn mặt được ai.
Bà Sáu, má thằng Quyền, chồng chưa chết
nhưng bả phải ở góa, tại vì ông Sáu
chỉ nghe những gì cộng sản nói mà không
nhìn kỹ những gì cộng sản làm, cho nên
ông mới bị bác dụ dỗ tập kết ra Bắc.
Bà Sáu ở vậy với bà ngoại, kể từ ngày
hai người chia tay và thằng Quyền đương
nhiên làm con một. Nghe đâu ông Sáu ra
ngoài đàng ngoài làm lớn lắm, hăm he cho
người về đón thằng Quyền đi tập kết
luôn. Nhưng, thằng con cưng của ông đã
quen mùi "tư bản" mất rồi, đâu có chịu
đi. Anh em bà con chú bác, bà con bạn dì
của thằng Quyền lần lần ngược đường
mòn Hồ Chí Minh trở ra Bắc ráo trọi. Con
dì Bảy, thằng Công vừa mới đi năm rồi,
rục rịch tới con Dân nữa là xong. Hùng mến
con Dân, sau này đổi lại là Vân vì Dân
là con gái nghe không hợp, cứ vái trời cho nó
đừng đi.
- Em hãy suy nghĩ cho kỹ đi. Thân em là
gái, em không chịu nổi sương gió của núi
rừng Trường Sơn đâu.
- Cha ra Bắc, mẹ trong tù. Em bây giờ cũng
chẳng biết nghe ai.
- Nghe ngoại. Ngoại đâu muốn em đi.
Ðám ra Bắc hoạt động cho cộng sản không
nói gì, đám còn lại ở trong Nam cũng nằm
vùng, kinh tài cho cộng sản luôn. Dì Bảy
của thằng Quyền, tức má con Vân, cũng đã
bị bắt vào tù mấy năm qua, tù chính trị.
Còn chú Ba của nó làm nghề cây, chủ thầu
khai khẩn rừng ngoài miền Trung, tháng nào cũng
chở tiền lên núi cho cộng sản hết bao bố
này tới bao bố khác.
Tin cộng sản dám về chùa Vĩnh Tràng thảm
sát anh Hòa, chủ tịch ban đại diện học sinh
trường Nguyễn Ðình Chiểu, làm chấn
động khắp tỉnh Mỹ Tho. Không ai ngờ cộng
sản lại nỡ giết một học sinh mồ côi cha
mẹ, sống tạm trong nhà chùa để đi học,
và học giỏi như anh. Ðám tang của anh trở
thành một đám biểu dương tinh thần chống
cộng của toàn trường, toàn quân, toàn
dân. Chưa bao giờ thấy tinh thần đoàn kết
vượt cao như lúc này, một khúc quanh lịch
sử quan trọng của trường như đã
được đánh dấu. Và tiếp theo đó
không bao lâu, đám con cháu cụ Ðồ cũng
đã tham gia công tác biểu tình, xuống
đường tiếp tay với sinh viên học sinh Sài
Gòn, để lật đổ ông hiệu trưởng
Phạm Văn Lược, một khởi điểm của phong
trào lật đổ nhà Ngô vào năm 63.
Trước đó, anh em thường lui tới với anh
Hòa, thường gặp anh quét lá sân chùa,
thường chuyện vãn, thảo luận chuyện học
hành với anh trong căn phòng ở mái hiên tây,
căn phòng có vách ngăn bằng những cây song
đứng, vuông cạnh. Bây giờ, không mấy ai
dám bén mảng tới chùa vì sợ bị liên
lụy, chỉ còn đám Hùng, quá quen thuộc với
những tàn cây bóng mát, những ngôi mộ
đền đài quanh chùa, không nỡ để linh
hồn anh thêm cô đơn giá lạnh. Giọng
nói chẫm rãi, trầm hùng của anh như cũng
còn quanh quẩn đâu đây, như đã hòa
lẫn trong tiếng chim quạ kêu thương.
Thằng Quyền bị bà già cộng sản của nó
chỉnh lý liên tu bất tận, vì hình như
điều gì bả lo cho nó thì nó không màng,
mà điều gì nó muốn làm thì bả không
đồng ý. Cảnh chung sống hòa bình lạnh
này mặc dù kéo dài nhiều năm nhưng cũng
có ngày chấm dứt. Từ lúc bà Sáu qua
nhà xì-nẹc bà già con Hương, người
tình có chân dung của nó, thì tình mẹ con
bắt đầu xa. Vì thằng Quyền bắt đầu
xa chạy cao bay.
Quyền và Hương dám dắt nhau lên Sài Gòn
sinh sống. Thằng Quyền tìm được một
chân kế toán cho Mỹ Kim Ðịa Ốc công ty,
ăn ngủ luôn ở chốn hậu liêu của văn
phòng chi nhánh ở đường Lê Văn Duyệt.
Con Hương mới khổ hơn, ban đầu ở đậu
nhà người quen đi bán vé số Kiến Thiết,
mãi nửa năm sau mới tìm được việc làm
và chỗ ăn chỗ ở tại tiệm bán huy
chương huân chương quân đội, hiệu An
Thành, xéo xéo chợ Bến Thành trên
đường Lê Thánh Tôn. Ðã cùng nhau
đi xa, đã cùng nhau đi thêm bước nữa...,
mấy bận đi Vũng Tàu, mà thằng Quyền cứ
thánh thiện chờ cái đám cưới. Ðám
cưới làm gì có một khi bà mẹ chiến sĩ
đã thề với Bác và Ðảng là không
chấp nhận cho con Hương trở thành đảng
viên của gia đình bà. Không hiểu vì nản
lòng chiến sĩ hay vì ông chủ giàu tay ấn
mà con Hương trở thành bà chủ không biết
thứ mấy của tiệm An Thành.
- Tình nghĩa Hương-Quyền chỉ thế thôi!
Quyền có lần than với Hùng như vậy. Rồi
không hiểu vì nặng lòng chiến sĩ hay vì
hận tình đời đen bạc mà thằng Quyền
tình nguyện đi Thủ Ðức.
Chuyện tình cảm tay đôi của Hương và
Quyền coi đau thương vậy nhưng mà không gay
go bằng chuyện tình cảm tay ba của Vân, Hiệp
và Hùng. Hùng biết Vân từ hồi còn nhỏ,
tắm mương còn ở truồng, và Hùng không
hiểu mình biết thương Vân vào lúc nào,
có lẽ lúc ngực Vân vừa mới chớm. Vân
thương Hùng là chuyện hiển nhiên vì ở
cái xóm này đâu có ai là con trai cùng
lứa, mà nếu có thì nhà này cách nhà kia
cả mấy cây số, mấy khi được gặp.
Hùng chơi thân với Quyền, về nhà Quyền
ngủ đêm hà rầm. Thấy mặt nhau hoài, tự
nhiên cái cảm tình không mời cũng đến.
Ban đêm học bài chung, hai đứa hay ngồi
đối diện nhau, chân khều chân, chân gác
chân, thằng Quyền ngồi kế bên làm gì biết
được.
Một lần đó Hùng vô buồng, tối om chỉ
chứa có mỗi một bồ lúa, để tìm mấy
trái xoài dú mà bà ngoại thường hay dấu
dưới tấm đệm phủ lên lúa, thì Vân
cũng không hẹn mà gặp, dám nối đuôi theo
kẻ lén lút. Hùng nép mình vào vách
rồi nhè nhẹ bước ra phía sau lưng kê
mồm vô tai:
- Hù.
- Ái... Anh Hùng làm Vân hết hồn.
Hùng xì gió, gỡ hai tay Vân đang đè lên
ngực, kéo vòng ra sau lưng mình, ôm Vân vào
lòng. Bóng tối chịu tội đồng lõa với
nụ hôn đầu. Nhịp tim của Vân, nhịp tim
của Hùng nghe bình bình, không hiểu tại vì
kẻ hết hồn hay tại vì người lén lút.
Vân bỗng sợ, vùng khỏi tay Hùng bỏ chạy.
Hiệp lại đến với Vân trong một trường
hợp rất khác thường, lúc Vân đã có
chút ít ý niệm, cảm giác về trai gái.
Hiệp ở trọ nhà người bà con đi học,
chẳng may lại gần nhà Vân, và sau đó cũng
chẳng may nhập bầy với đám Quyền, Hùng.
Vì gần nhà dễ chạy qua chạy lại, Hiệp lại
rành công việc vườn tược, cây trái,
nên công việc lặt vặt phụ giúp bà ngoại
không ít. Rơm gần lửa dễ cháy, vậy mà
ông tơ bà nguyệt còn đổ thêm dầu.
Chiều hôm đó Hiệp sang nhà chơi, thấy
đống dừa khô mới giựt về cao như núi
nên, mới xăn tay áo tính lột phụ. Hiệp
nhờ Vân vô nhà lấy cây "đầm." Vân
đang nói chuyện với con nhỏ bạn, bị nhờ ngang
cũng ức, vùng vằng vô nhà lấy cây
đầm trở ra đứng ngay cửa to tiếng:
- Nè. Rán mà chụp.
Con nhỏ dữ thiệt, Hiệp cứ tưởng là nó
nói chơi ai dè nó thảy đại. Hiệp chỉ
còn ú ớ, đưa hai tay đỡ lấy cây
đầm theo cách làm sao mà để cây đầm
cắm phập xuống bàn chân. Máu phọt ra có
vòi, Hiệp điếng hồn không la được
tiếng nào quỵ xuống ôm chân, Vân mặt biến
sắc chạy vô réo ngoại vì chỉ có ngoại
ở nhà. Rồi lính quính, Vân xé tẹt cái
áo của mình để băng bó vết thương do
chính mình gây ra. Sau đó, Vân còn phải
thăm nuôi chăm sóc vết thương đã thành
kỷ niệm đau đau trong tim của cả hai, cho nên
mối tình anh chàng hiệp sĩ vườn mới có
dịp nhen nhúm, lên hương.
Bắt cá hai tay, Vân thật quá quắt dám học
sách Ðiêu Thuyền đùa giỡn với tình
yêu. Cũng hên, không bao lâu thì cô nàng
bị bại lộ. Một ánh mắt tình dù che
đậy cách mấy cũng sáng như lân tinh.
Một cử chỉ tình dù không tiếng động
nhưng cũng nói lên ngàn tiếng nói. Hiệp
và Hùng làm sao không thấy không nghe, cho nên
một đêm trăng nọ hai đứa gặm mía lùi,
tâm sự ngoài sương. Biết nhau hết rồi,
đâu ai trách ai, chỉ cần một cách giải
quyết êm đẹp, êm đẹp cho cả đôi
bên, bên tình bên bạn. Thế thôi. Một
lá thư hai đứa viết chung, ai được trả
lời, người đó thắng. Hai đứa đồng
ý như vậy, và một tuần sau Hiệp được
thư hồi âm.
Hùng buồn dữ lắm. Không ngờ cái mối
liên hệ mật thiết dai dẳng nhiều năm giữa
Vân và Hùng trong hoàn cảnh như nửa anh em,
nửa bồ bịch đó không đánh đổi
được một thời gian ngắn của tuổi tròn
trăng. Vì trọng bạn, trọng lời hứa Hùng
bắt đầu tìm cách quên Vân, xa lánh Vân.
Ác nghiệt thay, Hùng càng lơi thì Vân càng
tới. Hiệp nào đâu có biết, nhưng Hùng
cũng đâu làm sao trở lại được khi tâm
tình mình như còn mang một vết thương
chưa lành. Hùng đi Hải Quân. Hiệp thấy
mình được chữ tình nhưng mất dần chữ
bạn, buồn, cũng đăng đi Thủ Ðức.
Mới hay,
đường vào tình yêu, có hai
người yêu, có tội là mình
...
Hai năm sau, Quyền hy sinh trong trận Sầm Giang. Qua
năm kế bà ngoại mất, rồi không lâu má
Quyền, sao cứ hay gọi là bà Sáu, cũng mất
theo. Vân bán tiệm thuốc tây Chợ Cũ một
thời gian, rồi cuối cùng cũng ngược
đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc. Vân
đã gặp Hùng lần chót tại bùng binh Sài
Gòn trước khi ra đi. Nhưng Vân không nói
được tiếng nào, Vân xỉu tại chỗ vì
thấy Hùng đang đi với một người bạn
gái. Mợ Tám, người sau này về ở nhà
của bà ngoại, kể lại cho Hùng nghe, Hùng
đâu ngờ đâu biết, chợt thấy ngậm
ngùi...,
Nghìn trùng xa cách, người đã
đi rồi. Còn gì đâu nữa, mà khóc
với cười
... Phần Hiệp, Hiệp ra trường,
đổi về tiểu khu Vĩnh Long, cưới vợ Vĩnh
Long.
Sau 75, Hùng theo đoàn người chạy loạn, đem
gia đình di tản sang Mỹ. Hiệp đi học tập,
rồi sau đó ra tù về quê sống với vợ con
trong xã Thanh Bình. Nghe đâu dì Bảy của
Quyền đã chết trong tù. Nghe đâu chú
Ba kinh tài của Quyền lên làm quận trưởng
Quận Ba, rồi sau đó, làm xuôi với Võ
Nguyên Giáp thêm vây thêm cánh. Và nghe
đâu ba của Quyền, ông Nguyễn Gia Quỳ, cũng
còn được cái cơ hội chống gậy đi
đốt nén hương tàn bên mồ vợ mả con.
Chỉ có Vân, một hình bóng ngày xưa,
đã không còn nghe ai nhắc đến.
Ôi, những hình bóng ngày xưa, tình bằng
hữu ngày xưa, những dấu vết ngày xưa... nay
đã thành mây khói. Nhưng, đối với
Hùng, tất cả như sẽ không bao giờ chết,
mà chỉ mãi mãi bồng bềnh, mãi mãi trôi
lênh đênh trong miền quá khứ...
back to top
04. VÀO LÍNH
NGUYỄN TẤN HƯNG
Mười ba tuổi, miệng còn hôi sữa, mà Hùng
đã dám đi Sài Gòn một mình. Mới nghe
tưởng như con nít đi "bụi đời." Mà
đi được hay không là ăn thua ở thằng
Ðiệp và thằng Quyền, hai thằng bạn học
ngồi chung một bàn với Hùng. Hai đứa nó
có nhiệm vụ lo tiền. Chỉ cần mười
đồng thôi, tám đồng cho cái vé xe lửa
một chiều hạng cá kèo dành cho trẻ em, và hai
đồng để đi xe buýt với lại phòng thân.
Chỉ lo bận đi, khỏi lo bận về. Chẳng những
khỏi lo bận về, mà lúc về có thể Hùng
có tiền thiệt nhiều là đằng khác. Dĩ
nhiên Ðiệp và Quyền sẽ không mất phần
ăn chia, ăn lời. Mà phải có tiền ngay
chiều nay, bằng không Hùng cũng dám đổi ý
lắm. Chuyện xảy ra trong lúc mình bốc đồng,
làm liều mới có hứng thú. Nói được
là phải làm được, nhưng tụi thằng
Ðiệp và thằng Quyền đâu biết là Hùng
đã có kế hoạch hẳn hòi. Vì có lần
chị Kim, chị thứ hai của Hùng, có nói:
- Em muốn lên chị dễ lắm. Xuống nhà ga
Sài Gòn em đi ra cổng chánh là bùng binh.
Bến xe buýt nằm bên tay phải. Em lên xe buýt
đi Phú Nhuận. Xe nào cũng có đề bến
đậu, viết bên trên tấm kiếng trước. Em
dặn ông bán vé cho em xuống ở rạp chớp
bóng Văn Cầm. Ðối điện với rạp Văn
Cầm là một cái hẻm lớn, em đi mút cái
hẻm đó, rồi hỏi nhà cô Sáu Sương
ở đâu thì ai cũng biết. Nhà cô là
nhà cuối ngõ ngó ra đường.
Lộ trình rõ như ban ngày làm sao mà lạc
được.
Vả lại nếu có lạc thì "đường đi
cũng nằm trong miệng," ai mà làm hiểm làm chi
với trẻ con. Cũng hên là vào thời đó
"mẹ mìn" chưa ra đời.
Ba giờ khuya Hùng có mặt ở nhà ga, chỗ mà
bây giờ là Vườn Hoa Lạc Hồng. Vách
tường vôi màu vàng cam cũ kỹ với hai cái
cổng sắt lớn. Một bên là lối ra vào
của hành khách và một bên là lối ra vào
của xích-lô, xe kéo chở đồ ba-ga lúc nào
cũng tấp nập nhộn nhịp. Vào bên trong mới
có phòng bán vé, phòng chờ đợi cho hành
khách, phòng kiểm soát hành lý... v.v.
Ði chuyến sớm tưởng là đông, ai dè
có mấy ngoe. Mấy ông bự có máu mặt,
mặc vết thắt cà-vạt từ dãy phòng ngủ
đối diện với nhà ga cũng lèo tèo băng
qua đường. Hôm đó Hùng sửa soạn
trông chỉnh tề lắm. Áo sơ mi trắng dài tay
bằng vải tét-tơ-ron mỏng, quần ga-bạt-đin
xanh đậm hai li ủi thẳng như dao, giày béc-ca-na
da thiệt đen bóng, đôi vớ đỏ a-la-đinh
mới tinh. Bạn bè đâu nỡ để Hùng bệ
rạc vác mặt về thành đô lần đầu
tiên, cho nên mỗi đứa đưa một món,
cái nào vừa cái nào đẹp cứ mặc tình
mà chọn. Chỉ có cái nón nỉ lát-sê
chính cống là của Hùng mới mua, nhờ lãnh
tiền học bổng.
Xe lửa huýt còi báo động ba lần thì từ
từ chuyển bánh. Xịt-xạc, xịt-xạc,
xịt-xạc chui vào phố, khuấy động màn
sương khuya. Qua Cầu Tàu, qua cổng số một
trên đường Gia Long, qua cổng số hai trên
đường Trần Quốc Toản mà sau này đổi
là đường Ông Bà Nguyễn Trung Long. Tàu
chạy nhanh hơn qua Giếng Nước, qua Hàng Còng,
rồi qua mấy đám ruộng hai bên đường
Vòng Nhỏ. Trong bóng đêm mặt ruộng đen
ngòm như một mặt hồ mênh mông. Tiếng
cọ sát rập rình của đường sắt và
bánh xe đều đều như một điệu nhạc
buồn. Những bụi than hồng tủa ra từ ống
khói nhô cao trên nồi súp-de, bay bay trong không
gian mờ tối. Thỉnh thoảng một hồi còi rung
động màn đêm. Hùng rời cửa sổ trở
về ngồi trên băng dài. Nguyên toa xe chỉ
có vài người, nằm ngủ cũng còn chỗ
trống. Sự khởi hành của một đoàn xe
lửa cũng chỉ có vậy, Hùng nghĩ.
Không mấy chốc đoàn xe ngừng lại ở ga Trung
Lương. Mấy toa hạng sang không biết như
thế nào, nhưng toa của Hùng đúng là đang
bị mấy bà "lái mận" xâm lăng. Cà-ròn
nào cà-ròn nấy đầy ấp mận, mận hồng
đào sọc, mận hồng đào đá, mận da
người, mận xanh, mận trắng, mận
đỏ... được phủ sơ sài bằng mấy
tấm lá chuối, và lớp dây bố ràng rịt
theo kiểu mạng nhện. Cà-ròn này chồng lên
cà-ròn kia mà không sợ dập. Nhưng, phải
làm vậy mới đủ chỗ. Và phải làm cho
nhanh, cho kịp giờ xe lửa chạy. Tiếng người
nói chuyện bây giờ át luôn tiếng hơi
nước xì xì ở đầu máy.
Hùng giao khoán toa đó cho mấy bà bạn hàng,
trốn lên toa kế trống trơn như không
người, vừa thoải mái vừa khỏi phải lo cho
bộ đồ vía. Rồi cũng không mấy chốc
đoàn tàu ghé lại ga Tân Hương, may là ga
này ít người đi nên tàu ngừng không
lâu. Kế, đến ga Tân Hiệp. Mới là
khốn khổ, không thua gì ga Trung Lương, nhưng
lần này không phải mận mà là cần tàu,
cải tàu-xại, đậu ô-que. Cần tàu bay
mùi thơm bát ngát, thấy thèm món thịt bò
xào.
Ðoàn tàu qua ga Thủ Thừa, qua ga Tân An. Hùng
lần lên toa trên nữa cho đỡ chật. Hùng
ngạc nhiên thấy toa này không giống mấy toa kia,
ở khoảng giữa có cái quầy nhỏ bán nước
ngọt và đồ ăn vặt. Hùng không dám mua
món gì hết, sợ thiếu tiền lúc tới Sài
Gòn. Rồi Hùng lấy chỗ ngồi ngay cửa sổ,
gió thổi vào phần phật. Chỗ này rất lý
tưởng để nhìn ra ngoài nhưng cũng dễ
bị cháy quần cháy áo vì những bụi than
hồng nóng đỏ, bởi vậy hình như lúc nào
cũng trống. Hèn chi, mấy toa sau đuôi là
mấy toa hạng bét. Lãnh đủ, không phải
chỉ lửa thôi mà còn khói nữa. Càng về
phía đầu máy hình như toa càng sang, chỗ
ngồi cũng lần lần đổi khác, từ băng
cây qua ghế cây, rồi chắc từ ghế cây qua
ghế nệm.
Ngay lúc xe lửa dừng lại ở điểm hẹn hò,
chỗ tránh nhau cho chuyến đi và chuyến về,
thì ông xét vé xuất hiện, mặc đồng
phục ka-ki xanh đội mũ cát-kết như lính.
Hùng mò túi quần lấy cái vé cầm sẵn
nơi tay. Cái vé màu đỏ, hình chữ nhật,
làm bằng giấy cạc-tông dày, lớn bằng cái
nắp viết. Ông xét vé bấm trên vé của
Hùng một lỗ tròn bằng mút đũa nhưng
ngần ngừ không chịu trả lại:
- Mày đi với ai?
- Một mình.
- Mày mua vé hạng ba mà ngồi toa hạng nhứt
thì sang quá rồi.
Rồi ổng cũng đưa lại, Hùng ngang nhiên
bỏ cái vé vào túi không thèm nói tiếng
nào. Có lẽ tại thấy Hùng còn nhỏ nên
ổng không muốn làm khó dễ. Hơn nữa ổng
bận quá chừng, còn biết bao nhiêu người
phải bấm. Cạch, cạch, cạch, lẹ làng như
một cái máy. Hùng ngẫm nghĩ xét vé
kiểu này cũng như không, giả sử nếu như
Hùng xuống ở ga Tân An thì vé của Hùng
làm gì có bấm lỗ. Cứ vậy mà xài
hoài sao..., a, còn màu sắc của vé nữa
chớ! Rồi đến ga Bến Lức, với mùi thơm
chua chua của thơm, của khóm. Xong đến ga Bình
Ðiền, Bình Chánh, Phú Lâm, ga nào cũng
ngừng nên chậm như rùa và mình ngồi lâu
cũng thấy chán.
Lúc vào Chợ Lớn thì mặt trời đã lố
dạng, mấy bà bạn hàng khuya hi vọng còn kịp
thì giờ đi nhóm chợ. Hùng ra đứng ở
cửa sổ nhìn mặt Sài Gòn, Sài Gòn muôn
mặt. Trước mắt Hùng là mặt xấu với
những xóm nhà lợp tôn lợp lá, vách giấy
vách cây lộn xộn không một thứ tự nào,
cái thụt vô sâu như mất hút cái ló ra
ngoài như muốn đụng mấy toa xe. Vậy mà
cũng có người sống, có trẻ con chạy chơi.
Rồi đến mặt đẹp là những con đường
thênh thang, xe cộ dập dìu, với những nhà lầu
ngăn nắp, những công viên tươi mát dọc
theo đường Hùng Vương, bịnh viện Hồng
Bàng. Còn mặt tình cảm yêu thương, mặt
ăn chơi đàng điếm, mặt cao bồi du
đãng..., mặt gì gì nữa làm sao mà nhìn
thấu được.
Cứ theo lời chỉ dẫn của chị Kim, Hùng nhảy
lên xe buýt đi Phú Nhuận. Và tìm
được cái hẻm ngó qua rạp hát Văn Cầm.
Tới cuối hẻm, Hùng khỏi cần hỏi thăm ai
cũng biết nhà nào là nhà của cô Sáu
Sương, bèn gõ cửa đứng đợi:
- Trời ơi, Hùng, sao em lên mà không cho chị
hay, chị đi đón. Cô sáu ơi, có em của
con lên chơi nè. Sao nó đi hay ghê.
Chị Kim ngạc nhiên thì ít mà Hùng ngạc
nhiên thì nhiều. Hùng ngạc nhiên vì hình
như chị Kim có bầu. Hèn chi lâu rồi
không thấy chị về Mỹ Tho...
Bây giờ Hùng cũng lên chị Kim, nhưng không
phải đi thăm mà là ở luôn với chị
để đi học. Ðại học. Bảy năm
Nguyễn Ðình Chiểu biết bao nhiêu tình, tình
thầy, tình bạn, tình yêu. Mà rồi phải
chia tay. Nhớ ngày nào Hùng mới rời quê
lên tỉnh, mà bây giờ rời tỉnh về thành
đô. Có điểm giống là mình sẽ học
một trường mới, làm một đoạn đời
mới của người học trò, nhưng có điểm
khác là ngày xưa mình còn nhỏ còn khờ,
bây giờ mình lớn, mình hiểu đời đôi
chút. Bảy năm trôi qua, chị Kim bây giờ
cũng đã có bốn nhóc, không còn ở Phú
Nhuận mà dời về Bàn Cờ. Một ngõ hẻm
chạy ra đường Nguyễn Thiện Thuật, gần
quán cà phê Năm Dưỡng, gần trường
tiểu học Phan Ðình Phùng.
Ðường xe lửa không còn, bây giờ văn minh
hơn muốn đi Sài Gòn chỉ cần nhảy lên xe
đò Á Ðông của ông Thầy Hài hoặc chui
vô mấy chiếc xe lô. Xe đò rẻ hơn
đôi chút nhưng phải chờ lâu, đông
khách mới chịu chạy, đã vậy rước khách
dọc đường giống như xe lửa nên chậm
như rùa. Xe lô mặc dù đủ khách mới
chạy nhưng nhanh hơn vì ít chỗ, đến khi
chạy thì chạy một mạch như chuyến tàu
suốt, không ghé đâu hết, cho nên nhiều bận
chỉ hơn tiếng đồng hồ là đã đến
nơi. Rồi bến xe cũ dời ra Xa Cảng Miền Tây,
nói là đi Sài Gòn nhưng chỉ tới Phú
Lâm thôi. Từ Phú Lâm vô Sài Gòn là
chuyện khác, honda ôm, xích lô máy, taxi, xe
lam..., lấy làm chân.
Nghĩ lại đời người ai cũng có số,
muốn cải cái số của mình cũng không
được. Sau khi đậu phần hai, theo thứ tự
ưu tiên Hùng quyết tâm, thứ nhất tranh mấy
cái học bổng đi ngoại quốc, thứ hai là thi
vào Phú Thọ, thứ ba Quốc Gia Hành Chánh, thứ
tư Ðại Học Sư Phạm. Còn mấy phân khoa
khác thì khỏi phải thi, coi như là bước
đường cùng. Giấc mơ này cũng đâu
có gì quá lớn đối với một học trò
giỏi như Hùng, một học trò mà không năm
nào không có ít lắm sáu lần xướng danh,
không năm nào không lãnh phần thưởng,
không năm nào không lãnh học bổng. Vậy
mà trợt vỏ chuối sạch bách, vì hình như
ngoài cái tài mình còn phải có cái "con
ông cháu cha," có cái "chi địa" kèm theo nữa
mới chắc ăn.
Mấy đứa bạn thân dính ngay vòng đầu,
thằng Lâm Trí Minh đi Pháp, thằng Quách Tinh
Văn đi Úc, thằng Nguyễn Thành Châu đi
Nhựt... rốt cuộc cái số của Hùng như
dính liền với những con số của ban B cho nên
Hùng phải vô Khoa Học Ðại Học. Bạn bè
xỉ vả:
- Xong "oral" mày biết tao làm thêm bao nhiêu bài
tập hôn? Ba ngàn hơn. Mày cứ lo đàn
địch ca hát với mấy em hoài làm sao mà
đậu được.
Hùng phân trần:
- Tụi mày vừa phải thôi. Cái vụ học
bổng đi du học thì kể như tao dở đi,
nhưng ở trường Ðiện, cái bài toán
Ðiện mười lăm câu chạy dài từ đập
Ða Nhim về Sài Gòn, rồi vô nhà, xuống
bếp..., tao không có dở à. Tao còn cho cái
thằng kế bên tao cọp-dê mà nó đậu
rồi sao?
Cái không khí đại học nó làm cho sinh
viên năm dự bị rơi vào cảnh bơ vơ lạc
lõng, nhất là những sinh viên ở tỉnh mới
lên, Hùng cảm thấy như vậy. Lạ thầy, lạ
bạn, lạ lớp, lạ giảng đường. Mấy
ngày đầu Hùng cứ như lúc nào cũng trong
tư thế chạy vòng vòng, không biết đâu
là đâu. Giáo sư, giảng viên, giảng
nghiệm viên thấy đó mà chưa chắc đã
biết mặt. Hóa học, Chu Phạm Ngọc Sơn,
điện, Lê Công Cẩn, sinh hóa học, Phạm
Hoàng Hộ... những tên tuổi của một thời.
Tình thầy trò khô khan như sa mạc. Tình bạn
bè xa xôi như cách sông cách biển. Ðại
giảng đường rộng như rạp chớp bóng,
thầy giảng bài cho năm sáu trăm sinh viên
không biết ai là ai, cũng không khác gì một
diễn viên văn nghệ văn gừng trước đám
đông khán thính giả hơn phân nửa đang
ngủ gà ngủ gật. Hết giờ, thầy ném cục
phấn còn thừa vô bảng leo lên "xế hộp" vọt
đi, học trò túa ra như vãn hát. Bạn bè
cùng quê cùng lớp với Hùng bây giờ vỏn
vẹn có hai đứa, thằng Tô Kim Tiền và thằng
Dương Văn Út. Một số xuất ngoại, một
số ở các phân khoa khác, và một số lớn
rớt học lại đệ nhất ở dưới tỉnh.
Chỉ còn bộ ba hết thời, trưa nào cũng chui
xuống cái quán dưới cầu thang phía sau
đại giảng đường ăn đu đủ ướp
nước đá lạnh. Mấy dĩa đu đủ
màu tím, màu hồng, màu vàng như đã
trở thành món ăn thuần túy của trường
Khoa Học.
Hùng ở Sài Gòn không được bao lâu
thì anh Khai, chồng chị Kim, chuyên viên sửa máy
bay của Air Việt Nam đăng đi không quân.
Không đăng đi không quân thì bộ binh sẽ
hốt, phải biết đường mà chạy trước
kẻo không kịp. Chị Kim và mấy nhóc ca bài
"đường về quê ngoại," và Hùng phải đi
tìm nhà trọ khác. Cũng may là có nhà
của chị Kim Sa, chị bà con của Hùng, gần
đó nên Hùng khỏi phải đi xa. Vẫn còn
tiếp tục cuốc bộ đến trường như mọi
ngày, vì nhà trọ mới cũng còn nằm trong khu
Bàn Cờ. Hùng nhớ mang máng hai chị Kim Sa, Kim
Phụng là bà con gì gì của trung tướng
Nguyễn Văn Mạnh. Ba Hùng có lần nói cả
dòng họ chỉ có cánh đó là phát.
Nhưng, ở nhà chị ruột thì ở không, còn
ở nhà chị bà con thì vẫn phải trả tiền.
Chính vì bận bịu cái vụ tiền đó mà
việc học hành của Hùng mới dở dang.
Ở dưới tỉnh học trò đệ nhị cấp
muốn kiếm tiền thêm cũng dễ, đi dạy kèm.
Chòm xóm quen biết nhau cũng có, bạn bè giới
thiệu cũng có. Năm bảy đứa cấp dưới
gom lại thành một lớp nhỏ, vừa tiện cho
người dạy vừa lợi cho đám học trò.
Còn ở Sài Gòn, kiếm một mối kèm tư gia
đã khó mà vấn đề di chuyển còn khó
gấp mấy lần nếu không có được một
chiếc xe gắn máy làm chân. Bởi vậy Hùng
mới đi kiếm tiền bằng cách trổ tài... đi
thi mướn. Thi bằng tú tài tráng niên.
Trước hết thi cho anh Hường bạn anh Khai cũng
đang làm Air Việt Nam. Chỉ cần có bằng tú
tài một là được hoãn dịch, mà
lương Air Việt Nam thì ngon hơn lương lính
không quân nhiều. Mười ngàn tiền công.
Chưa thi mà anh Hường đã đưa chiếc
Vélo Solex, sáu ngàn, cho Hùng chạy trước. Chi
"xộp" như vậy thì mình không làm coi cũng
không được.
- Ngày mai Hùng nhớ đưa cho anh một tấm
hình nha, loại nhỏ bỏ túi, đặng làm thẻ.
- Ừa, để Hùng về lục ngăn kéo coi có
còn tấm nào không. Mà làm thẻ gì?
- Ậy, cái thẻ này không phải dễ làm
đâu. Cách này ăn chắc, bảo đảm
không ai nghi ngờ gì hết.
Vài ngày sau lúc đi nhậu tiết canh vịt Hồng
Thập Tự, anh Hường mới lòi ra cái thẻ
nhân viên Air Việt Nam của Hùng, cho Hùng.
Không cần nấu chè cúng mà bỗng dưng
đổi tên đổi họ, đổi ngày sinh tháng
đẻ, đổi luôn cả nghề nghiệp địa
chỉ. Thi tú tài một ban B đối với Hùng
cũng dễ thôi, chỉ làm trúng hai bài toán,
bài vật lý, bài hóa học là đủ đậu
rồi. Việt văn thì làm nghị luận luân
lý kiếm thêm điểm, chớ thơ văn quên
hết rồi đâu làm nghị luận văn chương
được. Không cần dò bài, còn bao nhiêu
thi bấy nhiêu, mà Hùng cũng lấy "bình thứ"
cho anh Hường. Quả thật, vào phòng thi với
cái thẻ Air Việt Nam không ai dám hạch hỏi
Hùng một tiếng.
Lúc đó Vélo Solex và Mobylette vẫn còn thịnh
hành, mặc dù xe Sachs, Goebel của Ðức đã
bắt đầu nhập cảng mạnh. Hùng lấy làm
hài lòng với "món đồ làm của" mới có
của mình. Nhưng, có chiếc xe rồi mà thiếu
bạn bè cũng mất vui, thành thử Hùng bỏ học
về Mỹ Tho chơi. Chị em bạn gái ở tỉnh
cũng dễ mến dễ thương hơn nhiều. Ở
trên này con gái học lên dự bị Khoa Học,
chứng chỉ Toán Lý Hóa hay chứng chỉ Toán
Ðại Cương gì cũng vậy, đứa nào
đứa nấy cằn cỗi, thấy mà tội. Cái
gương mặt học trò như đã mất, thay vào
đó những ưu tư ray rứt của cuộc sống
hằng ngày, những băn khoăn phiền muộn ở
tương lai. Hùng không muốn mình sớm trở
thành ông cụ non cho nên về tỉnh hưởng
nhàn. Bồ bịch, bạn bè, cà kê dê ngỗng
vậy mà vui hơn.
Nhưng hưởng nhàn cũng đâu có dễ.
Không bao lâu ông bà già phát giác, bị
chửi như chửi giặc, bị đuổi như đuổi
tà, cho nên Hùng một phen nữa phải trồi
đầu trở về thành đô. Ðang lúc mình
chán học mà còn phải nhai lại bài cũ thì
đúng như là cơm nếp mắc mưa, nuốt hết
vô. Sức người có hạn, Hùng biết mình
có giỏi cách mấy đi nữa sớm muộn gì
rồi cũng phải đi lính. Một năm đã
không xong, bốn năm làm gì không trục trặc.
Ví dụ mình học sang năm thứ ba, thi rớt, phải
đi Thủ Ðức thì còn gì ân hận hơn.
Thà là tốc chiến tốc thắng, đi lính
trước mặc may còn đủ thì giờ lên
tướng.
Nhưng trước khi đi lính Hùng nghĩ mình
phải thi mướn một keo nữa. Kiếm tiền cách
này dễ quá không làm cũng uổng. Mười
lăm ngàn, một là thi cho thằng cháu của ông
Tổng Trưởng Giáo Dục do anh Hường giới
thiệu, hai là thi cho thằng Ngôn, bạn Hùng, bỏ
học đi lính thủy từ hồi rớt trung học
đệ nhất cấp... bây giờ đang trốn quân
dịch. Hùng chẳng nỡ bỏ bạn bè. Việc
tiền bạc thì khỏi phải lo, vì con Bé Ba bồ
thằng Ngôn đang làm vũ nữ chuyên nghiệp.
Hai đứa nó dám ăn cơm nhà hàng mỗi
ngày thì chuyện bỏ tiền ra mua cái bằng cấp
cũng là chuyện lẻ tẻ. Chỉ lo một điều
hai đứa nó gây gổ liên miên không biết
ngày nào giờ nào tan hàng rã đám. Mà
hai đứa cùng một quê, xã Tân Hiệp, có
đào bới tiên nhơn tổ đường của nhau
cũng không sao.
- Mày đừng tưởng lúc này mày làm ra
tiền nuôi tao là mày làm lên. Mày phải
nhớ hồi mày bỏ nhà đi theo tao, tao lo cho mày
không thiếu một món gì. Tao mà lấy
được bằng tú tài rồi thì mày sẽ
thấy, mười cái mặt của mày cũng vứt
sọt rác hết mà thôi.
- Thôi đi. Mặt mày sống bám chéo áo
đàn bà mà còn lớn họng.
Tụi này chửi nhau tàn khốc thiệt. Ba ngày thi,
ba ngày Hùng mang cái thẻ không phải là nhân
viên Air Con Rồng nữa mà là phóng viên nhà
báo Tia Sáng do thằng Dũng cháu thằng Ngôn làm
giùm. Ba ngày lên Ða Kao ở chơi với tụi
nó, đủ ba ngày thằng Ngôn càng tàn tệ
hơn, bị con Bé Ba xách dao rượt chạy cùng
nhà. Trốn quân dịch mà rốt cuộc cũng
phải chạy băng ra đường thoát mạng.
Chém giết nhau coi dữ tợn vậy rồi làm hòa
với nhau cũng lẹ. Mới mầy tao đó rồi anh
anh, em em cũng liền theo đó. Hùng không sao
hiểu nổi cái tình yêu có ướp chất bụi
đời này. Hợp rồi tan, tan rồi hợp từng
giờ từng phút. Cấu xé nhau rồi cũng phải
bám víu lấy nhau. Ðể sống, để cộng
sinh cộng hưởng, không tách nhau rời ra
được.
Rốt cuộc rồi thằng Ngôn cũng có bằng tú
tài một hạng "bình thứ," một cái giấy
hoãn dịch kiểu mới, như nó mong muốn.
Nhưng đối với Hùng hoãn dịch để
làm cái gì, nếu mình không có chân làm
cho một hãng thương mại của tư nhân hay
làm cho một cơ sở hành chánh của chính
phủ. Thời buổi này muốn kiếm được
một sở làm, một là phải có người
giới thiệu hai là phải bà con xa gần với mấy
xếp lớn, mà Hùng thì không hội đủ
điều kiện nào hết.
Không ngờ trong hai năm vác mặt về thành
đô, Hùng không làm nên một trò trống
gì coi được. Hùng nghĩ rằng bằng tú
tài hai ưu hạng của mình chắc rồi cũng
chỉ là cái pát-po để mở đường vào
lính mà thôi. Vào lính!
back to top
05. ÐỆ NHỨT THẬP BÁT ÐAO PHỦ THỦ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Hùng bắt buộc phải đến Nha Trang lần đầu
tiên bằng đường biển. Từ ngoài khơi
nhìn vào, Nha Trang quả là một bãi cát dài
ngút ngàn, xa tít. Bãi cát trắng mịn, im
lìm, phẳng phiu, ấp ủ bởi những lượn sóng
thì thầm nối tiếp nhau tuôn vào bờ. Thành
phố không có nhà chọc trời như trải dài
cho đến tận chân núi đang làm bình phong cho
bức tranh thủy mặc. Bầu trời xanh, trong vắt
không một gợn mây của một ngày vào thu.
Mùa nhập học, nhập khóa bắt đầu và mùa
hè, với Hùng, mùa hè cuối cùng của đời
học trò, đời sinh viên, như rồi đã
trôi qua.
Dương vận hạm Cam Ranh, HQ 500, loại tàu lớn
nhứt của Hải Quân Việt Nam lúc bấy giờ,
ủi bãi trước vòng thành của Trung Tâm Huấn
Luyện Hải Quân sau hai ngày lênh đênh ngoài
biển khơi. Cũng biết lờ mờ là Hải Quân
Việt Nam có ba Trung Tâm Huấn Luyện chính. Trung
Tâm Huấn Luyện Bổ Túc ở Sài Gòn là
trường tu nghiệp dành cho các sĩ quan trung cấp
và cao cấp. Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh là
trường đào tạo thủy thủ, lính tàu cơ
bản. Và Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang gồm hai
trường, thứ nhứt là trường Chuyên Nghiệp
Sơ Ðẳng và Cao Ðẳng, trường tu nghiệp cho
Hạ Sĩ Quan, và thứ hai là trường Sĩ Quan
Hải Quân, trường đào tạo sĩ quan, quan tàu
cơ bản. Còn trường thợ lặn, người
nhái, trường ong biển, sea bees, trường gõ
sét, trường chạy rùa... gì gì nữa ở
đâu? Làm sao mà biết hết
được! Cửa đổ bộ mở ra và toàn
khóa một trăm hai mươi tám tên, lên bờ
xếp thành năm nhóm, năm trung đội. Cao
trước thấp sau trên bãi cát xoai xoải dốc.
Ðầu óc còn lắc lư, mặt đất như
còn nghiêng qua nghiêng lại.
- Anh đi tàu có vui không?
- Dạ vui.
- Anh có mệt không?
- Dạ mệt.
- Anh có cần tôi khênh hộ anh cái sac-marin
không?
- Dạ không ạ. Cám ơn.
- Nè, anh uống miếng nước đi cho khỏe.
- Dạ... ực, ực... cám ơn anh.
Nghiêm. Ðằng trước. Bước. Một hai ba
bốn, một hai ba bốn... Hùng ngạc nhiên thấy
đàn anh chăm sóc đàn em coi bộ tử tế
quá, coi bộ tình nghĩa quá. Vậy mà nghe
thiên hạ đồn cứ ra đây là sẽ bị quay
nhừ tử, quay chết sống. Năm trung đội nối
đuôi nhau băng qua đường, hiên ngang bước
vô cổng trường, những bước chân coi như
oai hùng nhưng uể oải, nặng nề vì cái
sac-marin chất chồng trên vai. Sân cờ rộng rãi,
sạch sẽ... Dặm chân tại chỗ. Bước.
Một hai ba bốn, một hai ba bốn... Ðứng lại.
Ðứng. Nghiêm. Nghỉ. Thao diễn nghỉ, tự
do nghỉ.
Tất cả nhìn lên một cái khán đài nho
nhỏ làm tạm bằng ván ép. Khóa đàn anh
bây giờ hoàn toàn bao vây khóa đàn em vô
giữa. Một số đông vẫn tiếp tục len lỏi
vào trong hàng hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm
về chuyến hải hành vừa qua. Rồi bỗng một
tiếng hô quá lớn như xé bầu không khí:
- Nghiêm.
- Nghiêm mà anh còn nhúc nhích hả? Anh có
biết đứng nghiêm là đứng thế nào không?
- Anh. Nghiêm mà anh còn cười hả? Anh dám
giỡn mặt với đàn anh hả? Anh dám chống
đối hả? Ở ngoài kia anh chuyên môn xách
động, biểu tình, xuống đường phải
không?
- Dạ. Ðâu có.
- Dạ dạ cái gì..., chưa chi anh đã dám
học sách xin xỏ rồi.
Ô hay, sao có vụ này. Tiếng nạt nộ, tiếng
la hét của đám đàn anh thật tình có hơi
lớn, hơi rộng họng, chát chúa bên tai. Thôi
rồi, lời đồn quả không sai. Ðám hùm
hổ này sẽ quay mình như quay dế, quay cho sứt
càng gãy gọng, quay cho trầy vi tróc vảy, chưa
chắc đã thôi. Bây giờ phải làm sao
đây. Than vãn, run sợ cũng muộn rồi. Bạn
bè sao mình vậy, chết chóc ai... Một giọng
nói nhè nhẹ bên tai Hùng:
- Các anh yếu quá. Coi nè..., mới đụng
nhẹ một cái là xiểng niểng rồi. Các anh
đã thấy các anh hèn hạ chưa. Các anh
đã làm nhục nhã Hải Quân rồi, toàn là
bún thiu, tép riu.
Hùng đứng ngay ngắn trở lại, bực dọc lõ
mắt nhìn thằng cha nhỏ xíu con mà dám nói
mình riu riu. Ở Sài Gòn mà phát ngôn bừa
bãi kiểu này là bị ăn đòn rồi. Không
hiểu sao Hùng chẳng dám hở môi. Một câu
nhịn chín câu lành, chỗ này đâu phải
là chỗ đấu lý, cái luận lý một chiều
đó. Rồi như ai cũng hiểu thân phận mình,
không bao lâu chỉ còn nghe toàn là câu hỏi
mà không thấy câu trả lời. Bài diễn văn
chào mừng đàn em không ai thèm nghe vừa chấm
dứt, thì những câu nói gằn gằn như ra lệnh
cũng bắt đầu vang dội.
- Tất cả khóa 17 nghe đây. Hôm nay các anh
sẽ hân hạnh, được đàn anh các anh,
chính thức long trọng đón tiếp.
- Long trọng đón tiếp. Anh nghe chưa, long trọng
đón tiếp.
- Các anh biết các anh có tội, ...
- Có tội, có tội, có tội.
- ... đã để đàn anh các anh chờ
đợi cả năm trời.
- Chờ đợi cả năm trời, chờ đợi cả
năm trời, anh biết không?
Chỉ cần một người nói trên khán đài
là đủ nghe rồi, đâu cần cái đám
phụ đề, phụ diễn này đâu. Sao cứ nhai
đi nhai lại nhức đầu nhức óc bên tai.
- Các anh không thể để đàn anh các anh
thêm thất vọng, sau đây, để nêu cao giấc
mộng hải hồ, ...
- Giấc mộng hải hồ, giấc mộng hải hồ.
- ... các anh sẽ chạy một vòng quân trường
theo sự hướng dẫn của đàn anh các anh.
- Chỉ một vòng quân trường, một vòng
quân trường.
- Tất cả sac-marin lên vai... Chạy.
Hùng không ngờ cái đám thân cao, cẳng dài
phía trước phát vụt chạy như gió, chạy
như muốn chạy đua nước rút với khóa
đàn anh. Hùng mỏi mệt, lẹt đẹt phía
sau. Mau lên, mau lên, yếu quá, yếu quá nghe
lùng bùng bên tai. Hùng thấy hết, người
vấp té, kẻ sút giày, đứa rơi mắt kiếng,
thằng văng mũ cát-kết. Bỏ luôn. Chạy,
chạy tán loạn, chạy lộn xà ngầu, chạy như
điên. Một vòng quân trường mà sao chạy
hoài không thấy hết. Cũng không ngừng lại
được, mình như bị dòng nước lũ cuốn
trôi đi, rán theo bầu bạn như chim theo đàn.
Dồn hết sức tàn cho cuộc thử thách đầu
tiên, không thể bỏ cuộc được. Cuối
cùng Hùng cũng về đến mức ăn thua, nơi
mà sau này Hùng mới biết là Thao Diễn
Trường, thì anh em phần lớn đã ngay hàng
thẳng lối. Hùng quăng cái sac-marin, bịch,
xuống chân, đứng vô vị trí của mình.
Mồ hôi nhỏ giọt, miệng khát khô. Sức
nóng như lò than bốc lên từ mặt đất
cát, đầy sỏi đá.
- Anh. Anh đã thấy mệt chưa?
- Dạ, thấy mệt rồi.
- Mệt à, anh làm cho tôi mười cái hít
đất cho nó khỏe lại coi.
- Còn anh, anh thấy mệt chưa?
- Dạ, chưa?
- Tốt lắm. Anh ra đây nhảy thăng thiên
độn thổ với tôi. Như vầy nè..., chừng
nào tôi ngưng anh mới được ngưng nghe chưa.
Biết nói cách gì cũng không ổn rồi.
Nhưng mà mới chạy về, thà là hít đất,
nhảy xổm, đi chân vịt như tụi bị quay
riêng đằng kia còn sướng hơn là đứng
nghiêm kiểu trời trồng, không dám nhúc nhích
như thế này. Không bao lâu trời đất quay
cuồng, mấy đứa bịch bịch rồi mấy đứa
ói mửa xung quanh, Hùng cố nhớ cái sac-marin của
mình đang nằm ở phía bên nào để
lỡ có ngã xuống cũng ngã cho êm
thắm... Và Hùng mơ màng thấy mình đi về
bệnh xá, bốn vó đưa lên trời, hai tay hai
chân có bốn thằng bạn còn tỉnh cặp kè...
Cư xá sinh viên sĩ quan gồm bốn dãy nhà
trệt lợp fibro cement có tên: alpha, beta, omega và xi.
Dãy omega bị Việt Cộng pháo kích sập từ hồi
khóa 14, một đống gạch vụn vẫn còn để
y nguyên, chưa xây cất lại. Khóa đàn anh
ở mặt trước, khóa đàn em ở mặt sau.
Mười tên chung một phòng, hai giường bố
loại khung sắt hai từng để sát hai bên vách
cho tám tên, và hai giường gỗ để giữa
phòng cho hai tên còn lại. Hùng được trả
về phòng alpha 1 sau khi được chích cho một mũi
thuốc khỏe và nằm nghỉ độ hơn một giờ.
Bước chân vô phòng, thấy bạn bè để
nguyên đồ trận nằm ngủ ngổn ngang dưới
sàn xi măng. Hùng cũng chui vô trong góc làm
một giấc. Ðến chiều...
- Te, tít, tít. Te, tít, tít...
- Ê, dậy. Còi tập họp của mình kia.
Tập hợp, anh em. Tập hợp.
- Phải hôn đó cha nội? Ðể nghe kỹ
coi... Te, tít với te, tít, tít, cái nào
của mình.
- Ừ, mày có ngon thì ở đó đi mà
tít te, te tít.
Hùng ba giò bốn cẳng chạy ra sân không cần
biết ai đúng ai sai, vì chưa nghe ai dặn tận
mặt còi kêu sao là còi của mình. Thấy
cả bọn nhốn nháo xếp hàng ngoài bãi cát
trống. Những khuôn mặt bơ phờ lem luốc,
những bộ đồ xốc xếch nhăn nheo, trong phút
chốc, cả đám đã trở thành bệ rạc,
tồi tàn như đám ăn mày. Không biết
lũ đàn anh sẽ dở trò gì đây. Ăn
cơm, phải, chỉ tới giờ ăn cơm thôi, còi
tập hợp đi ăn cơm. Ði hàng một vào
phạn xá, đi bẻ góc vào bàn ăn kê khít
khít nhau thành dãy, kéo ghế một lượt, ngồi
xuống một lượt. Cá chuồn chiên, canh hầm ba
rọi, mực xào bắp cải. Mới nhìn qua tưởng
cơm quân trường chắc cũng hương vị lắm,
ai ngờ đụng đũa vô món nào cũng tanh
ói, nuốt vô muốn mửa trở ra. Rán ăn mà
lấy sức, nếu kén ăn, không ăn được
đồ ăn thì ăn đỡ cơm chan với nước
trà cho bớt mùi hôi.
Sau bữa ăn nhạt nhẽo đầu tiên đó, tất
cả về phòng căng dây bố cho giường của
mình và xếp lại đồ đạc lặt vặt cho
có ngăn nắp thứ tự... Mới ngày nào đi
thi, mới ngày nào đi khám sức khỏe, mới
ngày nào bạn bè tiễn đưa nhập trại
Bạch Ðằng 2, mới ngày nào xếp hàng lãnh
quân trang, và mới ngày nào mới tập đi diễn
hành một hai một hai, tất cả như hiện ra
trước mặt Hùng. Bây giờ, tất cả như
đã rơi vào một dĩ vãng quá xa xôi.
Không còn Sài Gòn, không còn những chiều
đưa em dạo phố. Hùng thấy bữa nay mới
như là ngày đầu tiên mình thật sự
bước vào đời lính... Te, tít, tít. Te,
tít, tít... tiếng còi tập hợp như cắt
gọn nỗi niềm suy tư của Hùng. Ủa, cái
ngày đầu tiên này chắc đã chưa chịu
chấm dứt.
Tất cả gấp rút mặc đồng phục, chạy ào
ra bãi cát tập hợp. Trời chiều đã sang
mờ mờ tối.
- Tất cả khóa 17 nghe đây. Ðêm nay,
đối với các anh, sẽ là đêm không ngủ.
Sẽ là đêm lửa trại để đánh dấu
cái giây phút các anh tự nguyện rời bỏ
cuộc đời dân chính, rời bỏ nếp sống sinh
viên, để đi xây giấc mộng hải hồ.
- Giấc mộng hải hồ. Ha ha ha...
- Sau khi nghe tiếng còi, các anh ba mươi giây
trở về phòng thay đồ tiểu lễ rồi trở ra
tập hợp lập tức. Anh nào chậm trễ sẽ
được đàn anh các anh chăm sóc chu
đáo. Te.
Chạy đi rồi lại chạy về. Hơn ba mươi
giây sau:
- Khóa 17 nghe đây. Ðàn anh các anh nhận
thấy các anh di chuyển còn chậm chạp, dềnh dàng
như hàng không mẫu hạm. Ðể cho các anh
có thể tăng thêm vận tốc, sau khi nghe tiếng
còi, các anh ba mươi giây trở về phòng mặc
thêm đại lễ, rồi mặc thêm trây-di bên
ngoài, tức khắc trở ra trình diện. Te.
Lại chạy và chạy. Cái cửa phòng sao nhỏ
quá, chạy ra chạy vô muốn đạp lẫn lên
nhau. Tiểu lễ bên trong, đại lễ bên ngoài,
rồi trây-di bên ngoài nữa. Bung cái sac-marin
tuôn hết mẹ nó lên giường, chụp cho lẹ
mặc may còn đủ thì giờ. Hơn một phút
sau:
- Tất cả nghe đây. Ðàn anh các anh nhận
thấy các anh chưa tiến bộ chút nào hết. Sau
khi nghe tiếng còi, các anh được mười giây,
lập lại mười giây, trở về phòng mang giày
không vớ, theo kiểu mười giờ mười, như
thế này..., hai chiếc giày như hai cây kim
đồng hồ. Ðồng thời mang tất cả quần
áo civil đem ra đây lập tức. Te.
Mười giờ mười thì cũng không sao, kẹt
cái không vớ, cát xúc vô giày cà nhắc
cà nhắc, khó mà chạy mau được. Mà
chậm trễ thì bị quay riêng. Sau mỗi hồi
còi, Hùng thấy số trở ra tập hợp coi như
đúng giờ đúng giấc càng lúc càng
thưa. Nhưng vẫn còn là số đông. Khôn
hồn thì lẫn vào đám đông, người ta
làm sao mình làm vậy, nổi quá cũng tiêu,
chìm quá cũng ngủm, chỉ theo đạo trung dung mới
còn cơ hội sống. Hùng thảy bộ đồ dân
chính còn sót của mình vào đống đồ
rồi trở về hàng, tự hỏi không hiểu mình
có đủ sức để theo đám đông hay
không. Mấy thằng to con lớn xác ngu quá, sợ
gì mà sợ dữ vậy. Cứ nghe còi là làm
liền như cái máy, không biết nghĩ suy. Phải
từ từ mà hành động.
- Khóa 17 nghe đây. Sau khi nghe tiếng còi, các
anh quỳ gối, hai tay để lên đầu. Te.
Ðống áo quần bắt đầu lên dàn hỏa,
tội cho mấy tên quá run sợ đem luôn mấy bộ
đồ mới đi thiêu. Trong ánh lửa bập bùng
mặt mày đàn anh tên nào trông cũng có nanh
có gút.
- Tất cả lập lại theo tôi: "Tôi từ bỏ
dân chính."
- Tôi từ bỏ dân chính.
- Lớn lên.
- Tôi từ bỏ dân chính.
- Lớn lên nữa.
- Tôi từ bỏ dân chính.
- Tất cả khóc lén, khóc lớn lên. Te.
- Hu hu. Hu hu hu hu.
- Anh. Khóc mà anh dám cười hả. Khóc
lên, khóc nữa lên.
- Hu hu. Hu hu hu hu.
- Pha-rô. Time out. Pha-rô. Ðể các anh
được say sưa với giấc mộng hải hồ, bây
giờ tất cả được phép nằm xuống, ngửa
mặt lên trời, đếm sao đêm. Te. Ðếm
lên. Lớn lên. Te.
- Một, hai, ba, bốn...
- Năm, mười, mười lăm, hai mươi...
- Tất cả cười lên. Te.
- Ha ha. Ha ha ha ha.
- Khặc khặc khặc...
- Mấy anh dám giỡn mặt với đàn anh
hả? Biểu mấy anh cười, mấy anh khóc.
Biểu mấy anh khóc, mấy anh cười. Giỡn
mặt với đại quan hả?
- Ha ha. Ha ha ha ha. Khặc khặc khặc.
- Pha-rô. Pha-rô. Tất cả quỳ gối, hai
tay lên đầu. Te.
- Kể từ giờ phút này các anh được
quyền gọi đàn anh các anh là niên trưởng
và xưng tôi. Anh nào tiếp tục anh anh, em em theo
lối dân chính sẽ được các niên
trưởng chiếu cố nồng hậu. Và tiếp theo
đây là phần giới thiệu 17 niên trưởng
"đao phủ thủ" (danh xưng của đàn anh trong ban
lo huấn nhục khóa đàn em) của các anh. Kể
từ ngày mai, những vị đao phủ thủ này sẽ
săn sóc các anh càng tận tình hơn nữa.
- Ðệ nhứt đao phủ thủ, niên trưởng
Võ Bửu Khai. Te. Khóc lên.
- Hu hu. Hu hu hu hu.
- Ðệ nhị đao phủ thủ, niên trưởng
Hà Quang Hải. Khóc lên.
- Ðệ tam đao phủ thủ, niên trưởng
Trịnh Xuân Tụng. Khóc lên.
- Ðệ tứ đao phủ thủ, niên trưởng
Dương Văn Tèo...
- Ðệ ngũ đao phủ thủ, niên trưởng
Lê Lương Ngô, khóc lên.
- Ðệ lục đao phủ thủ, niên trưởng
Huỳnh Quang Hưng, ...
- ...
- Ðệ thập thất đao phủ thủ, niên
trưởng Lý Ngọc Ẩn, khóc lên, khóc lên...
- Sau khi giải tán, tất cả đồ ăn thức
uống dân chính mà các anh mang theo phải
được thanh toán bằng mọi cách ngay trong
đêm nay. Anh nào chừa lại, bất cứ món
gì, là anh đó sẽ... "rách." Không cờ
bạc rượu chè, không cà phê thuốc lá
gì cả. Rõ chưa?
- Rõ.
- Sau khi tan hàng các anh được phép lắc lư
về phòng. Nghĩa là lăn về phòng. Rõ
chưa?
- Rõ.
- Tan hàng.
- Cố gắng.
- Anh. Anh có nghe lăn về phòng hay không mà anh
chạy. Lăn, nằm xuống, lăn. Anh dám xách
động, chống đối đàn anh hả?
Lăn lóc, trầy trụa rồi cũng lắc lư về
được phòng, may là bãi tập hợp cũng gần
cư xá. Cả bọn nhìn nhau phân vân cho số
phần trước mắt của mình. Ngày mai, ngày mai
rồi sẽ ra sao với đám đao phủ thủ, và
còn phải chịu đựng cho biết đến bao giờ.
Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh
, chi binh
kiểu cốt nhục tương tàn này thì còn huynh
đệ làm chi cho mất công. Bước đường
cùng coi như đã đến, bốn phương tám
hướng, chưa nhận ra phương nào là Ðông,
hướng nào là Tây, chưa biết đâu là
bệnh xá, chưa biết đâu là nhà tắm,
phòng vệ sinh. Làm gì hơn, đã lên lưng
cọp rồi thì chỉ còn phải cỡi thôi.
- Ê, Hùng, đâu mày phụ tao làm hết mấy
thứ này coi.
Việt, Trương Thanh Việt, thằng bạn nằm
giường dưới của Hùng, vừa nói vừa lôi
ra một đống lương khô, thịt hộp, sữa,
đường, bánh ngọt... sắp đầy trên mặt
bàn. Hùng trả lời dứt khoát:
- Trong cái cảnh thê lương này mà ăn với
uống gì nữa mậy. Tiếc rẻ làm chi, đào
lỗ chôn cha nó hết cho rồi, cho đỡ hoạn nạn.
Anh Nguyễn Thành Long, mới chịu có một tăng mà
cái chân bắt đầu có tật, kéo xà lỉa
xà lỉa đi vòng vòng hỏi thăm dầu nóng,
cũng cười hề hề chêm vào:
- Thằng Hùng nó nói trúng đó. Không
những chôn mà còn phải chôn cho thiệt kỹ
nữa. Chôn không kỹ tụi nó thấy dấu, tụi
nó moi lên thì càng chết sớm. Ở đây
xứ cát cũng dễ, bươi tay chôn cũng
được, nếu gặp đất giồng như giồng
ông Tố thì bọn mình nguy to.
Nhóm bên kia vách còn có tiếng vọng qua:
- Còn mấy bao thuốc lá này thì sao.
- Thì mày rán thức suốt đêm mà hút cho
hết.
- Tụi nó đâu có cấm hút thuốc
được. Cấm như vậy mấy thằng ghiền
chết mẹ nó hết sao. Ðâu có tàn nhẫn
dữ vậy.
- Ðàn anh là cha mẹ mà, mày muốn
được làm con cưng thì cứ giữ mà hút.
Mười giờ đêm. Còi tắt đèn. Chờ.
Ðến khi nào chỉ còn nghe tiếng ễnh ương,
bù tọt, và tiếng nhà máy đèn chạy
đêm rù rì đâu đây, cả bọn mới
dám phân tán mỏng đi đào công sự, làm
đám ma cho những cặn bã dân chính còn sót
lại. Rồi như thấm mệt, tất cả lên
giường lăn ra ngủ, chưa kịp nghĩ là suốt
cả ngày nay đâu ai đã được đi tắm.
Te, tít, tít. Te, tít, tít. Năm giờ sáng.
Tiếng còi tập hợp, sáng này còn kiêm thêm
tiếng còi đánh thức, bắt đầu nghe có
vẻ ma quái, rùng rợn. Không biết lúc nào
nó sẽ kêu, te, tít, tít, đơn giản như
vậy mà là điểm bắt đầu của một
chuyển động, một quay cuồng. Ðàn anh bàn
giao nhiệm vụ làm vệ sinh cho đàn em, thụt cầu
tiêu, chùi la-va-bô, rửa phòng tắm. Từ nhỏ
đến lớn chưa bao giờ làm việc này, bây
giờ hôi thúi, chán quá. Hệ thống nước
bị nghẹt, chảy tỏn tỏn như người ta đi
đái. Phải ra giếng lấy nước cho lẹ, nón
sắt đi nón sắt về chuyền tay nhau như dân
làm đất đi đào kinh.
Te, tít, tít. Xếp hàng đi ăn sáng, bánh
mì, chuối già, nước trà.
Te, tít, tít. Thể dục thể thao, chạy vòng
vòng bãi tập, bãi cát trống giữa cư xá
và bộ chỉ huy tiểu đoàn sinh viên sĩ quan.
Một vòng, hai vòng, ba vòng, chạy trên cát bắt
đầu thấy giống như chạy trên bùn. Bốn
vòng, bước nào cũng thấy lún xuống sâu.
Năm vòng, có mấy tên mặt mày tái xanh.
Sáu vòng, có thằng ói mửa. Bảy vòng, ngã
lịch bịch dọc đường. Tám vòng, nằm la
liệt. Chín vòng, còn một số đi bộ.
Mười vòng, mười một vòng..., chỉ còn
mấy cán bộ đàn anh, mấy cán bộ không
có nhiệm vụ quay:
- Yếu quá. Các anh yếu quá, phải chạy
tối thiểu là hai chục vòng.
Sau đó đỡ hơn, tập đi thao diễn, một hai
ba bốn, một hai ba bốn, cho đến trưa.
Te, tít, tít. Mồ hôi như tắm mà vẫn phải
xếp hàng đi vào phòng ăn, thứ tự từng trung
đội, đi bẻ góc vô bàn ăn rất đàng
hoàng, lịch sự. Bò ra-gu, canh rau muống, gà kho
sả ớt, coi bộ có lý...
Te... Ðàn anh bỗng dưng ở đâu túa ra
đông nghẹt. Hùng linh tính như có chuyện
chẳng lành. Cái gì nữa đây, trời
đánh tránh bữa ăn nghen.
- Khóa 17 nghe đây. Tất cả kéo ghế ra. Te.
- Tất cả xoay bệ ghế vào trong. Te.
- Tất cả quỳ gối lên, hai tay lên đầu. Te.
Á, quỳ gối hai tay lên đầu. Ðúng là
đàn anh không sợ trời đánh. Một số
còn tự nhiên len lỏi vào trong hàng ngũ đàn
em hỏi thăm sức khỏe từng người.
- Trái này là trái gì, anh.
- Trái ớt.
- Trái này mà là trái ớt à. Trái này
là trái chuối các anh biết không. Ai mà còn
nói trái ớt là sẽ rách với tôi. Anh,
trái này là trái gì?
- Trái chuối.
- Ðược lắm. Anh ăn trái chuối này cho
tôi coi. Hả miệng ra.
- Anh có cần uống rượu khai vị không?
- Không.
- Anh, chén này là chén gì?
- Nước mắm.
- Ai dám nói với anh là nước mắm, là
rượu khai vị của Hải Quân anh biết chưa.
Anh uống vô cho tôi coi...
- Pha-rô. Sau khi nghe tiếng còi, tất cả ba
mươi giây chun xuống bàn. Te.
- Sủa lên, sủa to lên. Te.
Vừa chật chội, vừa nóng nực, mà đứa
này phải sủa vô mặt đứa kia. Mấy tấm
drap trải bàn che khuất ánh sáng, mặt mày
thằng nào trông cũng đen như lọ chảo.
Sủa mậy, sủa đi mậy. Quấu quấu, quấu
quấu. Quấu...
- Pha-rô, pha-rô.
- Tất cả chun ra ngồi vào ghế. Te.
- Tất cả bới cơm vào chén. Te.
Xoong cơm bây giờ thiệt đúng là xoong cháo
heo. Lợi dụng lúc đàn em làm chó, đám
đàn anh xấu bụng đã đổ hết mấy món
ăn vô xoong cơm, trộn lộn xà ngầu. Trộn
luôn mấy miếng vỏ chuối lai-sét, thấy bắt
gớm.
- Tất cả phải ăn hết chén cơm trước
mặt trong vòng ba mươi giây, anh nào chậm trễ
sẽ lãnh phần còn lại. Te.
- Yếu quá. Khóa 17 yếu quá, có cái ăn
mà cũng không xong. Yếu quá.
- Tất cả bới cơm vào chén. Te.
- Ăn. Te.
Ðược nửa chén thứ hai, Hùng muốn ói trở
ra. Chịu thôi, phen này không theo nổi đám
đông được rồi, phải chịu lãnh phần
ăn hết nồi cơm thôi, Hùng buông đũa.
- Anh. Anh theo tôi ra đây. Anh dám chê cơm
Hải Quân hả, vậy là anh không muốn sống
rồi. Anh đi bằng đầu gối giáp vòng phòng
ăn này cho tôi.
Ðược. Bị quay riêng như vầy còn sướng
hơn là ăn cái đống hổ lốn đó nhiều.
Chén thứ ba, có thêm mấy tên nữa đi đầu
gối với Hùng. Chén thứ tư, gần nửa
khóa. Chén thứ năm, còn lại có mấy thằng,
bụng nào mà ăn dữ vậy. Chén thứ
sáu... Rồi người cuối cùng là thằng
Ðỗ Văn Quả cũng phải tham gia công tác vừa
đi đầu gối, vừa sủa ma trơi mà thôi.
Mấy bà chị, mấy cô em làm trong phạn xá
không cầm được nước mắt, khăn mù-soa
sụt sùi.
Chắc thấy chưa đủ "dose," đàn anh sau đó
tập hợp đàn em ngoài bãi tập. Toàn bộ
17 đao phủ thủ dàn hàng ngang trước mặt.
Người mặc áo rằn ri, kẻ mặc đồ thái
cực đạo, tên này vận quần đùi áo
lính, tên kia quấn cái quần dài ở trần trùi
trụi. Ðội mũ lệch, đội mũ nghiêng,
đội mũ ngược. Ðằng đằng sát
khí, không mặt nào giống mặt nào.
- Như đã hứa với các anh, hôm nay các anh
sẽ được các đao phủ thủ tận tình
săn sóc.
- Tận tình săn sóc.
- Ðể bắt đầu, các anh sẽ chạy
đường trường vòng quanh sân tập. Anh nào
tự động rời bỏ hàng ngũ sẽ được
tiếp đãi riêng rẽ. Te. Chạy. Te.
Mới ăn no mà bắt chạy thì không hợp vệ
sinh chút nào hết. Hình như có kinh nghiệm
buổi sáng, cho nên đám dẫn đầu chỉ chạy
từ từ thôi. Năm vòng, chưa tên nào
đào ngũ, mới đó mà tiến bộ thật.
Sáu vòng, bắt đầu có người ngã ngựa.
Rồi mấy vòng nữa tiếp theo, nhiều tên ói
mửa lai láng, nằm rải rác khắp bãi cát, thoi
thóp như chờ chết. Không biết tới vòng
thứ mấy thì cả khóa đều bị quay riêng.
Nguyên bãi tập gần ba trăm người, hễ thấy
ai đứng thì biết là đàn anh. Ðàn anh
thì có ba tốp, tốp quay, tốp cứu bồ, và
tốp cho nước. Ðàn em thì chỉ có bò,
trườn, lăn lộn, bơi ngửa, bơi xấp như
một đàn siêu, hải cẩu, trong cái biển cát.
Hải âu phi xứ, ngửa mặt lên trời vỗ cánh
đếm sao trưa là sung sướng nhất, còn
được cái cơ hội để nghỉ mệt,
để lấy hơi.
Ở phía hàng rào trường Kỹ Thuật có mấy
tên không biết chống đối đàn anh cỡ nào
mà bị chôn sống chỉ còn ngo ngoe có hai cánh
tay và cái đầu lòi ra trên mặt cát. Chỉ
còn thiếu cái cày và cặp trâu nữa là xong.
Ở phía câu lạc bộ của Ðoàn Viên còn
một nhóm đang lăn cái thùng phi, có một tên
bị thụt đầu trong đó, quay vòng vòng như
khúc gỗ. Một tên nữa đang biểu diễn một
nghề mới của người hát xiệc, nghề "người
đi trên thùng phi." Nếu người hát xiệc
không đóng được tuồng thì người hát
xiệc sẽ trở thành khúc gỗ, bởi vậy dầu
thùng phi lắc lư cách mấy cũng phải rán mà
giữ mình, rán mà đi cho vững.
Vì lúc nào cũng bận rộn với những động
tác ngoài ý muốn của mình, mà thời giờ qua
mau. Lúc sắp tàn cuộc thì trời đã về
chiều. Tất cả được tập hợp bên cái
giếng lớn, để làm lễ "chào đời."
- Tất cả quỳ gối, hai tay lên đầu. Te.
- Kể từ giờ phút này, đàn anh tuyên bố
cho các anh được làm lớp trứng mới, lớp
"trứng thúi."
- Trứng th... úi, thúi quá đi.
- Trong tương lai các anh tuần tự sẽ
được nở ra nòng nọc, nòng nọc sẽ
đứt đuôi thành nhái, mới được đi
bờ, đi phố, đi Nha Trang.
- Úi chà, đi Nha Trang.
- Tất cả bắt đầu lạy. Ba lạy,
một... hai... ba...
Những giọt nước mát, chảy từ đầu xuống
cổ, vừa đủ thấm vào bâu áo, thấm vào
da thịt như làm sống lại cái thân thể khô
khan, gầy gò, bụi bậm. Ðàn anh chỉ làm
được có bao nhiêu đó rồi từ từ rút
lui. Từng nón sắt một, rồi hàng chục, hàng
trăm nón sắt nữa dội vào nhau tung tóe.
Ðàn anh đã đi xa, tiếng cười giỡn,
chửi thề, văng tục như hiện về từ cõi
chết, như được nghe lại lần đầu trong
thế giới 17.
Bóng đêm đã về. Xong được ngày
thứ hai. Ðược tắm rửa sạch sẽ,
được nhìn lại mình trong gương,
được cầm lược chẻ ngôi làn tóc,
những động tác thường ngày mới đó
mà tưởng chừng như xa lạ. Thả lưng lên
giường thấy thỏa mãn làm sao. Chắc phải
viết thư về nhà diễn tả cái cảnh nửa
đau thương nửa thú vị này. Cuộc đời
trong quân ngũ bắt buộc phải khác cuộc đời
thường tục rồi. Ai nỡ bỏ lỡ cái cơ
hội này.
- Te, tít, tít. Te, tít, tít. Te, tít, tít.
Thôi rồi, ngày thứ hai này chắc cũng chưa
đã chịu hết. Mới được sạch sẽ
một chút, chẳng lẽ lại làm cho dơ trở lại.
Ðàn anh không chịu để mình yên. Tập
hợp, tập hợp, tập hợp hoài. Nhưng, khác
hơn mấy lần trước, lần này cả khóa
được hướng dẫn lên giảng đường
17. Vậy là đêm nay mình sẽ không bị hành
tội, tưởng gì chớ đi học ca, học hát
thì dễ rồi.
Toán chiến sĩ hải quân ra
khơi hôm nay. Trời nước Nam gió khơi nồng
máu say. Ra đi không vương thê nhi, miền Bắc
núi tuyết rét mướt, thân phơi trên Nam Băng
Dương, trải trên ngàn trùng sóng... Ra khơi
sóng vang rạt rào, mênh mông sóng va thân tàu,
nghe âm u, ù ù, át tiếng máy, ầm ầm, quân
ta reo, rầm rầm, tàu nhấp nhô. Mờ mờ xa mây
núi, mờ mờ xa mây núi. Ði không vương
bến bờ, chờ. Ra khơi trùng dương bát
ngát. Ngày về tổ quốc ghi tên
. Rồi
tiếp theo,
Ðây Bạch Ðằng Giang, sông hùng
dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc
Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung. Trên trời
xanh
... rồi đến
Ðường trường xa
muôn vó câu bay dập dồn, đoàn hùng
binh
... Bỗng nhiên đèn tắt tối mù, và
những tiếng hô brimade, brimade vang dội như trời long
đất lở. Tới nữa rồi, đàn anh tới
nữa rồi. Cả bọn đang hồn vía lên mây,
nhốn nháo như ong vỡ tổ, thì đèn bực
sáng lên. Lại những tên đao phủ thủ.
- Te. Ðàn anh nhận thấy các anh ca hát rất
tồi. Các anh chỉ biết sủa thôi. Tất cả
quỳ gối hai tay lên đầu. Sủa lên, sủa
lớn lên. Te.
Sủa thì sủa, có hại ai. Tru cũng được.
Mà nghe kia, có tiếng tru của đứa nào vừa
lớn vừa trong, lanh lảnh không thua gì tiếng chó
sói thiệt. Nghe rợn người, đã vậy còn
có phần phụ diễn đèn màu, lúc cháy lúc
tắt của đám đàn anh nữa.
- Chun xuống bàn và tiếp tục sủa. Te.
- Pha-rô. Tất cả chun ra đi đầu gối vòng
vòng giảng đường. Te.
- Tất cả xăn ống quần khỏi đầu
gối. Te.
Da người cạ với xi-măng làm sao khỏi mòn,
khỏi đau. Vậy mà có một tên đàn anh
chơi dại dám cầm một bụm cát rải rải
trên lối đi. Trông như xác pháo tả tơi,
vì mỗi bước đi đầu gối là mỗi
tiếng nổ. Xổ ống quần phủ một đầu
gối, để làm cây nạng chịu đựng, gánh
gồng. Rồi cũng bị bắt xăn lên, rồi cũng
lén xổ xuống.
- Anh. Anh có biết con này là con gì không?
- Con nhái.
- Anh mới chỉ là cái trứng thúi mà dám
gọi con này là con nhái hả. Con này là ông
nội của anh, anh biết chưa. Hôn ông nội anh
một cái coi.
- Hôn kiểu gì kỳ vâỵ, anh không biết
nút lưỡi hả?
- Anh kia. Anh dám cười hả. Mút ông nội
anh một miếng coi.
- Mút ông nội anh một miếng.
- Mút ông nội anh một miếng.
- Các anh làm quá ông nội hết xí quách
rồi, trắng chạch mẹ nó rồi. Anh này, hả
to họng ra. Nuốt luôn ông nội anh đi.
- Ực...
Ðêm hôm đó trời đổ cơn mưa. Hùng
tréo chân dựa lưng trên bệ cửa sổ ngó ra
hàng thông mới trồng mà lòng thấy bâng
khuâng. Những hạt mưa vô tình đã xóa tan
dấu vết của chỗ chôn đồ dân chính,
thành một mặt cát phẳng. Ánh đèn vàng
vọt từ phạn xá, từ bên kia hàng rào Kho
Ðạn, phản chiếu những giọt mưa đang trở
thành lâm râm, càng làm bóng đêm thêm
mờ ảo. Nha Trang buồn, Hùng nghĩ vậy, mặc dù
chưa biết Nha Trang trong ruột như thế nào... Xong,
kể như qua được ngày thứ hai.
- Hùng, nước trong phòng hết rồi, tới phiên
mày đi lấy kìa.
Thằng Phước, Nguyễn Thành Phước tới giục
Hùng như vậy.
- Tới giờ đi ngủ rồi mà ăn với uống
gì nữa mậy.
Tuy miệng nói vậy nhưng Hùng cũng biết bổn
phận, nhảy xuống lấy cái nón sắt chạy xuống
nhà ăn. Nồi nước trà còn lưng lưng,
ấm ấm. Hùng chụp cái gáo múc đổ vô
nón liên tục, rồi ba chân bốn cẳng chạy về,
cứ sợ gặp phải đàn anh. Nhưng chạy trời
không khỏi nắng, vừa ra khỏi cửa thì nghe tiếng
quát tháo:
- Anh kia, giờ này mà anh chạy đi đâu.
- Dạ, đi lấy nước cho anh em, niên trưởng.
- Chớ cái lũ đó không có chân không
có tay hay sao mà anh phải lấy giùm. Anh giỏi
lấy thì anh phải giỏi uống. Uống vô cho
tôi coi.
- Uống hết?
- Còn chờ đợi gì nữa.
Kê miệng uống ở vành nón thế nào nước
cũng chảy ướt áo, mà phải chịu ướt
áo không thôi thì bể bụng. Phải biết hy
sinh. Làm xong mhiệm vụ, Hùng chào đàn anh
cái cụp, xách nón không chạy tuốt về phòng
không dám ngó ngoái lại.
- Nước đâu mậy? Hết rồi hả?
- Còn. Mà nhịn khát đi ngủ đi. Hay là
mày muốn uống thêm một cái nón sắt nữa
như tao thì cứ đi thử coi.
Hùng vỗ cái bụng chông bốc, ướt nhẹp
mấy cái rồi nhảy lên giường. Bây giờ
mới thiệt là đã qua được ngày thứ hai.
Ngày thứ ba cũng bắt đầu bằng thụt cầu
tiêu, chùi la-va-bô, rửa phòng tắm. Cũng ăn
sáng, chuối già bánh mì nước trà. Cũng
chạy thể dục thể thao vòng vòng bãi tập.
Cũng đi diễn hành một hai ba bốn, một hai ba
bốn, nhưng bây giờ có kèm thêm phần văn
nghệ, vừa đi vừa hát.
Toán chiến sĩ
hải quân ra khơi hôm nay... Ðây Bạch
Ðằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống
Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam
Bắc Trung
... Và chỉ học thêm được
mỗi cái nghề đánh giày. Ðánh ci-ra
ướt với nước và bông gòn, không bóng
không được đi ăn cơm. Bữa ăn trưa
ngày thứ ba thiếu sót rất nhiều, không có
rượu khai vị, không có cháo heo, không có
lai-sét, và cũng không có chó gặm xương.
Ðàn anh chắc đã thông cảm rồi. Ðàn
anh đã biết,
huynh đệ chi binh là cùng chung
đời lính yêu nhau khác chi nhân tình
.
Nhưng, đàn anh đàn em sinh viên sĩ quan hải
quân yêu nhau một cách khác. Bảo đảm
thấm thía hơn nhân tình nhiều. Sau buổi cơm
trưa chừng nửa giờ thì đã nghe te, tít,
tít. Ðàn anh báo một tin buồn, anh Vũ Thế
Tiệp đã chính thức đi vào lòng đại
dương từ bệnh xá quân trường. Mặc
dù mãi sau này anh em mới biết anh Tiệp chết
vì bị ảnh hưởng của bịnh đái
đường, nhưng cái chết của anh lúc đó
đã làm tinh thần anh em bị chấn động, sa
sút. Ai nấy đâm lo cho số phận của mình,
không biết có nên bỏ cuộc nửa chừng, hay
có nên chống báng cái đường lối huấn
nhục hành hình kiểu kia. Nhưng nghĩ cho cùng,
mình cũng không còn cái quyền chọn lựa.
- Các anh đã làm nhục Hải Quân, mới vào
đây có hai ngày mà đã chết một
người rồi. Các anh phải chết thêm mười
sáu mạng nữa thì mới xứng đáng làm quan,
quan tàu, các anh hiểu chưa.
Có người hy sinh, tưởng là mức độ quay
sẽ được giảm xuống đôi chút nào
ngờ giảm không giảm mà lại tăng, tăng vùng
vụt. Từ đi đầu gối trên cát chuyển sang
đi đầu gối trên vỉ sắt, rồi tới luôn,
đi đầu gối trên vỉ sắt lật ngược.
Từ đầu gối bọc quần chuyển sang đầu gối
trần, một bước đầu gối một tiếng
kêu... xèo... trên vỉ sắt nóng. Từ quần
áo, giày vớ chuyển sang da thịt, tay chân, thân
thể:
- Anh. Tại sao anh dám để râu của anh mọc
lởm chởm vậy hả? Nè, tôi giao anh hai miếng
ngói này, anh vừa nhảy thăng thiên độn thổ
vừa kẹp và nhổ hết đám râu đó cho
tôi.
- Còn anh. Râu anh cụt quá không nhổ
được đâu. Anh lại nền xi măng đằng
kia vừa hít đất vừa mài râu... nhẵn nhụi
cho tôi coi.
- Móng tay nhọn?. Mài luôn!
Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi
,
cái câu này bây giờ nghe chán ngắt.
Máu
chưa chảy ruột sao mềm
. Phải rồi, phải có
máu chảy mới có đi bệnh xá, phải có đi
bệnh xá mới có băng bó, phải có băng bó
mới có miễn quay. Vậy mà sợ quá nghĩ
không ra. Tàn trận nướng thân trên vỉ
sắt, hết nửa khóa nối đuôi nhau đi thăm
mấy cô y tá.
Ðêm thứ ba đàn anh mũi lòng trước cảnh
máu đổ thịt rơi, tự động ân xá
đàn em. Ðể thay thế trò chơi brimade,
đàn em sẽ trình diễn cống hiến đàn anh
một đêm văn nghệ không ngừng, vì ngừng
là bị quay tiếp. Ðàn anh hôm nay sang hơn
một chút, lên làm vua, làm chúa, làm đại
thần. Kiệu vua, kiệu chúa, kiệu đại thần
làm bằng mấy cái... giường sắt cũng có
hoa có tụi bằng... drap trải giường, được
hộ tống nghênh ngang ngoài bãi cát. Võng anh
đi trước, võng nàng theo sau. Cũng có cung
tần mỹ nữ mặc robe, jupe, cũng có vú bự vú
nhỏ kèm theo kiệu cho mấy ngài. Thêm vài tên
đấm bóp giả làm thái giám là đủ mặt
bá quan văn võ triều đình.
- Nè anh kia. Anh kiếm đâu cái con tiện tỳ
này nó hôi nách quá. Anh đuổi cổ nó
đi cho tôi coi... đi đi cha. Anh kiếm cho đại
quan một con khác coi.
- Tuân lệnh.
Ðêm văn nghệ chửi nhỏ, chửi khéo, chửi
xiên, chửi xéo đàn anh bị lộ tẩy cho nên
chương trình bị bắt buộc phải ngưng ngang
nửa chừng. Và đêm thứ ba cũng chấm dứt
bằng một cơn quay nhừ tử.
Qua ngày sau, cả khóa đi chích TAB. Mấy ngày
ăn cháo, mấy ngày đàn anh không dám
động mình tới một cọng lông. Nhờ cánh
tay đau nhức tăng tăng mà cái thân đỡ
khổ. Lúc hết thuốc thì chương trình ôn
toán đại cương, kèm thêm phần tam giác
cầu của Hải quân đại úy Lê Phụng cũng
bắt đầu. Vậy mà chương trình huấn
nhục vẫn tiếp tục dài dài, xen kẽ với
chương trình học. Ðến ba tháng, cũng may
là cường độ giảm dần, giảm dần.
Tuần thứ sáu đánh đấu bằng lễ nở ra
nòng nọc, và tuần thứ mười hai đánh
dấu bằng lễ nòng nọc đứt đuôi thành
nhái. Cũng tại cái giếng lớn nhưng hai lần
sau này không những có nước giếng mà còn
có xà bông, kem đánh răng, ci-ra tri trét lên
đầu. Nhưng, kỷ niệm ý nghĩa nhất có
lẽ là lễ nhận "bố con," Hùng có bố là
đàn anh Lê Quang Trung hiền như cục bột. Tội
cho những bác, chú bị tuyệt dòng không con, vì
khóa 17 ít người hơn, phải nhận cháu, con
của bạn. Ðêm bố con là đêm làm giàu
cho câu lạc bộ, bố phải đãi con, nhiều khi con
lẫn cháu, một chầu. Ba tháng trời chỉ có
cơm quân trường, đám con cháu nhìn món
nào cũng thấy thèm thấy ngon, kêu món nào
cũng thấy láng thấy hết, trong tíc tắc. Bố
chỉ nhìn và thông cảm, vì đoạn trường
này bố cũng đã qua cầu.
Một ngày di hành lên Hòn Chồng, và một
chuyến hải hành ra Qui Nhơn, những tiết mục sau
cùng trước ngày gắn alpha và đêm dạ vũ,
cũng được tuần tự diễn ra theo đúng
lịch trình. Gắn alpha, cánh cửa bước vào
đời sĩ quan, Hùng cảm thấy... nó ngoạn mục
làm sao.
Rồi chương trình học chính thức bắt
đầu. Những môn căn bản của sĩ quan như:
Hàng Hải Cận Duyên, Hàng Hải Viễn Duyên,
Hàng Hải Thiên Văn, Vận Chuyển Ðội Hình,
Vận Chuyển Chiến Thuật, Hải Pháo (yểm trợ
và phòng không), Ngư Lôi tức torpedo, Thủy Lôi
là depth charge, Lãnh Ðạo Chỉ Huy... v. v. Vì
phải lãnh đạo chỉ huy nên sĩ quan cũng phải
học sơ qua 14 nghề của thủy thủ: Phòng Tai (cứu
hỏa), Cơ Khí, Ðiện Khí, Giám Lộ (cờ
đèn), Ra-dar So-nar, Trọng Pháo, Truyền Tin, Vận
Chuyển, Bí Thư, Tiếp Liệu, Ẩm Thực, Chiêu
Ðãi... Và những món ăn chơi như Khiêu
Vũ, Thái Cực Ðạo, Xã Giao Hải
Quân... Thời gian huấn nhục đã đi sâu
vào tiềm thức, thấy kính mến đàn anh vô
bờ, thấy mình trở nên cứng rắn như sẽ
không còn cảnh ngộ nào làm mình lay chuyển
nản lòng, và như sẽ không còn biết thế
nào là xúc động, rơi nước mắt.
... Rồi thời gian thấm thoát qua mau:
- Tất cả khóa 18 nghe đây. Te. Các anh
phải biết là các anh có tội.
- Có tội, có tội.
- Ðã để đàn anh các anh chờ đợi
cả năm trời.
- Chờ đợi cả năm trời..., chờ đợi
cả năm trời...
... Và, mười tám đao phủ thủ cho khóa
đàn em cũng được trân trọng giới thiệu.
- ...
- Ðệ tứ thập ngũ đao phủ thủ, niên
trưởng Trịnh Xuân Tiểu.
- Khóc lên...
- Ðệ tam thập lục đao phủ thủ, niên
trưởng Nguyễn Bích Ngân.
- Khóc lên...
- Ðệ nhị thập thất đao phủ thủ, niên
trưởng Nguyễn Ðức Nghĩa.
- Có ta đây...
- Ðệ nhất thập bát đao phủ thủ, niên
trưởng Nguyễn...
Không đợi đọc hết tên, Hùng đã
nhảy lên khán đài như một võ sĩ vô
địch, chấp tay bái tạ cùng đất
trời. Nguyện sẽ tận tình săn sóc đàn
em, nguyện sẽ giữ gìn truyền thống Hải Quân
như số phần đã định. Hùng rống lên
vang dội:
- Ta là đệ nhất... thập bát đao phủ
thủ...
back to top
06. SỢI DÂY ÐỊNH MỆNH
NGUYỄN TẤN HƯNG
Trong khi tất cả bạn cùng khóa đang say sưa
với giấc mộng hải hồ, thì tôi bị gởi
về trường Cây Mai để tiếp tục... học
tập. Trường Cây Mai, mới nghe ai cũng mường
tượng đây là một trường tiểu học
với đàn trẻ nhỏ trong lứa tuổi ngậm ô mai,
chớ đâu ai ngờ đây là trường Tình
Báo của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Một
trung tâm đào tạo những nhân viên nòng cốt
cho CIA Việt Nam.
Nói là bị hoàn toàn thì cũng không đúng
lắm, phải nói là nửa bị nửa được
thì hợp lý hơn. Nửa bị là vì tôi
cũng như bạn bè đang còn yêu nếp sống
hải hồ. Hơn một năm đi tàu và sáu
tháng Duyên Ðoàn thì đã thấm vào
đâu. Lính tàu mà không đủ thời gian
đi tàu, không có Hải Vụ Bội Tinh thì
đâu phải là lính tàu. Vả lại cái
nghề hải quân vẫn thấy hay, thấy đẹp hơn
cái nghề tình báo nhiều. Còn nửa
được là vì tôi cũng như bạn bè
đều muốn ca bài...
về miền thành đô
yêu dấu
..., đều muốn được đi phép
dài hạn ở Sài Gòn.
Ði phép dài hạn ở Sài Gòn thì có, nhưng
dạo phố Sài Gòn dài hạn thì hình như
không. Tại vì tất cả các sĩ quan khóa sinh
đều bị đặt trong tình trạng nội trú,
đều bị bắt buộc phải ăn cơm nấu bằng
chảo đụng, giống y hệt như tất cả mọi
quân trường. Không có trường hợp ngoại
lệ, kể cả cái trường Cây Mai nằm trong
Chợ Lớn này. Thuở đời nay, ngay giữa kinh
đô ánh sáng mà cũng còn cái cảnh vợ
con thăm nuôi.
Cũng như tất cả các sĩ quan bạn, tôi cứ
nghĩ sau khi mãn khóa mình sẽ trở thành Z.28.
Nhưng Z.28 làm sao sống nổi với lương lính
ở Việt Nam, cho nên rốt cuộc rồi tôi cũng
chỉ kéo dài thêm những năm tiền lính, tính
liền chứ chẳng có gì thay đổi lớn. Thật
ra, nghề tình báo, nói tổng quát, là nghề
nghiên cứu về địch, về kẻ thù. Thế
thôi. Dân thường, lính thường, quan
thường đâu dám công khai bàn bạc về Bác
và Ðảng, về Trung Ương Cục, về Trường
Chinh, về Võ Nguyên Giáp, về ngay cả cái tin
báo... Nguyễn Chí Thanh đã chết trên
đường mòn Hồ Chí Minh vì ăn bom
B.52... Công khai bàn bạc như vậy thì khỏi
cần chụp mũ cũng bị đi tù. Dân mình
mà, nói động tới Tổng Thống một chút
thì cũng đã vô khám rồi nói chi đến
vấn đề tìm hiểu Bác, làm quen Bác dù
chỉ qua tài liệu tin tức.
Nghiên cứu về địch muốn có hiệu nghiệm
chắc phải theo đúng binh thư Tôn Võ Tử cho
nên mới đẻ ra cái vòng lẩn quẩn
chu kỳ
tình báo
. Tin báo đưa về, mình ra công
phối kiểm, nhận định, đúc kết, rồi phổ
biến ra thành tin tức. Tin tức của mình trở
thành tin báo của người khác. Tình báo
mà, đâu ai tin ai. Lại ra công phối kiểm,
nhận định, đúc kết, rồi phổ biến thành
tin tức. Tin báo có cái sốt dẻo của nó,
như cơm nóng. Và tin tức có cái nguội
lạnh của nó, như cơm nguội. Nóng và
nguội. Nóng chưa chắc đã ngon mà nguội
chưa chắc đã dở. Ậy! Mà tin báo, tin
tức ở đâu ra? Từ nguồn tin! Vậy nguồn
tin là gì? Là mật báo viên, là cơ quan
bạn, là tù binh, là không ảnh, là báo chí,
là truyền hình, là bạn bè, là vợ con, là
Mỹ... vv. Nhưng, nguồn tin nào là nguồn tin
thật và nguồn tin nào là nguồn tin giả? Cái
đó mới là điều đáng quan tâm, cái
đó mới là điều đáng nói. Ðấy,
trên đây là tất cả những gì cần nói
của chứng chỉ
Tình Báo Ðại Cương
.
Tôi tốt nghiệp một lần nữa, lần này quan
trọng không phải là ưu, bình, thứ, mà quan
trọng là ở lời phê bình của hội đồng
giám khảo.
Có khả năng về thẩm vấn
,
mấy chữ vắn tắt như vậy có thể thay đổi
cả cuộc đời. Nhưng, đối với tôi thì
khác, trước sau gì cũng là sĩ quan hải
quân, nghề tình báo như nghề tay trái. Hơn
nữa học tình báo là một chuyện mà làm
tình báo lại là một chuyện khác, ai chả
biết chuyện trong trường và chuyện ngoài
đời khác nhau một trời một vực.
Không biết cái đơn xin phục vụ gần nguyên
quán của tôi với lý do cha mẹ già, anh tử
trận có được cứu xét hay không mà trung
tá Trần Văn Hớn, trưởng phòng Nhì bộ tư
lệnh Hải Quân, kêu tôi vào văn phòng trình
diện:
- Anh được chỉ định làm "nai lô" Trà
Cú, bắt đầu vào đầu tháng tới.
- Dạ.
- Anh có gì hỏi không?
- Dạ không.
Nilo đọc là nai lô, chữ viết tắt của chữ
Naval Intelligence Liaision Officer, sĩ quan liên lạc tình
báo hải quân. Khác xa với đề-lô bên
pháo binh mặc dù lô nào cũng đi tiên phong,
cũng sống ở ngoài
field
. Ði nai lô thì
dễ hiểu rồi nhưng Trà Cú thì tôi chưa
rõ là nơi nào. Tôi nhớ mang máng là một
địa danh ở miệt Trà Vinh, Sóc Trăng, miệt
có nhiều người Việt gốc Miên. Một thắc
mắc lớn như vậy mà tại sao lúc đó mình
không đặt vấn đề với trưởng phòng?
Nhưng Trà Cú không thể ở miền Trung, tôi
dám chắc như bắp. Dầu gì cũng ở miền
Nam, chẳng xa đường đi mà lại gần nhân
nghĩa, tôi hay nghĩ như vậy.
Nhưng rốt cuộc đường đi thì có gần,
nhưng nhân nghĩa thì xa. Ðường đi gần
vì Trà Cú này là Trà Cú ở vùng Mỏ
Vẹt. Gần là gần đường chim bay thôi, chớ
muốn tới Trà Cú cũng phải mất cả ngày
đường. Mà nói là cả ngày đường
cho dễ nghe chớ thật ra đường xe lửa không
có mà đường lộ đá cũng không có
luôn. Ðộc đạo chỉ còn thủy vận.
Không vận thì sang quá cho thân phận nai lô,
tôi không dám nghĩ tới. Xuống Bến Lức
theo tàu tuần ngược dòng Vàm Cỏ Ðông,
ngủ một giấc thì sẽ đến nơi. Còn
nhân nghĩa thì xa là vì trong vùng Mỏ Vẹt
làm gì có dân chúng, nhà cửa. Chỉ có
một căn cứ trơ trọi giữa cái bao la của
ruộng đồng, tiếp nối với đồng Tháp
Mười quanh năm phèn chua nước đọng.
Chiều trên Phá Tam Giang
..., không hiểu chiều
trên Phá Tam Giang đẹp như thế nào, nhưng
chiều trên Vàm Cỏ Ðông thì thật là thơm
tho, muôn hình vạn trạng. Thơm tho vì hai bên
bờ sông là rẫy thơm, rẫy khóm. Những
luống thơm, luống khóm song song chạy dài xa tít
vào trong bờ, ngay hàng thẳng lối không khác gì
ở đồn điền cao su. Cả một bầu trời
ngào ngạt mùi thơm! Muôn hình vạn trạng
thì chỉ dành riêng cho những người như tôi
mà thôi, những người lính thủy đánh
đồng Tháp Mười, không giống lính thủy
đánh thủy, không giống lính thủy đánh
bộ chút nào hết. Lính thủy đánh đồng
Tháp Mười ngoài ca-nô hai trăm năm chục mã
lực làm phương tiện đi về thành phố còn
phải xài nhiều loại tàu đặc biệt hơn
nữa: tàu mủ phản lực, tàu bay có chong chóng
sau đuôi, tàu cao su phình lên xẹp xuống như
bong bóng..., tàu gì chỉ biết lướt cỏ mà
không có chân vịt. Bởi vậy chiều trên
Vàm Cỏ Ðông cũng thay đổi theo từng loại
tàu, chân trời có lúc như nhô lên cao, có
lúc như tụt xuống thấp.
Căn cứ Trà Cú nằm trên kinh Trà Cú gần
ngã ba chảy ra sông Vàm Cỏ Ðông.
Một giang đoàn Hải quân Mỹ, một đại
đội Thủy quân lục chiến Mỹ đang hành
quân phối hợp, cộng thêm một trung đội Tác
Chiến Ðiện Tử của Hải quân Việt Nam. Nai
lô mặc dù một mình, đúng y chang là quan
không lính, cũng được coi là một đơn
vị. Ðóng chung thì đóng nhưng hoạt
động riêng biệt một mình một cõi.
Ðồng thuyền với tôi là thằng nai lô Mỹ,
counterpart
, nhưng tôi không làm chung với nó
được vì tánh thằng này như Tào Tháo.
Ai mà thèm rớ đến tiền mật phí của nai
lô làm chi cho mệt, phải mất công thành lập
lưới báo cáo lưới, vậy mà tối ngày
nó cứ thăm tới thăm lui cái ngăn kéo có
chứa nửa triệu tiền mặt. Bực. Cho nên từ
căn nhà xi-măng cốt sắt, tôi dọn luôn
xuống khu Việt Nam ở chung với đám lính cho có
bạn, đạn pháo kích chắc cũng còn... con mắt.
Ðóng ở Trà Cú cũng giống như đi ngoại
quốc vì Hải quân Mỹ bao ăn bao ở luôn cho
đám nhân viên Việt Nam. Mình làm thân ăn
nhờ ở đậu, như dân tộc thiểu số, ngay
trên đất nước mình. Nhưng, ăn cơm Mỹ
cao lắm vài tuần thì anh em bắt đầu đào
ngũ. Rồi không ăn mà cũng đi lấy. Mỗi
buổi sáng hai trứng hột gà, chất đầy nón
sắt. Buồn, đem ra đánh bài, đứa nào gom
sòng lúc về Sài Gòn sẽ chở nguyên một
cần xé. Ðồ ăn trưa và chiều thì cũng
lấy rồi đem ra khu gia binh của tiểu đoàn Lực
Lượng Ðặc Biệt ngoài đầu kinh để
đổi rau cải, gia vị, cá khô, và thực phẩm
khô. Mấy bà chị chịu quá; ham, bacon, chicken,
hamburger, hotdog... vv chê làm sao được. Chỉ
có thứ sáu ăn tôm hùm là phe ta làm láng,
không đổi chác gì hết. Sau đó, mua bếp
điện bắt đầu nấu luôn ở trong trại.
Thỉnh thoảng lấy ca-nô đi hai ba tiếng đường
sông tới Hiệp Hòa, lò đường Hiệp Hòa
và chi khu Ðức Huệ, để đi chợ.
Ở giữa đồng làm gì có nguồn tin tốt, và
làm sao mà tuyển mộ mật báo viên? Tin báo
qua các công điện Mỹ, công điện Việt của
các đơn vị bạn thì chỉ lai rai. Thỉnh
thoảng tụi Mỹ mới bắt một vài người tình
nghi đem về cho tôi thẩm vấn. Hầu hết
đều là dân đi làm rẫy, vớt cá. Nhưng,
lần đó là một bà già tuổi trạc sáu
mươi. Không biết có phải là mẹ chiến
sĩ hay không mà bà ta khăng khăng không chịu
hợp tác, cứ trả lời nhát gừng những câu
hỏi của tôi. Rồi bỗng nhiên lớn tiếng
chửi, cả tôi lẫn Mỹ. Tự ái vùng lên,
tôi ký giấy đưa bà ta về trung tâm thẩm
vấn chi khu và không biết số phần của bà ta
ra sao. Mấy ngày sau đi phép về nhà, tôi gặp
má tôi cũng chạng tuổi đó đang lom khom bên
luống rau, sực nhớ đến bà già tình nghi,
lòng chợt thấy băn khoăn lương tâm cắn
rứt. Chẳng lẽ mình cũng ác đến độ
giết người không cần gươm giáo? Bả
dám rục xương trong tù. Rồi thấy ân hận
sao mình vẫn dễ mềm lòng xúc động, vẫn
còn biết rơi nước mắt. Tôi biết, ba
tháng huấn nhục chết sống ngoài quân trường
Nha Trang rồi như cũng chưa đủ để làm
trái tim mình trở thành sắt, đá.
Nằm trại đọc công điện hoài cũng chán,
nên ngoài công tác tình báo tôi tham gia các
hoạt động của toán Tác Chiến Ðiện Tử
cho đỡ buồn. Những cuộc hành quân đặt
máy, những cuộc hành quân kiểm soát kết quả
làm thì giờ qua mau. Máy báo động,
sensors
,
thu hết âm thanh trong vùng và chuyển về căn cứ,
được đặt ngang dọc trong những khu vực có
nhiều đường xâm nhập người và vũ
khí từ khu Mỏ Vẹt về thủ đô. Cọng
ăn-ten nhú lên cao, hòa hợp với đám cỏ
đồng. Ban nhạc đêm giữa chốn đồng
sâu nghe rõ mồn một trên máy nhận. Dế
gáy, chuột chạy, vạc sành kêu, bù tọt rống,
ễnh ương tru... và đôi khi có tiếng
người... mới nghe đã nổi da gà. Việt
Cộng, Việt Cộng về. Kêu pháo binh dập. Dập
liền tức khắc, dập không còn một mống, không
còn tiếng động mới thôi. Sáng ngày cả
bọn hân hoan lội nước phối kiểm. Việt
Cộng chết đã đành, ai dè cả bầy,
trâu bò mà đi ăn đêm, lộn cổ cỏ
mềm nằm chết ngổn ngang
... Chiến
lợi phẩm còn có thêm mấy con đỉa
trâu mang tật thèm thuốc thèm vôi, lần nào
cũng cố tình đeo bắp chân bắp đùi theo
mình về trại.
Làm ăn với Mỹ một thời gian coi bộ chắc
không khá, cho nên trung tá trưởng phòng Nhì
có lệnh cho tôi đổi về căn cứ Củ Chi
làm nai lô Sư Ðoàn 25. Lại cũng bị chèn
ép nữa, xưa nay nai lô phải nằm ở quận, nai
lô chi khu, hoặc nằm ở tỉnh, nai lô tiểu khu,
chớ ai hết làm nai lô giữa đồng lại nhảy
vô làm nai lô sư đoàn. Nai lô Vĩnh Long, nai
lô Mỹ Tho, nai lô Tân Châu, nai lô Hà
Tiên... nghe vừa hợp tai vừa có thớ một chút.
Nhưng không sao, dầu gì từ Củ Chi vọt về
Sài Gòn cũng gần.
Rồi chẳng bao lâu tôi lên trung úy, đúng
ngày đúng tháng. Trung úy thì over qualified cho
chức vụ nai lô, thành thử tôi bị triệu hồi
về bộ tư lệnh Hải Quân. Mới đầu tôi
được chỉ định làm sĩ quan khai thác tin
tức quân khu 3, rồi sau đó, vì hơi to tiếng
cho nên kiêm thêm chức vụ thuyết trình viên
cho đô đốc tư lệnh Trần Văn Chơn. Bắt
chước Hải quân Mỹ, Hải quân Việt Nam cũng
gọi mấy ông sao của mình bằng đô đốc,
bốn sao, mặc dù cấp bậc ghi rõ ràng Phó
Ðề Ðốc, Ðề Ðốc. Mỹ thì chỉ good
morning với admiral thôi, chứ đâu có kèm rear, vice
gì gì cho admiral làm chi cho thêm dài dòng. Kính
thưa đô đốc Tư Lệnh Hải Quân..., nghe
nó quan liêu làm sao. Phần thuyết trình bằng
anh ngữ cho đô đốc Zumwalt thì do trung úy Hoanh,
khóa đàn anh, đảm nhiệm. Trung úy Hoanh thì
khỏi chê, điểm thi ECL chưa bao giờ dưới 95,
muốn đi Mỹ lúc nào cũng được.
Vài tháng trước khi đi Guam lãnh tàu, trung tá
trưởng phòng Nhì không hiểu vì lý do gì,
đột nhiên có lệnh cho tôi thuyên chuyển
xuống Bình Thủy, Cần Thơ. Như được
gãi đúng chỗ ngứa vì tôi cũng định xin
đổi đi chỗ khác. Ðơn vị mới là
Bộ tư lệnh Hải quân hành quân Sông. Coi
một nửa Hải quân vì Hải quân Việt Nam lúc
này chia thành hai lực lượng, lực lượng
Sông và lực lượng Biển. Ðô đốc
Ðinh Mạnh Hùng làm tư lệnh lực lượng
Sông. Dưới tay có luôn cả ba đô đốc:
đô đốc Hoàng Cơ Minh tư lệnh lực
lượng Thủy Bộ tức lực lượng 211, đô
đốc Nghiêm Văn Phú tư lệnh lực lượng
Tuần Thám tức lực lượng 212, và đô
đốc Vũ Ðình Ðào tư lệnh lực
lượng Trung Ương tức lực lượng 214. Lực
lượng Thủy Bộ trấn sông Năm Căn, sông
Ông Ðốc, sông Rạch Sỏi, kinh Xà No. Phần
lớn lực lượng Tuần Thám trấn sông Cửu Long,
hai sông Vàm Cỏ. Phần lớn lực lượng Trung
Ương trấn sông Ðồng Nai, sông Lòng Tào.
Mỗi lực lượng có trung bình từ ba đến
năm liên giang đoàn gọi là bộ chỉ huy
chấm
, như 211.1, 211.2, 211.3 chẳng hạn. Mỗi
chấm có trung bình từ ba đến năm
chấm
chấm
tức bộ chỉ huy giang đoàn, 211.1.1,
211.1.2... Lực lượng Sông phối họp hành
quân cấp quân đoàn với quân đoàn 3 và
quân đoàn 4. Còn lãnh thổ của quân
đoàn 1 và quân đoàn 2 thì bị chê vì
không có sông?
Cũng cái tội to tiếng cho nên mặc dù là sĩ
quan đệ tam, sau thiếu tá Nguyễn Phước Ðức
trưởng phòng và trung úy Thiện phó trưởng
phòng, tôi vẫn phải lãnh phần thuyết trình.
Và có lẽ vì tôi trả lời các câu hỏi
của đô đốc Hùng và ban tham mưu có phần
vững chắc mạch lạc, kinh nghiệm từ Sài Gòn
mà, cho nên lần lần thiếu tá Ðức thấy
mình như thừa, bèn xin đi lãnh tàu như trung
tá Hớn. Thiếu tá Võ Văn An từ bộ tư
lệnh Hải Quân đổi xuống cũng không nắm
vững được gì, lần lần rồi cũng rơi
vào tình trạng có cũng như không.
Thời thế tạo anh hùng, bỗng nhiên tôi
được thăng cấp đặc cách nhiệm chức.
Một năm bảy tháng kể từ ngày lên trung úy,
tôi là một trong bảy đứa của khóa lên
đại úy đầu tiên. Không hiểu phòng
Nhì đề nghị ra sao, cấp số ra sao mà tôi
dính. Tôi đương nhiên trở thành phó
trưởng phòng, trung úy Thiện bây giờ kém
thâm niên hơn bị thuyên chuyển xuống bến
Ninh Kiều. Rồi một buổi sáng đẹp trời
trung úy Lê Tâm Hiệp, bạn cùng khóa
với tôi đang làm chánh văn phòng cho đô
đốc Hùng, gọi điện thoại thông báo:
- Ê, chuyến này mày lại lên nữa rồi, như
diều gặp gió...
- Gì mà lên mậy.
- Sửa soạn trình diện tư lệnh.
- Tao? Trình diện tư lệnh giờ này? Giỡn
chơi mậy?
- Ừa. Cho mày 5 phút thôi đó.
- Chuyện gì vậy mậy?
- Chút nữa rồi biết, lẹ lên.
Tôi nghĩ chắc chẳng có gì quan trọng, gặp
mặt đô đốc hằng ngày mà. Nhưng,
phải áo mão chỉnh tề, trình diện khác xa
với cần gặp.
- Anh là sĩ quan thâm niên nhứt của phòng
Nhì sau thiếu tá An?
Tư lệnh biết hết rồi còn làm bộ hỏi,
tôi nói thầm trong bụng.
- Dạ phải.
- Anh thấy khả năng của anh có thể đảm
nhiệm nổi phòng Nhì hay không?
Hả? Coi luôn phòng Nhì? Câu hỏi này
đến với tôi có hơi đột ngột. À,
chắc thiếu tá An cũng xin đi lãnh tàu. Tôi
bình tĩnh trở lại, trả lời một cách dứt
khoát:
- Nếu đô đốc tin tưởng ở tôi, tôi
nguyện sẽ phục vụ hết sức mình.
- Ðược rồi. Kể từ giờ phút này tôi
chỉ định anh làm Quyền trưởng phòng Nhì.
- Tuân lệnh đô đốc.
Chào cái rụp bước ra khỏi phòng tôi gặp
ngay trung úy Hiệp ngoài cửa:
- Sao? Ðô đốc cho mày làm phải
không? Cấp số trung tá nghe mậy.
- Ừa. Chuyện quan trọng như vậy sao mày
không báo động tao gì hết vậy.
- Phòng Nhì như mày thì dẹp mẹ nó cho
rồi. Chớ mày chưa biết chuyện đêm hôm
qua à?
- Chuyện gì?
- Còn chuyện gì nữa. Chuyện thiếu tá An
phòng Nhì của mày đó. Lem nhem ba cái
đồ lặt vặt của Mỹ bàn giao. Ðô
đốc giận quá chừng, ổng ký công điện
thuyên chuyển thằng chả về Sài Gòn trong vòng
48 tiếng đồng hồ. Mầy thấy thiếu tá An
có đi làm bữa nay không?
Tôi như trên cung trăng rớt xuống. Ðúng
là trời bất dung nhơn đảng. Ðúng là
như diều gặp gió. Bây giờ phải chuẩn bị
việc bàn giao thôi.
Mới làm Quyền Trưởng Phòng mà cuộc đời
bên ngoài đã thay đổi hẳn. Ngoài
đường có xe jeep, có tài xế. Trong nhà
có điện thoại dân chính, điện thoại nhà
binh, điện thoại hot-line. Họp hành ngồi ngang
hàng cấp tá. Thiếu tá Bảy tức Vũ Thất
tác giả Ðời Thủy Thủ, trưởng phòng 3.
Thiếu tá Ðiệu trưởng phòng 6. Trung tá Lũy
trưởng phòng 4... Nhưng bù lại, công việc
cũng bắt đầu lu bu hơn. Họp tình báo hành
quân Sông hàng tháng, họp của tư lệnh hành
quân Sông mỗi tam cá nguyệt, và bay trực thăng,
cessna, đi thanh tra các đơn vị với đô
đốc Hùng như cơm bữa.
Họp tình báo hành quân Sông gồm có đám
nai lô thuộc hai quân khu 3 và 4, hai trưởng toán
Sưu Tập 3 và 4, hai trưởng phòng Nhì vùng
Sông Ngòi 3 và 4, và ba trưởng phòng Nhì
lực lượng Thủy Bộ, Tuần Thám, Trung Ương.
Năm sáu chục sĩ quan. Và mới ngày nào
tôi còn làm nai lô, nai lô Trà Cú. Ðám
nai lô nhỏ lon hơn không nói làm gì, đám
trưởng phòng, trưởng toán đều thâm niên
hơn tôi mới kẹt. Ðại úy Bang khóa 13,
đại úy Tống khóa 15, đại úy Ẩn thủ khoa
khóa 16, tất cả đều là đàn anh sắp sửa
lên thiếu tá hay ít ra cũng là đại úy
thực thụ, còn tôi thì mới nhiệm chức.
Thêm biệt đội trưởng Biệt Ðội Sưu
Tập, thiếu tá Chu Bá Yến, cũng về dự
nữa thì tôi làm sao mà ngồi chủ tọa cho
được. Phải biết tạo cái thế:
- Ðô đốc tư lệnh đến. Nghiêm.
- Mời quý vị an tọa.
- Ðể khai mạc buổi họp ngày hôm nay tôi
có đôi lời với các anh..., rằng thì
là..., và tóm lại, rằng thì là... những
gì trưởng phòng Nhì chỉ thị trong phiên họp
này, được coi như là lệnh của tôi.
Các anh nghiêm chỉnh thi hành...
- Tất cả. Nghiêm.
Tư lệnh rời phòng họp, bầu không khí trở
thành nghiêm trọng. Ðám nai lô có mấy khi
được thấy sao, nên hơi giựt mình, chuyến
này về họp thật chứ không phải về chơi.
Ai nấy lo hồ sơ phúc trình. Nhưng, mấy quan to
thì cũng chứng nào tật nấy:
- Ê, họp một buổi còn một buổi đi
xả hơi chớ mậy.
- Ðại ca muốn đi đâu thì đi, cần gì
phải nhắn nhủ với đàn em làm chi. Chỉ sợ
biên bản buổi họp, sĩ quan thư ký nó
hay... thấy sao ghi vậy.
Họp tình báo không mệt bằng họp tam cá
nguyệt của tư lệnh hành quân Sông. Hầu
hết mấy ông đô đốc của Hải Quân
đều có mặt đầy đủ, thêm một
đoàn tùy tùng lon lá tối thiểu cũng ba bốn
bệt bự trên vai, mình ăn nói cũng phải
lựa lời. Lên thuyết trình mà bị tư lệnh
Hải Quân hỏi lên hỏi xuống là thấy mệt
rồi, trả lời ấm ớ không thông suốt, bị
quay tại chỗ thì còn mệt hơn nữa. Cũng may
đô đốc Chơn còn nhớ mặt tôi hồi
còn ở Sài Gòn, ổng không chất vấn đã
đành, đôi khi ổng còn đỡ đòn cho
tôi nữa:
- Người ta đã trình bày hồi nãy rồi,
chắc anh ngủ gục anh không nghe hay sao mà anh hỏi
tới hỏi lui.
Tư lệnh Hải Quân dằn mặt như vậy thì ai
mà dám hỏi thêm, bởi vậy những lần thuyết
trình sau không còn ai dám hạch sách tôi một
điều gì nữa. Mà nói cho ngay, phần thuyết
trình của phòng Nhì hành quân Sông lúc đó khó
mà có chỗ chê. Vì tôi bắt áp phe với
thiếu tá Sắc, thiếu tá San... đàn em của
đại tá Bình, trưởng phòng Nhì quân đoàn 4
vào thời thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, cho
nên bản đồ tình hình, bản đồ trận liệt,
bản đồ gì gì... đều là phim chụp, chứ
đâu có còn vẽ slide theo kiểu cũ rích như
ngay cả bộ tư lệnh Hải Quân ở Sài Gòn.
Trục trặc hay không là mấy phòng kia, nhất là
phòng 4 của trung tá Lũy. Chỉ có mấy chiếc
tàu chìm mà lần nào cũng bị quay, lần nào
cũng không nắm vững chiếc nào đã vớt về
thủy xưởng, chiếc nào còn kẹt dưới
sông. Tàu chìm hay nằm trong vùng địch, mỗi
lần vớt tàu là mỗi lần hành quân lớn
để bảo vệ tàu trục và đám thợ
lặn. Không hành quân lớn thì chiếc này
vớt chưa xong chiếc kia lạng quạng cũng dám
chìm theo. Bị quay quá rồi rốt cuộc chỉ có
tôi và đại tá Ðỗ Kiểm thuyết trình.
Ðại tá Kiểm mới đổi về thay trung tá Lưu
Trọng Ða, trung tá Yellow Dragon tàu vải Tân Châu,
làm Tham mưu trưởng hành quân Sông. Sau
phần thuyết trình của tôi, đại tá Kiểm
thầu hết mấy phòng kia. Cũng vui.
Ði hải quân mà tôi sắp sửa có Không Vụ
Bội Tinh, tại vì giờ bay nhiều quá. Ðô
đốc Hùng đi thì tôi phải đi, quân sư
mà. Trực thăng lúc đó ăn SA 7 hơi nhiều
nên không dám bay bổng, bay xà xà mặt đất
để rủi có ăn thì ăn AK thôi, cũng không
đến nỗi. Ði Chương Thiện họp với tư
lệnh Sư Ðoàn 21, chuẩn tướng Chương
Dềnh Quay, cứ bay dọc theo kinh Xà No, thấy mình
như chạy đua với ghe xuồng. Lúc gần đến
Vị Thanh trực thăng mới vọt cao khỏi mấy lùm
cây rồi đáp xuống tức khắc ở điểm
thả khói màu. Ði Mỹ Tho thì vui hơn một
chút, trực thăng bay dọc theo quốc lộ 4 như
chạy đua với xe hàng, xe đò, xe lô, xe jeep, xe
honda. Gần tới Ðồng Tâm cũng vậy, trực
thăng phóng một bước nhẹ nhàng như ếch
nhảy bờ giếng. Chỉ khi nào đi Năm Căn,
Cà Mau, nếu không có cessna, thì trực thăng mới
chịu bay tuốt trên mây, cao thật cao, cao khỏi tầm
hỏa tiễn.
Ði bay thị sát mặt trận thì vui gấp bội,
như đi xem ciné. Dạo đó chiến dịch Trần
Hưng Ðạo 18, trách nhiệm hộ tống đoàn
công voa đi Nam Vang, được Việt Cộng chiếu
cố nồng hậu. Có mười lăm chiếc tàu
mà hai lần đi hai lần quành trở lại, thiệt
hại mỗi bận hai chiếc trôi dạt tấp vô bờ
sông. Bị pháo kích, pháo kích như mưa.
Nhứt quá tam, đô đốc Hùng chuyến này
quyết làm ăn lớn. Tập trung năm giang đoàn,
2 giang đoàn Tuần Thám, 2 giang đoàn Thủy Bộ,
và một giang đoàn Ngăn Chận thuộc lực
lượng Trung Ương. Thêm chiếc giang pháo
hạm HQ 331. Có người bàn, đưa giang pháo
hạm lên đó chỉ làm quà cho Việt Cộng,
nhưng đô đốc Hùng cứ quyết cho lên. Tin
tưởng vào khả năng trực xạ của mấy khẩu
76 ly 2, mấy khẩu bô-pho 40 ly, mấy khẩu o-e-li-cân
20 ly. Một phần như để thị oai, tàu lớn
mà.
Phối họp hành quân với trung đoàn 31, bộ
chỉ huy tiền phương đặt tại Hồng Ngự
dự trù càn quét đội pháo của Việt Cộng
hay ẩn núp trên bờ sông trên. Bộ chỉ huy
tiền phương của Hải quân vẫn nằm tại
căn cứ hải quân Tân Châu. Phối họp với
Sư đoàn 4 không quân, oanh tạc từ tờ mờ
sáng không biết bao nhiêu phi vụ phản lực F 5, A
37 và A1 skyraider, những cuộn khói đen bay ngập
trời. Bộ binh liền được trực thăng vận,
dập vô những điểm pháo.
Ðoàn công voa bắt đầu di chuyển, tàu hải
quân bảo vệ chạy song song hai bên. Trên trực
thăng nhìn xuống, chưa bao giờ tôi thấy nhiều
tàu như vậy. Tàu như cá, chạy đặc
sông. Chiếc thứ hai vừa qua khỏi vùng nguy hiểm,
thì bỗng nhiên, tung... ầm, tung... ầm, tung... ầm,
những làn khói cầu vòng in rõ trên không
trung. Lại pháo. Ðạn nổ trên tàu tóe
lửa như pháo bông. Ðạn nổ dưới
nước, những cột nước dựng lên như sóng
thần. Lần này đội pháo Việt Cộng không
nằm trên bờ, mà liều chết ẩn núp trên
mấy chiếc tàu chìm, hai tiểu đoàn bộ binh
nhảy trên bờ như nhảy vào chốn vườn
không nhà trống. Cay thiệt. Ầ... m... ầm...,
một tiếng nổ trầm, ngân dài, vang dội. Chiếc
thứ tư kéo nguyên một xà lan đạn, xà lan
đạn bị nổ tung. Cả dòng sông dậy sóng,
lửa túa lên đỏ cả một vùng trời. Tàu
kéo chặt dây xách xe không chạy tiếp. Tàu
hải quân bao vây mấy chiếc tàu chìm, và
đoàn công voa tiếp tục di chuyển. Bây giờ
chiếc HQ 331 mới có dịp thử súng,
chùi bao
nhiêu năm mới được bắn một
giờ
... Tàn cuộc, hai đại đội Việt
Cộng chết phân nửa, bắt sống phân nửa.
Tịch thu một lô vũ khí: súng cá nhân, súng
cối, súng không giật, và nhiều hỏa tiễn
điều khiển con cóc SA 3 chưa kịp xài. Ðã
thiệt.
Nhưng có làm lâu mới biết: đi với đô
đốc Hùng ăn bánh mì tay cầm, đi với
đô đốc Minh hút thuốc Bastos xanh, còn đi
với trưởng phòng Nhì hành quân Sông thì
chỉ có nước ăn giấy. Chán quá. Bởi
vậy đủ hai năm, đúng tiêu chuẩn, tôi
không xin đi lãnh tàu như mấy quan lớn phòng
Nhì mà xin đổi ra Phú Quốc, bộ tư lệnh
Vùng 4 Duyên Hải. Hai năm trời, điều chỉnh
thực thụ cũng không xong thì luyến tiếc làm chi.
- Anh đang nắm tình báo tham mưu của một
nửa Hải quân, mà bây giờ xin đi coi một cái
đảo là làm sao? Anh định đi hưởng
nhàn hở?
Ðại tá Nguyễn Ðỗ Hải trưởng phòng
Nhì bộ tư lệnh Hải Quân phàn nàn với
tôi như vậy. Nhưng, tôi biết ổng nói
cho có chuyện nói thôi, ổng cũng biết bấy
giờ tôi có thớ lắm. Tôi muốn đi
đâu như là... tùy ý tôi. Gớm chưa!
Tôi biện bạch:
- Thì tôi làm ở Sông lâu quá rồi, bây
giờ đại tá phải cho tôi ra Biển để tôi
có dịp học hỏi thêm chớ.
Vài tuần sau, một lần nữa, tôi lại phải
về trình diện đại tá Hải:
- Tôi cho anh đi mà ông Tham mưu trưởng
không cho đi. Thủ bút của ông đây
này, anh còn thắc mắc gì nữa không?
Tôi cầm cái công điện đọc kỹ mấy
dòng chữ viết tay xéo xéo: "Không thuận. Giữ
đương sự tại Sài Gòn. Ðỗ Kiểm,
ký tên." Ai chớ đại tá Kiểm thì dễ
rồi, cựu Tham mưu trưởng hành quân Sông
của tôi mà. Tôi chỉ biết ổng mới
đổi đi mà chẳng biết ổng đổi đi
đâu. Bây giờ làm Tham mưu trưởng Hải
Quân? Ổng lên thì đương nhiên tôi
cũng lên. Nhưng, cái ông này kỳ, không
hiểu mình gì hết...
- Ðại tá cho tôi mượn cái công điện
để tôi đi bàn lại với ổng xem sao.
Chánh văn phòng trịnh trọng mở cửa mời vào.
"Commandant, cái này là tôi xin đi mà, commandant
phê như vầy thì kẹt đàn em rồi. Commandant
hồi trước ở ngoài đó commandant biết mà,
dễ sống hơn ở đây." "Tôi tưởng anh
bị đi đày nên tôi giữ anh lại, anh muốn
đi thì tôi cho anh đi." Chạy đi chạy về,
vác theo cái chữ to tổ bố: "Thuận." Ðại
tá Hải nhột bụng, dằn mặt tôi một câu:
- Tôi cho anh đi không phải vì cái thủ bút
của ông Tham mưu trưởng đâu nghen... Anh ra
đó đúng ngày đúng tháng là tôi sẽ
kéo anh về.
Rồi trước khi rời hành quân Sông, trước khi
bàn giao cho thiếu tá Nguyễn Ngọc Quyên, hạm
trưởng tàu chìm HQ 225 dưới Năm Căn, tôi
tự nhiên muốn được lênh đênh một
lần nữa trên sông Vàm Cỏ Ðông như thời
mới vào nghề, mới làm nai lô. Thời đó,
thời con diều của tôi mới thả, và bây giờ
con diều đã gặp gió đã lên cao, thật
cao... Công điện đánh đi chỉ mấy chữ
gọn gàng: "Trưởng phòng Nhì hành quân Sông
sẽ thám sát tình hình..., yêu cầu các nơi
nhận chuẩn bị yểm trợ." Mấy đơn vị
nhỏ đâu biết trưởng phòng Nhì hành quân
Sông là ai, tưởng là quan lớn lắm. Trung tá
Giang, chỉ huy trưởng chấm 3 tại Bến Lức chuẩn
bị cho tôi 4 chiếc PBR hộ tống và chỉ huy
trưởng các giang đoàn nằm tại Trà Cú và
Gò Dầu Hạ đang chuẩn bị đón tiếp, chuẩn
bị hồ sơ thuyết trình tình hình. Cho
tôi. Một lần nữa, tôi thấy con diều
của mình thật sự đã lên. Nhưng lên cao
nữa, lên mãi... hay rất tiếc con diều kia
hình như vẫn còn kẹt bởi sợi dây? Chừng
nào sợi dây bị đứt đi, con diều tôi mới
đến được với mây trời mênh mông,
mênh mông như trời đất của ruộng đồng
Trà Cú này. Trà Cú, cái địa danh bất
hủ đó và cái căn cứ bất hủ đó
cũng đang mờ mờ hiện ra trước mắt
tôi. Bỗng dưng tôi nói:
- Mình vọt lên chạy trước đi.
- Dẫn đầu hả đại úy? OK.
Anh trung sĩ vận chuyển đẩy hai cần máy, tiến
full. Tàu bọc theo cua quẹo như honda ôm lề
đường. Vừa khuất cái doi trước khi rẽ
vô kinh để vào căn cứ, thì đột nhiên
bùng... bùng, và tiếng súng nhỏ nổ như
bắp rang. Tôi ra hiệu cho tàu quành trở
lại. Chiếc BPR thứ hai ăn B 40 trở thành ngọn
lửa nổi, mấy thằng em đang lội bì bõm giữa
dòng. Tình báo Việt Cộng cũng lẹ, mới
đó mà đã biết chiếc nào có chở
trưởng phòng Nhì hành quân Sông. Sanh nghề
tử nghiệp, may mà tôi bảo thằng em chạy
trước vào phút cuối. Chỉ trong đường
tơ kẽ tóc? Chỉ là số trời? Mà tôi
cũng đâu chịu rửa cẳng lên bàn thờ sớm
như vậy. Ha ha..., may là cơn gió lốc không
mạnh lắm cho nên con diều của tôi vẫn còn
mắc kẹt sợi dây..., sợi dây định mệnh.
back to top
07. BƯỚC ÐẦU
NGUYỄN TẤN HƯNG
Rời trại Fort Chaffee, Arkansas, chúng tôi chỉ biết
một điều là nguyên gia đình sẽ về xứ
lạnh, xứ có hoa anh đào, để định cư.
Hai vợ chồng tôi, bốn đứa con ba trai một gái,
năm tuổi, bốn tuổi, ba tuổi, và mười bảy
tháng. Thêm một cô em vợ, Huỳnh, mười
bảy. Về xứ lạnh, phải, tại vì vợ chồng
tôi muốn vậy. Hai đứa đã từ chối mối
sponsor-ship đi Amarilo, Texas, viện cớ là muốn biết,
muốn thưởng thức cái khí hậu ôn đới,
có bốn mùa xuân hạ thu đông rõ rệt.
Việt Nam mình, miền Nam mình mưa nắng hai mùa ai
lại không biết. Texas thì chỉ có một mùa,
nóng, như đã khắc ghi trong đầu. Còn một
lý do nữa là vì chúng tôi không muốn vô
sống trong nông trại. Tôi cũng không muốn
tôi và đám con tôi sẽ sớm trở thành
đám cao bồi, nhưng không dám thố lộ cùng
phỏng vấn viên thuộc cơ quan LIRS, Lutheran Immigration
and Refugee Services. Ði đâu chớ đi về miền
bắc, về xứ lạnh, thì dễ rồi. Chỗ trống
thiếu gì. Mình cũng khó lòng từ chối
sponsor-ship lần thứ hai. Bởi vậy chúng tôi ở
Fort Chaffee vỏn vẹn chưa đầy tháng. Không
còn phải xếp hàng lãnh đồ ăn, khu B, mỗi
ngày. Cơm Mỹ ăn chưa đủ tháng đã
lên tới cổ họng, nuốt hết vô. Khỏi phải
đi lãnh, đi lựa, đi đổi giày vớ và
áo quần mùa đông. Khỏi phải lang thang ngoài
Hitching Post. Và cũng khỏi bị vợ con cằn nhằn:
- Trăm thứ chuyện quan trọng không lo, lo chuyện
gì đâu!
- Chuyện gì nữa mà lo, Mỹ nó lo hết rồi.
Phi cơ đáp xuống phi trường Sioux Falls, South Dakota,
sponsor ra tiếp đón niềm nở. Ðông quá,
đứng chật cả hành lang. Máy hình chớp lia
lịa. Ðâu ngờ đám mình trở thành
những nhân vật quan trọng như vậy. Ba nhà
thờ bảo trợ, Lutheran, United Methodist, và United Church of
Christ. Giới thiệu tùm lum rồi cũng không biết
ai là ai. Bây giờ phải nói bằng tiếng Mỹ,
đâu phải chuyện dễ, mà không nói coi cũng
không được. Trật trúng gì cũng phải
nói,
yes
hay
no
gì cũng phải có một
tiếng lấy lòng. Thây kệ nó,
who care
.
Mấy đứa nhỏ thì ngây thơ vui đùa với
mấy món đồ chơi mới.
Từ Sioux Falls về Vermillion, thành phố sẽ là home-town
của chúng tôi trên đất Mỹ, cũng mất
khoảng hai giờ lái xe. Xa lộ I-29 đi xuyên qua
vùng ruộng đồng bao la, cò bay thẳng cánh.
Ðồi, đồi, lại đồi, tiếp nối trùng
trùng điệp điệp. Nắng chiều chan hòa
trên những cánh đồng lúa mì vàng chín
tháng mười, những cánh đồng đậu nành,
bắp mới gặt... làm tôi tưởng như mình
đang trên quốc lộ 4, từ Sài gòn về Hậu
Giang. Chỉ khác là nơi đây quá rộng,
rộng như sa mạc, rộng như biển khơi, không
thấy lùm cây không thấy xóm giềng nhà cửa.
Căn nhà đầu tiên của chúng tôi trên quê
hương thứ hai này là một căn nhà xưa
cũ, tính ra có lẽ nó cũng gấp đôi tuổi
của tôi. Nhà thờ Methodist mua căn nhà này
với dự định phá đi để lấy miếng
đất trống làm bãi đậu xe cho con chiên,
nhưng không tìm được chỗ ở cho gia đình
tôi nên đành phải lấy nó thế vào.
Nhưng chúng tôi cũng phải trả tiền thuê,
giá rẻ, chỉ hơn trăm đô mỗi tháng.
Nhà có hai tầng và phân nửa basement. Tầng
thứ nhất có phòng khách, phòng ăn, nhà bếp,
toillet, và một phòng ngủ cho khách, làm phòng
ngủ cho Huỳnh rất tiện. Tầng trên gồm ba
phòng ngủ cho vợ chồng tôi và bốn nhóc.
Basement trống trơn, chỉ có một lò sưởi
loại xưa nằm ngay giữa với những ống dẫn
hơi ấm tủa ra không theo một thứ tự nào
trông như ông Phật có nhiều tay. Ðồ
đạc trong nhà cũng đầy đủ, không thấy
thiếu món gì. Của cho được như vậy
là quí hóa lắm rồi, ở Việt Nam mình cũng
phải là hạng nhà giàu mới sắm sửa
được như vậy. Ðúng rồi, bây giờ
mới thấy thiếu nhiều món. Gạo, nước
mắm, rau sống... thực phẩm Á Ðông.
- Blizzard, ngay trong đêm nay, một trăm phần trăm.
Bà Mỹ gọi điện thoại cho vợ tôi biết
là the weatherman nói như vậy. Tôi tra tự
điển để biết blizzard là gì, bão tuyết,
sao mà sớm như vậy, mình mới tới có mấy
ngày.
- Phải chuẩn bị.
- Chuẩn bị cái gì? Thực phẩm hả? Khỏi
phải lo, ai mua để đầy trong tủ lạnh rồi.
Bão lụt miền Trung của mình ra sao mình cũng
chưa có nếm mùi thì biết gì mà chuẩn
bị. Tới đâu lo tới đó... Quả thật,
năm giờ chiều tuyết bắt đầu rơi, lưa
thưa, lưa thưa, rồi càng lúc càng dày, mù
mịt. Nhìn tuyết rơi lần đầu tiên thấy
thích thú, thấy mãn nguyện làm sao. Thấy
được cảnh
tuyết rơi phủ con tàu, ga Lyon
đèn vàng, cầm tay em muốn nói
... Tôi ra
đứng trước sân, xòe bàn tay trơn, đón
lấy những mảnh tuyết bay bay cũng cảm thấy
lòng lâng lâng. Tội cho dân Sài Gòn suốt
đời có biết cảnh tuyết rơi bao giờ. Tôi
muốn có hết gia đình ba má anh chị em tôi
ở đây, trong cảnh này, lúc này, nhưng tôi
chỉ có tôi. Bơ vơ và buồn thật.
Sáng ngày hôm sau thức giấc nhìn ra cửa sổ
thấy tuyết cao khỏi đầu gối, ngập cả
đường phố, ngập cả thềm ba. Tuyết
đóng dầy trên cành cây, tuyết phủ trùm
ngọn cỏ. Còn nghe tiếng gió hú ngoài hiên,
từng loạt thổi tốc những bụi tuyết trên
mặt đường bay lướt qua những đụn tuyết
cao, che khuất một khoảng trời, chỉ còn một
vầng mây mù trước mặt. Bão tuyết
đẹp, bão tuyết chắc không giống bão lụt
miền Trung.
Vermillion là một thành phố nhỏ, chưa hẳn là
nhỏ so với nhiều thành phố khác trong tiểu bang
này, nhưng có trường đại học lớn,
University of South Dakota. Dân chúng khoảng mười hai
ngàn, cộng với khoảng tám ngàn sinh viên, vị
chi là hai chục ngàn người. Vậy mà đã
có hai gia đình Việt Nam đã được bảo
trợ đến đây trước chúng tôi, bác
Ðoàn và anh Mới. Gia đình bác Ðoàn
gồm hai vợ chồng già và bốn đứa con thuộc
tuổi choai choai, còn độc thân. Con gái lớn
của bác đã có gia đình, chồng con thì
định cư riêng ở tiểu bang Missouri. Anh Mới,
Mỹ sửa cái tên tốt của anh ta và cứ kêu
là Mọi, thì có vợ và hai đứa con gái
nhỏ. Họ không đi đón tụi tôi
được vì ai cũng bận đi làm, vả lại
tụi tôi đến không nhằm vào weekend.
Vì tuyết rơi bất thần nên tôi được
một tuần nghỉ ngơi, không phải làm việc
gì ngoài việc điền giấy tờ xin việc.
Khỏi phải làm đơn nó cũng thâu, thằng
chủ hãng là bạn thân của thằng Lyle thuộc
nhà thờ Lutheran, địa chủ ở vùng này.
Ở bên mình đi làm đơn, nói đến
nghề nghiệp mà điền vô hai chữ "làm ruộng"
thì biết là dân nghèo nhưng bên này lại
khác, thằng Lyle cũng viết vô cái chữ làm
ruộng, farmer, nhưng bà con lại nể sợ. Nghe nói
đất của ông cố tổ của nó để lại
nhiều lắm, khắp cả vùng, lớp làm lớp cho
mướn... Phương tiện di chuyển cho tôi từ
nhà đến sở làm, đi đi về về, thằng
Lyle cũng đã lo rồi, bạn của nó, thằng
George. Mỗi ngày trả một đồng, mười lăm
mile mỗi bận, không cách nào hay hơn. Load King,
tên của hãng. Một chi nhánh của CMI Corporation,
Contract Machinery International, chuyên chế tạo xe trailer
hạng nặng cho Army, Marine, Navy để chở xe tăng,
thiết giáp, đại bác, hoặc súng đạn.
Mới vứt bỏ súng đạn chạy qua đây, lại
đút đầu vào nơi chế tạo vũ khí,
hình như kiếp luân hồi của tôi chắc chưa
dứt.
Xưởng chia làm năm khu, khu một đến khu năm.
Theo thứ tự là khu làm beam và parts, khu ráp, khu
hàn, khu sand blast và hàn dặm, khu sơn và finishing.
Tôi được chỉ định làm ở khu một,
phụ cho thằng Kurt, chuyên viên phụ trách cái
máy cắt sắt lớn, the big-shear. Cái máy cắt
này dám cắt luôn cả thép dày cả inch.
Lưỡi dao dài sáu bảy feet. Lẽ dĩ nhiên
phải dùng cần trục để đưa sắt hoặc
thép từ nhà kho lên dàn máy. Loại thép
tấm phản lớn còn phải dùng thêm một thanh
đòn có sáu cái móc mỗi bên ba cái như
một cái giống lớn và phải di chuyển từ từ
vì miếng thép cũng dễ tuột theo chiều nghiêng.
Mấy miếng nhỏ thì chỉ xài cái "kẹp nách,"
trông như trái xoài tượng, có một kẽ hở
và một hệ thống đòn bẩy built-in trong đó.
Vừa nhanh vừa tiện, miếng thép càng nặng thì
sức kẹp càng tăng, ai nghĩ ra cách này cũng
tuyệt diệu. Tấm thép đặt được lên
bàn xong là công việc cũng thấy nhẹ nhàng,
chỉ theo giấy order đo chiều dài chiều rộng,
làm dấu, kẻ phấn, rồi đẩy vào mà cắt.
Ngoài vấn đề ni tấc, vấn đề số
lượng cũng rất là quan trọng. Năm chục
miếng băm ba băm bảy, một trăm miếng mười
sáu bốn bốn..., vậy mà thằng Kurt cứ đo
một miếng cắt một miếng. Tôi lóe lên
một sáng kiến, bèn ra phía sau máy hì hục
làm một cái adjustable stop. Thằng Kurt cũng chẳng
màng tôi đang làm cái gì. Xong, tôi lôi
Kurt vô giải thích:
- Hê, mày chỉ cần đo khoảng cách từ cái
stop này tới lưỡi dao một lần thôi. Khóa
cái stop lại một chỗ, rồi cứ việc đẩy
vô cắt bùm, bùm, bùm...
Kurt làm theo lời tôi nói, chịu lắm, nhưng lắc
đầu trả lời:
- Ý kiến hay, nhưng rồi mày sẽ không còn
việc gì để làm. Mày đâu có đứng
xớ rớ được, tụi nó sẽ sai mày đi
hốt rác, rửa cầu tiêu.
Uổng công cả buổi trời, nhưng thấy nó nói
cũng có lý:
- Mày muốn xài thì xài, không thì thôi.
Mày muốn tháo nó ra cũng được. Tùy
mày.
Kurt vẫn giữ cái adjustable stop của tôi phòng khi
khẩn cấp, còn thì cứ bổn cũ soạn lại
làm hoài. Ðo hai biên, làm hai dấu, kẻ một
đường phấn tổ bố, đưa vào máy, quỳ
xuống ngắm nghía xê dịch một hồi rồi mới
chịu cắt. À đúng rồi, phải làm kiểu
này mình mới được quỳ gối. Làm việc
bên này lâu lâu được quỳ gối là sung
sướng rồi. Ðứng tám giờ mỗi ngày,
máu dồn xuống chân, bắp chân tê cứng, mỗi
lần quỳ gối bắp thịt như dãn ra chịu cử
động trở lại. Quỳ gối là sung
sướng! Cắt sắt rồi cũng dễ thôi, chỉ
cái việc bưng mấy tấm sắt mới cắt đó
để vào rack cho thứ tự mới là đáng sợ.
Tính ra mỗi ngày tôi bưng đến cả chục
tấn. Chẳng lẽ cuộc đời mình rồi phải
dính liền với cái máy cắt này sao? Mới
ngày nào mình cũng đường đường là
một sĩ quan hải quân mà. Không được.
Tôi phải tìm cách thay đổi chỗ đứng
của tôi. Tôi phải phân trần, tôi phải
nói với sponsor, tôi nói với thằng Lyle:
- Mày làm ơn tìm cho tao một việc gì khác
đi. Mày thấy không, tao nhỏ con, không thích
hợp với công việc tao đang làm.
- Không dễ gì tìm được việc nào tốt
hơn đâu. Minimum wage là hai đồng mười xu,
nó trả cho mày ba đồng một giờ là khá
lắm rồi. Mày có thấy điều này không?
- Tao không cần biết nó trả tao mấy đồng.
Nó trả tao hai đồng cũng được miễn sao
công việc nó nhẹ nhàng một chút.
- À, hay là như thế này. Mày thích làm
cái công việc gì ở dưới Load King? Mày cho
tao biết rồi tao sẽ nói với tụi nó. Không
nên đi hãng khác.
- Thợ hàn.
Tôi trả lời ngay không cần phải suy nghĩ.
Phải, đúng là thợ hàn, một nghề có giá
trong đám thợ nửa chuyên nghiệp nửa lao
động này. Thợ hàn, tối ngày cầm cái
mỏ hàn, thì cũng không gì nặng nhọc lắm.
Còn được ngồi, được quỳ gối,
được nằm, được leo trèo thỏa thích.
Qua tuần sau tôi được xếp vào lớp học
hàn. Tôi mua áo da, nón hàn, còn bao tay thì
có sẵn cho dân làm sắt. Mỗi ngày ở lại
trễ hai giờ để học. Hàn đũa, đủ
cỡ lớn nhỏ. Hàn đủ kiểu, flat, angle,
bevel... Lấp vấp lúc đầu rồi cũng smooth
dần dần. Sau hai tuần, sau hai mươi giờ tập
dợt, tôi thi. Ðậu. Ngày tôi rời khỏi khu
một, rời khỏi cái máy cắt sắt, qua khu hai tập
tễnh làm thợ hàn, tôi thấy vui mừng hết sức.
Không phải vui mừng cho tôi, mà phần lớn là cho
cặp giò của tôi, đỡ phải bóp bóp mỗi
đêm, đỡ phải xoa dầu nóng. Tuy nhiên nỗi
vui mừng này không mấy chốc cũng tan biến ngay.
Ðứng núi này trông núi nọ, tránh vỏ dưa
cũng gặp vỏ dừa. Hàn. Hàn. Hàn hoài.
Hàn miết. Hàn hai mươi bốn trên hai mươi
bốn. Hàn đũa, hàn dây, hàn điện.
Hàn không phải là hàn, mà hàn là nhiệt.
Là nóng, là cháy, là phỏng, là khét, là
khói. Mù mịt tăm hơi... Tụi thợ hàn
chính tông còn dọa tôi rằng:
- Mày hàn lâu lắm cũng khoảng hai chục năm
thì phải về hưu. Phổi của mày không cho
phép mày làm thêm.
- Thiệt vậy sao?
Ngày lại ngày cứ thấy mấy chiếc trailer mới
chấm tack dính sơ sơ nằm lù lù đó, tiếp
tục hàn, hàn hoài không thấy hết. Mùa
lạnh này hàn còn thấy nóng, đến mùa hè
thì sống làm sao nổi. Chắc phải chịu "thân
bại danh liệt" thôi, lần này đâu có than
phiền gì với sponsor được nữa. Tôi
đã được cái gì tôi đòi hỏi rồi.
Trong đám thợ hàn hai mươi bốn trên hai
mươi bốn của tôi có bốn năm đứa
đàn bà, con gái. Lúc đội nón hàn thì
gái cũng như trai, đến hồi dở nón ra thấy
cặp mắt bồ câu, thấy làn da mịn màng và
mái tóc lơ thơ mình mới giựt mình.
Ðàn bà con gái ai lại đi làm thợ hàn,
thiếu gì nghề để làm, cái nghề này nó
làm mất hết cái vẻ thẩm mỹ của người
đẹp. Thiệt là uổng, tôi nghĩ như vậy.
Ðến giờ nghỉ, giờ ăn trưa, tất cả nhân
viên trong hãng mặc dù ăn chung một chỗ, nhưng
cũng chia ra từng nhóm, từng phe ngồi riêng từng
bàn, từng góc. Thường thường phải làm
cùng nghề hay ít ra cũng cùng khu. Ðám thợ
hàn đông nhất, náo động nhất. Tuy nhiên
đám thợ hàn đàn bà còn kỳ thị
trống mái, thích ngồi riêng không nhập vào
đám đàn ông. Trong đám đó, ngồi xa
trong góc lại là con Maria, con thợ hàn gốc Indian.
Hình như không đứa nào chơi với nó,
cũng không thấy nó nói chuyện gì với ai.
Ăn xong lại lấy sách ra đọc, không biết
sách gì, chắc tiểu thuyết. Cũng có chút
lập dị, làm chuyện không giống thiên hạ.
Tôi không muốn mình rơi vào cảnh bơ vơ
đó nên kết bè với đám thằng George, George
làm ở đây lâu năm, có thớ lắm. Mình
có dịp học thêm tiếng Mỹ, nói tiếng Mỹ.
Lẽ dĩ nhiên tôi cũng phải gặm sandwich đều
đều như tụi nó thôi. Một lần tôi
đem theo mấy con tôm khô của thằng bạn bên
California gửi qua định khoe món Á Ðông của
mình, nhưng đứa ăn đứa không ăn thì
biết là bị chê. Không ngờ tụi này cổ
hủ quá, không những kỳ thị chủng tộc mà
còn kỳ thị thực phẩm nữa.
- Mầy từ đâu đến?
Hôm đó bỗng nhiên con Maria hỏi chuyện tôi
trong lúc hai đứa hàn gần nhau. Giọng nó nghe
cũng lờ lợ, không giống như Mỹ, tuy nhiên
cũng là giọng con gái. Có cái khác. Tôi
thấy nó giống như một người đàn bà
Việt Nam tại vì tóc nó đen. Tôi trả lời:
- Tao là người Việt Nam, tao tới từ Việt Nam.
- Bao lâu rồi?
Con nhỏ này coi bộ rành mình quá mà còn
làm bộ hỏi, tôi tiếp:
- Vài tháng. Mày làm ở đây lâu chưa?
- Gần một năm nhưng tao cũng sắp nghỉ...
- Tại sao vậy?
- Tháng tới chồng tao ra trường. Tụi tao sẽ
về reservation của tao ở. Chồng tao sẽ làm hiệu
trưởng trường trung học ở đó.
- Ngon quá hả. Reservation của mày ở Sioux Falls hay
Sioux City?
- Cách đây xa lắm, mấy trăm mile, mày không
biết đâu. Tụi tao thuộc bộ lạc Crow Creek.
- Vậy hả. Tao cũng không rành khu này lắm.
Maria thỉnh thoảng nói chuyện với tôi, nhưng
tôi không dám tỏ ra thân thiện với nó.
Bọn Mỹ không ưa nó, mình thân với nó sẽ
bị họa lây. Tôi nhiều lần muốn tìm hiểu
tại sao Mỹ không ưa Indian? Tụi nó bảo rằng
Indian làm biếng, tối ngày say sưa không chịu
làm việc, ở không ăn welfare. Nhưng lần lần
tôi mới hiểu là trong reservation thì không có
việc gì làm, ra ngoài thị tứ thì bị hất
hủi, không bao lâu cũng bỏ job mà về reservation,
nhậu cho quên đời. Cũng may vùng này ít
thấy da đen, không thôi cũng coi được màn
kỳ thị da đen nữa. Nhưng tại sao tụi Mỹ
thích dân Á Ðông? Chắc chưa tới lúc
nó kỳ thị cũng chưa biết chừng. Trước
khi rời khỏi Vermillion, Maria và chồng nó, thằng
Tom lại là thằng Mỹ mà không phải là Indian,
có đến nhà thăm tụi tôi, cho địa chỉ
và hẹn có ngày gặp lại.
Tôi làm ở khu hàn được hai tháng, thì
bỗng nhiên được gửi trả về khu một,
nhưng không phải phụ trách cái máy cắt sắt
nữa mà thuộc nhóm làm small parts. Chỗ này
thấy dễ thở hơn nhiều, bớt hít khói.
Thỉnh thoảng mới hàn, phần lớn chỉ chấm tack
cho dính, mình là builder chứ không còn là welder
nữa. Nào là pedestal, out-rigger, tail gate, loading
ramp... thậm chí cho đến suspension block, goose neck pin.
Công việc cũng có lý hơn nhiều, cứ theo
blue-print mà build, còn học hỏi thêm đôi
chút. Tôi lẩn quẩn theo thằng leaderman để
học đọc mấy cái ký hiệu đặc biệt.
Không gì khó. Vài tuần sau tôi thấy mình
cũng có khả năng để làm một leaderman,
nhưng còn phải hội đủ điều kiện, phải
thi lên thợ hàn hạng hai. Ðược. Tôi
bắt đầu tập lén. Hàn over head, hàn vertical
down, hàn vertical up. Phải canh lửa nguội một chút,
nóng quá sắt chảy hết. Tập nhiều lần
thì cũng phải được, nhưng còn phải chờ
đúng kỳ hạn nữa. Tối thiểu, phải có ba
tháng thợ hàn căn bản. Chờ. Ðúng
ngày. Thi. Ðậu nữa. Dễ quá. Nhưng
chức vụ leaderman chờ hoài không thấy, hình như
hãng có policy riêng cho đám da vàng. Thôi
cũng được, unofficial leaderman cũng khỏe hơn
nhiều. Tôi được biệt phái năm tên lon
ton mỗi ngày, phân công cho tụi nó làm việc
còn phần tôi giữ nhiệm vụ cung cấp raw-material.
Vì phải order raw-material nên tôi phải tiếp xúc
và làm thân với mấy đứa chạy máy cưa,
máy cắt, máy tiện, máy khoan. Nhiều lúc mình
order gấp mà đám thợ chuyên nghiệp này lại
bận lang thang tán dóc khắp nơi. Thợ chuyên
nghiệp thường thường có nhiều thì giờ
để bàn chuyện đời, chuyện car racing, horse racing,
foot ball, base ball, hơn là chuyện phân tấc, foot inch
ở đây. Cũng nhờ vậy nên tôi có cơ
hội học cưa, học tiện, học khoan, học làm
mũi... Nhưng rốt rồi "bá nghệ trần
thân!" Mình lãnh lương cũng ngần ấy thôi
tội gì làm công việc của người khác.
Tôi lần lần cũng tập được cái tánh
của tụi Mỹ, thật là Mỹ, cái tánh mà lần
đầu tiên tôi thấy tôi chê, tôi khó
chịu.
Do your own job
. Phải, cái job của tôi
có đánh bóng cho mấy cũng là thợ hàn
thôi, không hơn không kém.
Mùa xuân đến, mùa ai cũng đợi mong, mùa
được đi ra ngoài, thoải mái. Bông hoa vui
vẻ, cây cối đâm chồi, cái gì trông cũng
đẹp cũng tràn đầy nhựa sống. Nhưng hoa
nào là hoa anh đào? Ðâu phải ở xứ
lạnh là có hoa anh đào, muốn xem hoa anh đào
thì phải đi Hoa Thịnh Ðốn, mấy người
bạn Mỹ nói như vậy. Trật đường rồi,
Hoa Thịnh Ðốn ở tận miền đông. Xa lắm,
không thể đi được với một hai ngày
nghỉ phụ vào cuối tuần, tụi tôi quyết
định đi thăm vùng Black Hill, đi thăm Rushmore
Mountain, chỗ có mấy cái mặt của mấy ông
tổng thống Mỹ bị dán vào vách núi, một
thắng cảnh quan trọng của tiểu bang nhà. Rốt
cuộc tụi tôi đi thăm đủ thứ, thăm Rushmore
Cave, thăm Cathedral Needle, thăm Crazy Horse, thấy đất
Mỹ cái gì cũng to lớn, cũng vĩ đại.
Tiếc là không phải xứ sở của mình. Trên
đường về dọc theo xa lộ I-90 tụi tôi còn
ghé vùng Bad Land, vùng đất sụp như một Grand
Canyon cỡ nhỏ. Ðược làm quen với mấy con
chipmunk
. Chụp hình mấy con
prairie dog
làm
kỷ niệm. Sau cùng, chúng tôi ngược dòng
Missouri về phía bắc đến thăm Maria và Tom.
Gặp lúc hai đứa nó đang bắt một bầy
chồn con, chồn hôi,
baby skunk
, vừa về tới
nhà. Maria và Tom ngạc nhiên khi nhìn thấy tụi
tôi vì tụi tôi đến mà không báo
trước. Kể ra tôi đọc bản đồ Mỹ
cũng không tệ lắm. Tôi vào đề ngay:
- Cái giống này hôi quá mà mày bắt
làm chi.
Tom cười ha hả, rồi giải thích một mạch:
- Mày chưa biết nuôi giống này hả. Cái
giống này bắt về, cắt bỏ hai cái hạch hôi
đi rồi nuôi trong nhà như nuôi pet; chó, mèo
chuột gì thấy nó cũng sợ hết. Hôi vậy
chớ mà khôn lắm, nhất là cái giống có hai
sọc trắng trên lưng này. Mắc lắm chứ
chẳng có rẻ đâu, năm sáu chục một con.
Sẵn đây mầy theo tao, tao chỉ cho mầy cái
này...
Không hiểu thằng này định dở trò gì,
tôi nhắc chừng vợ tôi và Huỳnh trông coi
mấy đứa nhỏ trong lúc nói chuyện với Maria,
còn tôi theo Tom xuống basement.
- Tao chỉ mày cái nghề này mày đừng
có chỉ lại ai hết nghe, tao học của một ông
già ở Tennessee. Tụi bác sĩ giải phẫu một
con charge năm chục đồng, không rẻ đâu.
Cách này chỉ mất năm phút. Một mùa cũng
kiếm được vài ngàn dễ như chơi, chỉ
làm trong ba tháng, tháng tư tháng năm và
tháng sáu.
- Chỉ có ba tháng?
- Ừ, sau tháng sáu, baby skunk lớn rồi, khó
train lắm.
- Làm sao biết nó ở đâu mà bắt?
- Ðăng báo. Thưởng năm mười đồng
cho ai chỉ mình hang skunk. Thường thường
người ta chỉ cho mày mấy cái xác skunk chết
dọc đường thôi. Mày phải quần khu đó
mà tìm hang... Nè, đeo kiếng vô kẻo nó
spray
vô mắt mày thì nguy.
Tôi lại học thêm một nghề mới, nghề giải
phẫu skunk, dễ như trở bàn tay. Nhưng mà con
Maria có vẻ không được vui khi thấy Tom sốt
sắng với tôi như vậy và lại truyền thêm
cái nghề bí mật đặc biệt này. Thằng Tom
bây giờ cũng đổi tánh thấy rõ, nói nhiều
hơn cả con Maria. Nó bảo tôi rằng từ ngày di
chuyển về đây chưa bao giờ thấy bạn bè
của nó tới thăm, tôi là người đầu
tiên cho nên nó khoái chí lắm. Ngoài nghề
làm hiệu trưởng nó còn làm thêm một nghề
nữa, cầm đồ lậu. Ðồ của Indian chất
đầy nhà. Lẽ dĩ nhiên tụi nó làm gì
có tiền chuộc, nhậu hết rồi, nên thỉnh
thoảng Tom phải đem xuống phố bán một lần
lấy lại vốn, thêm một mớ tiền lời. Tom
còn collect súng nữa, đủ loại, mới có, cũ
có, cowboys có, indian có... treo đầy tường,
gác đầy giá. Nhưng chưa có M 16 và AK 47,
tôi châm biếm nó như vậy. Thấy tôi có
vẻ cũng ưa chơi súng, Tom lấy khẩu Marlin, .22,
cầm đưa cho tôi:
- Tặng mày đó. Ðể kỷ niệm với tao.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Thiệt hôn mậy?
Nó bảo tôi viết tên cho nó biết rồi chẳng
nói chẳng rằng lấy tấm card visit lật phía sau
viết mấy dòng xác định sở hữu chủ của
cây súng:
- Tao nghĩ như vậy được rồi. Mày
khỏi cần xin giấy phép.
Trước khi về nó còn gửi cho tôi một mớ
trà Tennessee, trà rễ chứ không phải trà lá,
gọi là củ cũng được vì giống như
mấy củ mì. Ngửi cũng thơm mùi trà, lạ
thật... Maria còn muốn giữ tụi tôi ở lại
để đi thăm reservation của nó, có đài
kỷ niệm và có viện bảo tàng cất giữ
nhiều đồ xưa của bộ lạc, nhưng rất
tiếc tụi tôi không còn thì giờ. Ông cố
của nó ngày xưa là tù trưởng, con Maria nói
như vậy. Ðất đai vùng này hầu hết là
của dòng họ nó, bây giờ thì thuộc về
chính phủ rồi, chính phủ giựt không, không
trả tiền, nhưng đền bù lại bằng cách
xây cất nhà cửa làng mạc, trường học,
công viên, và nhiều tiện nghi khác, cho toàn
bộ lạc. Cái gì cũng mới toanh, sướng
quá còn đòi hỏi gì nữa. Nhưng Maria cứ
nghĩ là bất công, nó không còn xứ sở,
không còn bộ lạc. Cũng như mình, những con
người mất nước. Ðiều khác nhau là
tụi nó là những kẻ mất nước đang sống
trên đất nước của nó, còn mình là
những kẻ mất nước đang sống lang thang trên
xứ lạ quê người. Ai khổ hơn ai?
Về đến nhà trời cũng chạng vạng tối.
Vợ tôi, mấy đứa nhỏ, và Huỳnh vào nhà
trước. Tôi ghé qua thùng thư lấy thư và
thu dọn lại đồ còn sót trong xe. Ngạc nhiên
một điều, tôi lớn tiếng gọi:
- Má-my, làm sao em vô nhà được? Chìa
khóa của anh ở đây, bóp của em cũng còn
ở trong xe.
Vợ tôi nói vọng ra:
- Thôi rồi, hồi đi anh quên khóa cửa.
- Em quên chứ anh quên sao được. Em là
người ra sau chót mà, anh lo xe cộ.
Cũng may đồ đạc trong nhà cũng còn y
nguyên, dân ở đây cũng hiền, không đến
nỗi. Tôi vừa cởi giày vừa coi mấy bì
thư, hầu hết là
bill
. Nhưng có một cái
thư trông lạ lạ. Tôi mở ra xem. Ceta,
Comprehensive Educational Training Agency. Ceta chứng nhận rằng
tôi đã hoàn tất ba trăm hai chục giờ cho
lớp huấn luyện thợ hàn. Tôi đọc lại
lần nữa cho chắc. Sao lại có chuyện này.
Tôi có đi học chương trình này bao giờ
đâu! Tụi này láo thật. Chẳng lẽ mình
ký giấy tờ gì bậy bạ, ký mà không biết
không hay. Cũng có thể lắm. Thằng Load King
cũng láo, ăn công ký với đám này.
Chỉ tập có hai mươi giờ, bây giờ giấy ghi
ba trăm hai chục giờ. Thôi cũng được, bề
gì đương sự cũng đã được cấp
giấy này để tiện dụng. Tôi nghĩ tôi
đã học nhiều nghề lắm rồi mặc dù mới
đặt chân lên đất Mỹ mới hơn sáu
tháng. Tuy nhiên đây là nghề đầu tiên
tôi có giấy tờ chứng minh. Mình đang ở
bottom
rồi thì chỉ còn
go up
chứ không
còn
go down
được nữa. Ðây là
bước đầu tiên. Hãy cố gắng, hãy chịu
đựng, hơn nữa, hơn nữa, rồi đời mình
sẽ đi lên. Tôi khuyên tôi như vậy.
back to top
08. CHIẾC ÐŨA THẦN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Tôi đang làm một unofficial leaderman ở khu ráp small
parts, thì bị đẩy qua khu 4, khu sand blast và hàn
dặm. Hóa ra làm việc cho một hãng tư của
Mỹ cũng giống như mình đi lính ở Việt Nam,
không được ở yên một chỗ. Có cái
lợi là nhân viên trong hãng được huấn
luyện đủ thứ nghề mà khỏi phải đưa ai
vào trường. Nghề dạy nghề, mặc dù không
rành bằng đám thợ chuyên môn, nhưng mấy
lúc kẹt... không chó bắt mèo ăn cứt, cũng
được. Coi bộ Mỹ không hạp với câu
nhất nghệ tinh nhất thân vinh
, hễ thấy mình
vừa xong công việc này thì lập tức sai đi
làm việc khác. Lao động làm ăn giờ,
đúng là sức nào tiền nấy.
Trailer vừa chuyển qua khu 4 thì được đưa ngay
vô phòng sand blast, phòng xịt cát, thổi cát.
Chiếc xe mới đưa vô sần sùi như con heo
sống, mà trở ra trắng nõn như con heo đã
được làm lông. Sẵn sàng để sơn.
Phil, thằng foreman khu 4, định đẩy tôi vào sử
dụng cái máy xịt cát đó mới khổ. Kỳ
thị chủng tộc? Chắc nó mang bịnh này nặng
lắm nên mới dám làm như vậy. Tôi cự
thẳng vào mặt nó:
- Mày phải biết tao là thợ hàn, và thợ
hàn không làm việc đó.
Tôi tưởng nó sẽ hùng hổ với mình, ai
dè nó chỉ cười trừ rồi lơn tơn đi
tìm người khác. Làm tôi cụt hứng, nhưng
tôi cũng có lý do của tôi, lý do thật chính
đáng. Vài ngày sau tôi mới biết đây
là công việc xây tua, tới phiên mình thì
mình phải làm. Sau thằng Jim là đến phiên
tôi, bắt đầu lại như bắt đầu một con
giáp. Cái phút giây chờ đợi coi tôi có
làm nổi hay không như được xì ra, tụi
Mỹ làm chung khoái chí lắm, cười ngặt
nghẽo. Một thằng nói:
- Tao thấy mày ôm cái họng súng đó cũng
giống như một đứa nhỏ ôm cái vòi voi.
Mày phải rán mà đứng cho vững không thôi
cái vòi voi nhân tạo này dám dở bổng mày
lên trời lắm đó.
- Coi đây này. Ki-ma... sô-gi, hịch hịch.
Tụi Mỹ lại cười to hơn khi thấy tôi biểu
diễn một màn thái cực đạo. Jim kéo tôi
vào phòng sand blast, chỉ cho tôi cái ống bố
giống như vòi nước chữa lửa thứ bự:
- Ðấy, liệu mà karaté cái thứ này.
Jim có nhiệm vụ chỉ cho tôi việc sand blast.
Trước hết là tròng vô bộ đồ giáp
thứ thiệt, bộ đồ có những lá thép mỏng
che khắp ngực bụng tay chân. Kế, trùm lên
đầu một nón sắt thiệt lớn cũng có
những lá thép lòng thòng phủ xuống vai. Bây
giờ hai đứa trở thành hai phi hành gia không gian,
hai R2D2, chỉ thấy nhau qua khung kính trước mặt.
Phải la lớn mới nghe. Tôi bợ cái vòi chữa
lửa lên và lắp mối nối vào bộ đồ
giáp. Một làn gió thổi vào mặt mát
rượi, thì ra trong hệ thống vòi voi này có
một ống tiếp hơi.
Jim xòe tay chụm ngón trỏ vào ngón cái ra hiệu
sẵn sàng, tôi dang hai chân đứng theo kiểu
đứng trên tàu và từ từ đẩy cần
công tắc gắn ở đầu vòi về phía
trước. Tiếng động cơ rú lên và một
luồng ám khí phóng ra. Cái vòi tự động
chĩa lên trời mặc dù tôi cố ghìm nó
xuống. Ðã vậy nó còn đẩy tôi thụt
lùi lần lần về phía sau, đến khi đụng
vách phòng tôi mới đủ sức kiềm chế
được cái con rắn quái đản này. Thằng
Jim nhảy lại tiếp tay tôi ấn nó xuống, quạt
qua quạt lại trên thành xe. Quạt tới đâu
sáng tới đó như mình đánh vảy cá,
không dám để lâu một chỗ sợ lủng luôn
vô thịt.
Nói là sand blast, nhưng đâu phải sand mà là
steel, steel blast mới đúng. Những hạt thép nhỏ
li ti bắn ra với một vận tốc khá mạnh. Không
mấy chốc cả phòng trở nên mù mịt vì
những bụi phóng xạ của đám thép hạt
này. Mấy cái vỏ xe may là được phủ
bởi mấy thùng sắt không thôi thì dám đã
nổ mất tiêu rồi. Chỉ có cách này mới
trị nổi mấy chiếc trailer hạng nặng, trailer nhà
binh. Hay thiệt. Nhưng, cái cực của sand blast
đâu phải là ôm cái vòi xịt tới, xịt
lui mà cực là ở chỗ clean-up, là cào cái mớ
thép hạt đó đổ dồn xuống hầm cho cái
máy lọc. Lọc lại, xài lại. Thép hạt
nặng hơn cát nhiều, xúc một giá đầy, đi
không muốn vững.
Xịt cát xong, trailer được di chuyển ra ngoài
hành lang bằng xe fork-lift. Fork-lift ở đây cũng
có hai loại: loại thường chạy bằng máy dầu
cặn, và loại đặc biệt chạy bằng điện,
bình ac-cu. Trailer được đặt nằm thăng
bằng nhờ mấy bánh xe lắp sẵn phía sau, và hai
cái stand như hai cái chân chịu, đặt ở phía
trước dưới hai đà chính. Thằng leaderman
có nhiệm vụ rọi đèn pin tìm những chỗ
hàn cháy vì dư lửa, hàn bộng vì thiếu
lửa, hàn như con rắn liu điu vì ngủ gục... v.v.,
nói chung là mấy chỗ hàn xấu, và mấy chỗ
quên hàn để khoanh một vòng tròn bằng phấn.
Rồi đám thợ sử dụng chisel, máy dẫy, grinder,
máy mài, phân tán mỏng nhào vô mấy chỗ
làm dấu, làm thịt. Tiếng cọ sát giữa
thép với thép nghe điếc con ráy. Kế, đến
phiên đám thợ hàn trổ tài re-weld, hàn láng
trở lại. Sau cùng là tốp thợ mộc, cưa
đà gỗ loại dày phủ lên trên, bắt
bù-loong vào đà ngang để đóng sàn
trailer. Ðó, công việc của khu 4 cũng chỉ
vậy thôi, việc gì mà mình làm không trôi.
Nhưng, trôi hay không trôi đôi khi cũng còn
phải tùy thời, tùy vận. Hôm đó đến
phiên tôi sand blast. Vừa xong chiếc thứ hai, tôi
lấy fork-lift loại chạy bằng điện, đội cái
goose neck, cái thớt đằng trước, di chuyển nó
ra ngoài. Nhích tới, nhích lui mấy bận tôi
cũng cho chiếc trailer đậu parallel vào đúng
vị trí. Vác hai cái stand về đặt dưới
đà chính sẵn sàng hai bên. Bấm nút "down"
từ từ hạ xuống. Không được, stand thấp
quá. Stop. Ðội lên. Vác thêm 4 miếng
đà gỗ để mỗi bên hai miếng, chồng lên
cái stand cho cao thêm. Ðâu vào đấy thì
bỗng nhiên từ phía sau lưng tôi vọng tới:
- Ê mạnh giỏi, Hùng, lâu quá không gặp
mày. Tao tưởng mày nghỉ sở rồi chớ, ai
dè mày đổi qua khu này. Bao lâu rồi mậy?
- Gần hai tháng.
- Hi, Hùng.
- Hi, hi...
- Hi, mày đang làm ở đây hả?
- Hê, tụi mày cả băng đi đâu đây?
- Xếp John sai tụi tao qua đây khiêng cái máy
bơm hydraulic này về thử.
- Bộ tụi bây bỏ nghề làm thợ hàn
hả? Làm thợ máy hả?
Liệng đại cái máy xuống đất cái bịch
rồi cả bọn, mấy thằng Mỹ con làm chung với
tôi lúc trước, móc thuốc ra hút và bắt
đầu tán dóc. Chẳng có chuyện gì khác
hơn là chuyện thằng xếp mới của tụi nó,
thằng John đầu sói. Một điều, hai điều
cứ bảo thằng John là thằng ngu. Ngu? Ngu mà sai
tụi nó chạy có cờ. Oh men, men, nghe tùm lum,
rồi oh men, oh shit, và four letter word văng ra tứ phía.
Bắt sang qua chuyện gái..., tụi nó kể rất là
tự nhiên làm tôi cảm thấy mình lạc hậu,
lạc loài. Lạc hậu thì cũng chẳng màng,
xưa nay nước mình có bao giờ thoát khỏi
vòng chậm tiến đâu. Nhưng, cái ý nghĩ
lạc loài mới thấy thấm thía làm sao. Cái
loài của mình tự cổ chí kim đâu bao giờ
làm tổ ở vùng này, phương trời này.
- Ê, tụi tao phải đi nghen. Sẽ gặp lại
mày.
- Bye.
- Bye..., bye.
Tôi vẫy vẫy tay tiễn đám nhóc cứ tưởng
mình còn trẻ như tụi nó, rồi trở lại
với công việc. Ngón tay trỏ đè lên nút
"down" mà cặp mắt vẫn trông chừng theo lũ bạn,
hồn thả tận đâu đâu... cho đến khi nghe
"cạch," một tiếng kêu nhỏ. Tôi quay lại,
hốt hoảng thấy ngón tay của mình bị kẹt
giữa chiếc trailer và cái cần điều khiển
của chiếc fork-lift. Cái nút "up" sát bên nút
"down" cũng bị vô hiệu hóa luôn, còn chỗ
đâu mà bấm. Trailer cứ tiếp tục hạ
xuống, và cái cần điều khiển từ từ
sụm. Như chợt nhớ một điều, tôi nhìn
lại hai cái stand, ôi thôi rồi, bốn miếng
đà gỗ chêm thêm bên trên đã bị
thằng nào lấy đi đâu mất. Sự kinh hoàng
đến với tôi như một luồng điện, tôi
hãi hùng la:
- Cái tay của tao, Phil. Cái tay của tao, lẹ lên,
Phil, cứu tao với...
Thằng Phil sáng mắt thật, thấy tôi giằng co với
con rùa loại snap turtle, cắn một cái trời gầm
không nhả, là nó hiểu ngay vội vàng nhảy
lên chiếc fork-lift, lập tức rồ máy lượn
một vòng, lụi hai cây chĩa vào cái goose neck,
nâng lên. Tôi mừng rỡ gỡ được cánh
tay ra. Phil chạy lại:
- Tháo bao tay ra coi.
Tôi rút từ từ, nhè nhẹ. Ngón tay trỏ
dẹp lép như tờ giấy, xương gân lòi ra
trắng xác. Hên là tôi dùng có một ngón,
tôi vọt miệng:
- Oh shit. It's flat, men.
Phil trợn mắt, nhăn mặt. Rồi như sợ mấy
đứa làm xung quanh nhìn thấy, sợ tinh thần nhân
công dao động vì cái ngón tay bầm dập này,
Phil tiếp:
- Tròng bao tay vô. Ði theo tao, đi.
Tôi điếng hồn chỉ làm theo những gì Phil
nói. Rồi tưởng mình mạnh sức, nhằm nhò
gì với vết thương nhẹ này so với những
người bị thương ngoài chiến trận ở Việt
Nam, ai dè chưa được nửa đường lên
phòng y tá, tôi hoa mắt không thấy đường
đi. Tôi tháo bao tay ra coi lại ngón tay lần
nữa. Máu bắt đầu rịn ra, bây giờ mới
biết đau, nhức nhối buốt xương. Tôi bủn
rủn quỵ xuống tại chỗ, mắt nhắm lại cho bớt
xây xẩm. Vài phút sau, biết có ai đỡ
mình lên băng ca, biết trên tay mình có cây
kim vô nước biển... Rồi nghe tiếng xe Hồng
thập tự hụ còi, thấy mình được đưa
lên xe, thấy xe chạy xốc tới xốc lui. Văng
vẳng bên tai còn nghe tiếng của mấy cô y tá:
- Từ đây xuống Sioux City bao lâu?
- Khoảng hai mươi phút.
- Nhanh lên, mặt mày nó xanh ngắt rồi.
Và giọng người tài xế:
- Bảo nó rán lên..., hang on...
Cứ nghĩ là mình sắp đi theo ông bà, tôi
chỉ buồn tại sao mình phải rơi vào cái
cảnh chôn thây nơi xứ lạ quê người.
Ðánh giặc với Việt Cộng cả chục năm
không chết, mới tới Mỹ chưa hai năm mà
phải bỏ mạng sa trường. Ðể lại vợ con
bơ vơ không ai đùm bọc, không ai nương
tựa. Tức thiệt. Chỉ có việc di chuyển
mấy cái trailer mà làm cũng không trôi. Mà
thằng lỏi nào cũng ác, dám lấy mấy miếng
gỗ của mình mà không thèm hỏi một tiếng.
Tôi đang nghĩ miên mang thì xe Hồng thập tự
cũng chạy ào tới bịnh viện.
- Mày phải ký vô đây đặng bác sĩ
giải phẫu ngón tay cho mày.
Một giọng nói sát bên lỗ tai, và có
người cầm tay tôi đặt lên tờ giấy.
Thu hết tàn hơi, ký, một chữ ký đọc
không được mà thấy cũng không
được. Rồi tôi làm theo lời dặn của
cô y tá chụp thuốc mê. Ðếm. Một, hai,
ba... và tất cả chìm vào bóng đêm.
Lúc tỉnh dậy, đầu tôi nặng như đá.
Bỗng nghe được tiếng bốn đứa con tôi
chạy giỡn lăng quăng bên giường, và tiếng
vợ tôi mừng rỡ:
- Ba tỉnh rồi kìa... Anh thấy trong người
anh ra sao?
Mình đang nằm nhà thương? Tôi cố moi
trí nhớ xem chuyện gì đã xảy ra. Thôi,
chết rồi, tôi quờ quạng đưa cánh tay phải
mân mê cánh tay trái. Băng bột? Hai lóng tay
dập nát, dẹp lép không biết có còn
không? Tôi giơ cánh tay trái từ từ lên
ngực, muốn cử động ngón trỏ nhưng không
còn cảm giác gì hết. Chắc bị cưa mẹ
nó rồi.
- Mấy giờ rồi em?
Tôi gượng ngồi dậy, vợ tôi đỡ
lưng tôi.
- Ba bốn giờ chiều. Anh cứ nằm nghỉ cho
khỏe, ngồi lên làm chi...
Tôi thấy choáng váng rồi buông người ngã
xuống nệm. Lỗ tai lùng bùng, thái dương
nhức bưng bưng. Vậy là hơn một ngày,
tôi thở một hơi dài lấy sức.
- Ba..., ha ha... ba chưa chết má à.
- Nói tầm bậy. Ði chơi với mấy em đi,
để ba nghỉ.
Vợ tôi cầm tay tôi mân mê, bóp bóp. Và
cơn buồn ngủ bỗng như trở về, kéo mi mắt
tôi xệ xuống...
Tôi được nhận vào học năm thứ nhất
tại Western Iowa Tech Community College, Sioux City, Iowa, sau khi
bản sao bằng cấp tú tài hai và bằng sĩ quan
hải quân của tôi được trường gửi
đi Washington D. C. khán nghiệm. Sáu giờ học,
bảy giờ sáng hai giờ trưa kể luôn giờ ăn
trưa, sáu giờ làm thợ hàn part time ca đêm
ở Load King, bốn giờ chiều đến mười giờ
tối, lái xe đi đi về về hai giờ nữa, vị
chi mười bốn tiếng một ngày. Mười giờ
còn lại dành cho tắm rửa, ăn ngủ, bài
vở... Nhà cửa, con cái, chợ búa, nấu
nướng giao hết cho vợ. Ban đầu chỉ sợ
mình không đủ sức, nhưng rồi quen đi, mình
như được programmed thành robot, tới giờ chạy
thì chạy tới giờ ngưng thì ngưng.
Vào lớp mấy tháng đầu thật tình mà nói,
thầy giảng thầy hiểu tôi nói tôi nghe. Về
nhà, tôi phải rán lấy sách ra đọc và
chịu khó tra tự điển. Nhưng, tự nhiên
rồi nghe được hiểu được, chẳng biết
sao. Cái khó sau đó không phải là nghe mà
là nói. Rồi lần lần cái khó không phải
nghe và nói mà là đọc và viết. Nghe,
nói, đọc, viết và gì gì đi nữa, tiếng
Mỹ đối với tôi suốt đời như vẫn là
sinh ngữ hai, thứ sinh ngữ phụ mà tôi đã
chọn hồi nào tôi học lên ban trung học. Chán
thiệt. Chung một lớp với tôi còn có hai anh
bạn độc thân, cũng chịu khó đi làm đi
học như tôi nhưng chỉ được một tháng
thì bỏ cuộc. Không hiểu bị trở ngại vì
sinh ngữ hay vì hãng thịt bò IBP, Iowa Beef Processing,
trả lương cao.
Học xong quarter đầu thì trời đã sang đông,
tuyết phủ trắng đồng. Thêm một trở ngại
nữa là xe cộ đường xá. Xe, mới qua thì
làm gì có xe mới, tôi được chiếc Toyota
đời 69 làm chân. Sáng nào nhiệt độ
dưới không độ, trừ trừ, thì đề máy
chưa chắc đã nổ. Ðề máy không nổ
thì còn mệt dài dài, phải câu bình, phải
đẩy, phải ủi..., phải làm sao cho nó chạy
mới thôi. Không thể mất một buổi học mà
cũng không thể mất một ngày làm, cái nào
cũng là xương máu, không thể hy sinh.
Ðường xá thì kinh nghiệm đã có dẫy
đầy của mùa đông năm rồi, mùa đông
đầu đời. Lọt xuống ruộng, cúi đầu
làm dấu thánh giá rồi bò lên chạy tiếp.
Quay vòng vòng, nhắm mắt niệm nam mô a di đà
rồi quay đầu chạy tới. Chỉ cần vài lần
thì tôi biết lướt trên tuyết, biết lạng
trên nước đá.
Nhưng lần này xui hơn, bạc đạn bánh xe
trước bị bể trên đường tôi đi học
về. Tôi chạy ẩu, rán được một khúc
đường rồi cũng phải ngưng, vì bánh xe
bắt đầu xệu xạo. Chỉ còn cách đón
xe dọc đường. Ở vùng Mid-west này
được một điểm là thiên hạ hay có
lòng từ bi, sẵn sàng cho người lỡ đường
quá giang. Nhứt là mùa đông, không cho quá
giang như mang tội giết người. Lạnh quá cũng
đủ chết. Bởi vậy tôi vừa chui ra khỏi xe,
thumb-up một cái là bác tài Mỹ vớt tôi ngay.
Ðặc biệt hơn, bác tài này là tài xế
xe semi-truck hạng nặng, mình từ chối không đi
coi cũng không được. Tiếng máy dầu cặn
loại lớn, lộc cộc, lộc cộc..., như một
điệu nhạc buồn, ru ngủ. Tôi trèo lên ba
nấc thang ở ba vị trí khác nhau mới vói tay mở
được cửa:
- Cho tao về Vermillion.
Bác tài chẳng nói chẳng rằng, vô số rồ ga
chạy tiếp, hình như hắn chẳng cần biết
Vermillion là đâu. Bây giờ tôi mới thấy
ngồi trên xe truck loại xe be này như ngồi cao trên
máy bay, thấy mình như đang trên run way chạy
dài xa tít, tuyết hai bên phủ trắng ngút ngàn.
Nhưng, xe truck không làm sao êm như máy bay
được, mà giống như xe đò Việt Nam chạy
trên lộ bị Việt Cộng đào hố, đấp
mô. Tôi bị nhồi lên, hụp xuống như tàu
đi trên biển, vậy mà hắn ta tĩnh bơ.
Nhìn kỹ mới biết hắn ngồi trên chiếc ghế
riêng, không dính liền với cái băng tôi
đang ngồi. Chiếc ghế có hệ thống lò xo
rất đặc biệt, nhún lên nhún xuống nhịp
nhàng hóa giải những cơn xốc nẩy người
một cách êm đẹp, đến nỗi làm tôi
tưởng chừng hắn như đang tham thiền nhập
định, ngồi yên một chỗ, không di động.
Hắn mở lời để phá bỏ bầu không khí im
lặng:
- Xe của mày loại gì?
- Toyota.
- Mày được cái mày muốn rồi.
Hắn vừa nói vừa mỉm cười. Rõ tư bản
Mỹ chê tư bản Nhật. Nhưng, tư bản nào
cũng hay hơn, cũng đỡ hơn cộng sản, nhứt
là cộng sản Việt Nam. Tôi đáp lời:
- Không. Tao chẳng được cái tao muốn, tao
chỉ được cái tao cần, tao đủ sức trả
tiền...
Rồi tôi xuống ở ngã tư xa lộ 50, thumb-up thêm
một lần nữa mới về tới home-town. Gọi
điện thoại cho vợ tôi ra đón, rồi hai
đứa đi luôn xuống tiệm bán đồ phụ
tùng để mua cái bạc đạn. Cỡ nào cũng
phải sửa xe trong ngày để ngày mai còn tiếp
tục đi học, đi cày. Trở về nhà, cơm
nước ăn qua loa rồi vợ chồng con cái mới
bồng bế nhau đi. Vợ tôi không muốn tôi
đi một mình mà bỏ tụi nhóc ở nhà cũng
không ai baby sit.
Vừa ra khỏi nhà thì khổ một nỗi tuyết ở
đâu bỗng dưng rơi tầm tã. Tuyết rơi
chẳng biết lựa giờ, rủa thầm một câu.
Khoảng hơn một tiếng đường xa lộ, giữa
ruộng đồng mênh mông, tôi gặp lại chiếc
Toyota của tôi đang nằm co ro, cô đơn, lạnh
lẽo trong lớp tuyết sương phủ kín. Quay
đầu trở lại và tấp vô lề, chiếc Mazda
Wagon của vợ tôi vẫn để máy chạy đều
đều để giữ hơi ấm cho tụi nhỏ. Tôi
đem đồ nghề ra để giải phẫu con bạn
vàng bệnh hoạn của tôi. Phủi tuyết rồi
hì hục tháo được cái bánh xe, tháo
được cái thắng xe... ôi hỡi ôi cho cái
bạc đạn, nó bị mòn lẳn một phía và
dính khắn vô đùm xe, tôi không tài nào
nhúc nhích nó được. Phải có cái
cảo, cảo nó ra thì mặc may. Nhưng, giữa trời
làm gì có cảo. Mượn, chạy vô xóm
nhà lá đằng kia để mượn. Ði không
mà lại trở về không, đâu có được,
đi một phải trở về hai. Phải sửa cho bằng
được.
Rẽ vô exit mới biết nơi đây vỏn vẹn
chỉ có một cây xăng và một cái bar. Ghé
vô cây xăng là chỗ dễ mượn đồ nghề
thì nghiệt thay chẳng ai biết cái cảo là cái
gì, thứ đồ nghề đặc biệt có khác.
Tấp vô bar thì gặp ngay một đám cao bồi.
Nón đội đầu, bia cầm tay, thỉnh thoảng
đưa lên miệng tu ngất ngưởng. Thấy ngại
thiệt, nhưng tôi cũng làm liều hỏi đại
một tên:
- Ê, tao cần một cái bearing puller để tháo
cái bạc đạn bể. Mày biết có ai có
không?
- Puller hả? Ðược rồi, để tao lo cho.
Làm một chai đi.
Chẳng đợi tôi trả lời trả vốn, hắn
đã kêu tên chủ bar khui cho tôi chai bia làm
tôi chới với. Tôi định nói tôi không
biết uống, nhưng lỡ khui rồi từ chối cũng
bất lợi:
- Cám ơn. Nhưng tao không có thì giờ, tao
ở tuốt trên Vermillion lận, tao cần sửa xe để
đi về.
- Uống hết đi rồi đi.
Vợ tôi ở ngoài xe chắc cũng sốt ruột dữ
lắm, sao lâu quá mà không thấy tôi trở ra,
chớ vợ tôi có biết đâu tôi cũng đang
chờ đợi, điêu đứng với tụi này.
Nhâm nhi tán gẫu một lúc rồi cũng cạn chai,
và tôi lấy làm lạ thấy thằng Mỹ tôi
mới làm quen dám bỏ ngang đám bạn bè của
nó để lo đi sửa xe với tôi. Cũng không
ngờ nó lại là tài xế cái đầu máy xe
truck hạng nặng, không kéo thùng, đang đậu
ngoài sân. Nhưng nó lại ngạc nhiên chuyện
khác, trách tôi:
- Trời, tại sao mày không nói với tao là có
vợ con của mày đang chờ ở ngoài này. Nè,
bây giờ chạy theo tao.
Vợ con dẫn theo phải nói cho nó biết? Chạy theo
nó đi đâu? Cái thằng Mỹ lỏi này có
tin nó được hay không? Chỉ mượn có
cái cảo mà sao phải lòng vòng như
vầy? Trong đầu tôi lung tung nhiều câu hỏi.
Trời đã tối rồi và tuyết rơi càng lúc
càng nặng cánh. Một liều năm bảy cũng
liều, tôi chạy theo nó sâu vào cánh đồng
phía trong. Ngừng lại tại một ngôi nhà cũ
kỹ, đơn độc giữa bầu trời hoang vắng tha
ma. Tôi bắt đầu biết sợ, chưa dám
bước ra xe, quay cửa kiếng xuống chờ đợi
động tĩnh. Có gì bất trắc thì mình
vọt luôn cũng tiện. Tiếng máy dầu cặn,
lộc cộc, lộc cộc..., từ đằng kia cũng là
điệu nhạc buồn, ru ngủ. Hắn đến bên
tôi:
- Ê, vô nhà chơi mậy. Xe của mày có
thằng khác lo rồi.
Thôi rồi, nó đã dụ khị mình tới
đây, sao mình không nghĩ tới. Bây giờ
nếu nó ra tay thì làm sao đỡ cho nổi. Vợ
tôi thì yếu ớt, còn tôi thì cũng chẳng
mạnh mẽ gì. Thêm lũ nhỏ mệt mỏi nằm
ngủ lăn lóc phía sau. Tôi bảo vợ tôi cứ
ngồi yên trong xe để mình tôi nhảy ra đối
phó. Bước vô phòng khách, tôi nghe
được tiếng người đàn bà la thằng
nhỏ phía sau nên cũng bớt phập phồng. Tôi
muốn kéo nó trở về với vấn đề của
tôi. Nhưng, mình nhờ người ta chớ có sai
bảo ai đâu nên cũng phải khéo ăn khéo
nói. Ðang suy nghĩ lựa lời, thì nó lại
phát biểu ý kiến trước:
- Vợ con mầy đâu, sao không vô.
- Tụi tao không dám làm phiền mày nhiều. Tao
chỉ muốn mượn mày cái puller mà thôi.
Nó chạy trở ra ngoài nài nỉ vợ tôi:
- Vô nhà đi. Không có ai cắn mày đâu.
Bộ mày muốn chết ngoài này với cơn mưa
tuyết hả... Hê, mấy thằng nhóc này, dậy,
dậy..., vô nhà đi cho ấm.
Ðám con tôi giật mình ngơ ngác. Nãy giờ
nằm phía sau bị ngộp thở vì chật hẹp, tù
túng, nghe nói vô nhà tụi nó cũng mừng, mở
cửa túa ra chạy vào trong. Tôi nghĩ nếu có
lũ nhỏ chạy theo hỗ trợ thì thằng Mỹ này
chắc không dám dở trò gì đâu. Ðành
phú cho hoàn cảnh đẩy đưa, tới đâu hay
tới đó. Rồi tất cả dồn ra nhà bếp
phía sau, bắt đầu màn giới thiệu:
- Tao là Mike Wagner. Vợ tao, Mary. Con trai của tụi
tao, John.
Tôi bắt chước Mike giới thiệu vợ con từng
người một, nhưng mỗi tên lại phải đánh
vần. Tôi phát âm chữ Nguyễn không hiểu
lỗ tai của nó nghe làm sao mà nó phiên âm
thành chữ
Win, win all times
, nó thích cái họ
như vậy.
- Tụi bây ăn gì chưa, chắc tụi bay đói
bụng. Mary, lấy đồ ăn cho tụi nó ăn đi.
Vậy là nãy giờ mình nghi ngờ, hiểu lầm
thằng Mike, tội cho nó. Dân làm ruộng, sống
nơi thôn dã thì dù ở xứ nào chắc cũng
vậy: hiền lành, chất phác. Tôi kết luận
suông như thế và chờ đợi kết quả coi
có trúng hay không. Mike chỉ biết lõm bõm
về Việt Nam, chiến tranh Việt Nam, và bữa nay
nó hân hạnh được gặp người Việt
Nam. Cuộc chiến đã tàn, Việt Nam đến
với nó bằng linh hồn, bây giờ cái gì liên
hệ với Việt Nam là hình như nó đều ưa
thích, nó nói như vậy. Gớm thật, thằng coi
vậy mà cũng có... tâm hồn. Nó đãi
ăn thì mình cứ ăn, tội gì phải làm
khách. Thật ra, tôi chỉ sợ nó buồn chớ
ham, chese, potato chip, snack thì cũng chẳng hạp gu gì
cho lắm.
Ðang ăn được nửa chừng thì tụi Mỹ
chòm xóm, láng giềng của thằng Mike ở đâu
kéo tới đông như đi chạy giặc. Thôi
rồi, nó định đem đám mình ra để
làm một cuộc triển lãm. Nhưng xem kìa,
người nào cũng cầm một món nhạc khí
trên tay violon, banjo, guitar, trompett, saxo, accordion, và luôn
cả mấy cái trống tom-tom. Chẳng lẽ đây
là một đại ban đồng quê của Mỹ? Tôi
để thằng Mike giới thiệu, đánh vần hoài
mỏi miệng. Rồi sợ ăn bữa giỗ lỗ bữa
cày, tôi đến nhắc chừng thằng Mike về vụ
chiếc xe:
- Như vậy rồi chừng nào mới đi sửa xe?
- Tao bảo mày là có thằng khác nó lo rồi,
mày không tin tao sao. Tụi nó mới gọi máy CB
về cho tao biết cái bạc đạn không tháo ra
được bằng puller. Xe mày nhỏ, puller xe truck
loại lớn không xài được. Tuị nó
đang đem cái mỏ hàn gió đá ra đó
đặng cắt. Tuyết rơi như bão ở ngoài
đường, sửa xong chưa chắc mày sẽ đi
về được. Cứ vui chơi ở đây
trước đã.
Lại nghi ngờ, hiểu lầm thằng Mike một lần nữa.
Ðã bảo tụi này chất phác hiền lành.
Nhưng, vui chơi làm sao được khi đầu óc
mình rối như tơ vò. Ðiệu này ngày mai
vô lớp phải ngủ gục. Kệ, để xem đêm
văn nghệ bỏ túi của đám Mỹ này đi
tới đâu. Ban nhạc hòa tấu rất hay, nhịp
điệu vững vàng, nhưng toàn những bản country
xa lạ mà tôi chưa từng nghe. Tụi nó giới
thiệu đó là những bản nhạc mới, những
bản nhạc thời trang đang thịnh hành. Tôi nói
tôi thích những bản xưa. Tụi nó chơi
liền những bản quen thuộc của ban The Venture mà
tôi thích. Làm mình nổi hứng cũng muốn
trổ tài:
- Cho tao mượn cây đàn coi.
- Hay quá. Mày biết chơi guitar nữa hả?
- Chơi xoàng thôi, lâu lắm rồi chẳng rờ
tới cây đàn. Mà không biết có chơi
được với ngón tay gãy này hay không.
- Gãy hồi nào vậy? Ðâu, đưa tao coi.
Tôi giơ ngón tay gãy cho tụi Mỹ xem, ngón tay
có giấy chứng nhận 35 phần trăm tật nguyện,
và 1500 đồng tiền bồi thường bảo hiểm.
Một ngón tay, một cảnh đời khác biệt, nhờ
nó mà cuộc đời tôi mới có cơ may thay
đổi. Bằng không, suốt cuộc đời còn
lại chắc tôi cũng chỉ làm một tên thợ
hàn lem luốc mà thôi. Mà cũng do số trời,
ở bệnh viện St. Vincent ngày đó trong lúc đi
tới đi lui cho dãn gân cốt, tự nhiên tôi
thả lần ra phòng chờ đợi, và bao nhiêu tạp
chí Time, News Week, Business Week, Sport Illustrated..., tôi lại
không đọc mà cầm nhầm quyển catalog của
trường đại học duy nhất tại Sioux City. Ði
học đi chớ, làm cu li suốt đời sao. Sponsor
của tôi, kẻ thì đốc xúi người lại
cản ngăn. Nhưng, quyết định là của
mình, cho cuộc đời của mình. Và tôi
đã quyết định, một quyết định đổi
đời.
- Ðể tao dạo một bản coi sao, tao chỉ sợ nó
gãy thêm một lần nữa.
Dứt bản độc tấu, bản Domino, tiếng vỗ tay vang
dội. Không ngờ ngón tay có tật cũng còn
bấm được đàn. Trong nỗi mừng vui, tôi
hôn ngón tay của tôi chùn chụt, quên bẵng
chiếc xe hư đang nằm giữa trời, chờ đợi...
Tôi yêu ngón tay tôi
Từ khi đến nửa đời
Nửa đời? Phải, nửa đời tăm tối
đã qua và nửa đời còn lại đang lên.
Ngón tay gãy như chiếc đũa thần đã
thật sự đưa tôi vào miền ánh sáng.
back to top
09. NGĂN SÔNG CÁCH NÚI
NGUYỄN TẤN HƯNG
Mới học xong bằng hai năm mà đã hết
trường. Muốn học lên nữa thì phải đi
xa. Gần nhứt cũng hơn 150 dặm, ba giờ lái
xe. Xuống Omaha, Nebraska. Cái thành phố có cái
tên mới nghe như nghe tiếng Nhật, Yamaha, Toyota,
Honda... Phải đi xa, hai vợ chồng tôi quyết
định như vậy. Nhưng chỉ mình tôi thôi,
vợ tôi và mấy nhóc vẫn ở lại nhà, tiểu
bang nhà, South Dakota. Và tôi sẽ về thăm vào
cuối tuần. Tôi nói với sponsor của tôi rằng,
rủi có ngày nào tôi trở về Việt Nam, tôi
sẽ làm ba má tôi buồn nếu tôi chỉ lấy
được bằng cán sự, bằng AAS, mà thôi.
Phải học lên kỹ sư, lấy bằng kỹ sư,
bằng BS. Vì vậy tôi từ chối, không nhận
việc của hãng Honeywell, 3M, và Perkin Elmer. Tôi đi
interview để có kinh nghiệm mà lại được
kêu. Rán thêm hai năm nữa, thời gian rồi sẽ
qua mau. Ðã lỡ phóng lao thì cũng nên theo lao.
Cuối hè, tôi, một người một... xe thân
hành xuống Omaha. Thấy mình như học trò quê
lên tỉnh. Thành phố lớn quá, đường
năm sáu lane một chiều. Cũng may xa lộ I-29 rẽ
vào thành phố, băng qua sông Missouri thì dẫn ngay
vào đường Dodge, con đường tôi muốn
tìm. Tìm được đường, rồi tìm
được trường. Tìm được trường,
rồi phải tìm ông Chairman.
Credit transfer, một quarter hour thì bằng hai phần ba semester
hour. Nếu tính hết cái học bạ hai năm của
tôi thì tôi được chín chục giờ, nhưng
ông Chairman nói chỉ được transfer tối đa
sáu mươi lăm giờ, tương đương với
hai năm đầu của đại học bốn năm. Ông
so cái học bạ của tôi và cái học bạ mẫu
của trường mới, rồi gạch bỏ từng cua một.
Một công việc nhàn nhã, làm như thuộc lòng.
Trường hợp của tôi cũng không phải là
lần đầu tiên. Xong, ông chẳng buồn hỏi
tôi tiếng nào, tự động ghi bốn cua vào giấy
ghi danh cho tôi, cho semester tới. Kéo ngăn tủ lấy
triện son ấn "kịt" rồi đưa cho tôi. Good luck,
ông mỉm cười nói với tôi như vậy. Thank
you, rồi tôi rời khỏi phòng. Vừa bước ra
thì có người khác bước vô, sinh viên
đổi trường nối đuôi nhau thành hàng.
Tôi ngồi bẹp xuống hành lang lôi giấy tờ ra xem
lại. Lấy làm hài lòng vì được
đâm ngang vào năm thứ ba. Nhưng, không hài
lòng lắm vì hai cua buổi sáng hai cua buổi chiều.
Làm sao mà tìm việc làm cho phù họp với giờ
giấc như vầy. Trở lại phân trần với ông
Chairman ngay bây giờ cũng không tiện. Thôi kệ,
từ từ rồi tính.
Tôi tạt vào văn phòng tìm việc cho sinh viên.
Ghi tên vào list chờ đợi tại bàn con nhỏ
thư ký rồi kéo ghế ngồi chờ. Một hồi
cũng được kêu vô phỏng vấn, cũng may
là có nhiều phỏng vấn viên. Tôi tả sơ
hoàn cảnh của tôi và kết luận rằng tôi
cần gấp một công việc để làm, để
kiếm tiền. Nhìn tấm giấy ghi danh, bà Mỹ
làm cho tôi trả lời ngay:
- Mày chỉ còn làm ban đêm thôi. Clean-up,
không còn công việc gì khác hơn nữa.
Nhiều hãng clean-up đang cần người.
- Ghi vô đi. Hãng nào cũng được.
Ngày tao xuống đây học, ngày nhập học, là
ngày tao bắt đầu.
Tôi vắn tắt như vậy và không quên cám
ơn bà ta. Rời văn phòng tìm việc tôi lang
thang lên câu lạc bộ sinh viên định tìm cái
gì để gặm cho đỡ đói. Việc chuyển
trường đã xong, công ăn việc làm cũng
đã có, bây giờ còn một vấn đề quan
trọng nữa là chỗ ăn chỗ ở. Vừa nhai
miếng sandwich, tôi vừa lật lật cuốn điện
thoại. Gọi ai đây? Có quen ai đâu mà
gọi. Gọi họ Nguyễn vậy, cùng họ với
mình, chừng nào không xong thì gọi họ khác.
L, M, N, Nelson, Newman, Newsome, Nichol... Quá rồi, lật
trở lại, đây, Nguyen, một lô Nguyen. Cứ bắt
trên gọi xuống vậy.
- Hello.
Tiếng đàn bà làm tôi giựt mình, nửa
muốn hang-up, nửa tiếc mười xu. Kệ, nói
chuyện với đàn bà thử một lần xem sao,
đã lỡ gọi rồi:
- Hello. Dạ chào chị... Tôi là Hùng
đây, tôi tên Hùng. Tôi ở xa mới tới
đây đi học. Tôi không quen biết ai ở
đây, định gọi vòng vòng để tìm chỗ
ở trọ. Sở dĩ tôi gọi chị là vì chị
cùng họ Nguyễn với tôi. Nhà chị có phòng
trống không? Làm ơn cho tôi ở nhờ đi.
- Tụi tôi cũng mới tới đây có mấy
tháng thôi. Ðang ở chung cư, không có phòng
trống đâu. Tôi thấy anh nên gọi mấy anh
độc thân.
- Chị biết ai độc thân ở đây
không? Cho tôi xin số điện thoại đi.
- Tụi tôi mới tới cũng không biết ai có gia
đình, ai độc thân nữa anh ơi. Thôi anh
gọi người khác đi, bye nha...
Chưa kịp hỏi thêm tiếng nào nữa thì bị
bà chị vô tình cúp ngang xương. Thất
bại. Nhưng thất bại là mẹ đẻ của
thành công, thất bại cho mình một bài học,
một kinh nghiệm: chỉ gọi những người có tên
là đàn ông thôi. Gặp đàn bà nguy
hiểm quá, họ tưởng mình điên khùng,
chọc phá, họ chửi cho một mách thì càng mang
họa. Mới bị họa đây thì bây giờ phải
có phúc, phúc bất trùng lai, họa vô đơn
chí. Phúc, gọi anh chàng Nguyen, Phuc V. này chơi.
- Hello...
Nghe được giọng đàn ông tôi mới thấy
nhẹ mình, rồi bắt đầu đờn lại bài
cũ:
- Hello. Chào anh Phúc. Tôi là Hùng đây.
Tôi ở South Dakota mới xuống, định tìm chỗ
ở trọ, đi học. Anh biết có ai độc thân
ở đây cần người ở chung chia tiền nhà
không anh?
Một vài giây trôi qua không thấy đầu kia
trả lời, thấy lâu như một buổi..., rồi
đột nhiên có tiếng:
- Có tui nè. Lại đây chơi.
Tôi mừng quýnh:
- Vậy hả. Hên quá. Anh cho tôi địa
chỉ đi.
- Một một bốn ba, đường 40.
- Tôi tới liền đó. Anh đừng có đi
đâu hết nghen, chừng nửa tiếng trở lại...
Tôi nói đại như vậy chớ chưa biết
đường 40 nằm ở đâu. Dở bản đồ
ra xem, cũng hên thiệt, thấy mình đoán trúng.
Khoảng nửa tiếng cà rịch cà tang vừa chạy
vừa xem chừng số nhà rồi cũng tới. Anh Phúc
chờ tôi ở bãi đậu xe, đeo kiếng đen
như thám tử, đứng dựa vào chiếc Vega.
Xuyên qua cặp kiếng đen, tôi thấy anh tuổi
cũng sồn sồn. Tay bắt nhưng mặt chưa chắc
đã mừng, cũng phải cần thời gian tìm hiểu.
- Lên nhà chơi. Ở đây nóng quá.
Nắng xế trưa chiếu vào mặt tường, hắt
trở ra hừng hực, bốc khói. Chung cư, lại
cũng chung cư chớ có nhà cửa gì. Một dãy
hai tầng, bốn căn, hai trên hai dưới. Anh Phúc
ở tầng trên, căn đầu song hướng ra lộ.
Anh mở tủ lạnh lấy đá làm hai ly coke rồi
trở ra salon ngồi nói chuyện với tôi. Tôi
kể thân phận tôi, một vợ bốn con, thèm
đi học nên phải xa nhà. Anh kể thân phận
anh, cũng một vợ bốn con, nhưng sợ cộng sản
nên cũng phải xa nhà. Ðằng nào cũng nhà,
nhưng nhà của anh sao mà xa quá. Mấy tuần qua,
anh Phúc bị hãng bánh lay-off, mới xin được
hãng thịt bò. IBP, Iowa Beef Processing hình như ở
đâu cũng có, tuần tới bắt đầu đi
làm. May là anh thất nghiệp nằm nhà, còn nghe
điện thoại, không thì tôi đâu có cơ
hội được gặp anh.
- Có một phòng ngủ thôi. Anh muốn ở thì
ở. Tui ở một mình không có ai nói chuyện
cũng buồn.
- Ăn thì nhiều chớ ở bao nhiêu. Tui đóng
đô ở bộ salon này thì được rồi.
Nhưng, anh tính chi phí tiền bạc ra sao, cho tui biết
đặng tui lo. Thà mất lòng trước đặng
lòng sau.
Suy nghĩ một hồi, anh Phúc nói:
- Thấy hoàn cảnh của anh cũng tội. Anh cứ
đưa tôi mỗi tháng năm chục còn ăn uống,
điện nước, gì gì để tui lo hết cho.
Chiều hôm đó, lái xe trở về South Dakota, tôi
thấy lòng hân hoan, phơi phới. Chỉ mất một
ngày mà lo xong tất cả mọi chuyện. Vợ tôi
ở nhà chắc cũng đang hồi hộp trông ngóng
bóng tôi về.
Việc ghi danh, nhập học, thì dễ thôi. Việc
đi làm, đi clean-up, mới là việc đáng lo.
Tàn buổi học chiều đầu tiên, tôi gọi
điện thoại cho hãng. Carriage Cleaners. Xếp dặn
tôi đến sở sớm hơn một giờ để làm
giấy tờ. Mất cả tiếng đồng hồ lái
xe. Ra tuốt ngoài đường 130, đường
140. Ðến nơi tôi mới biết công việc của
tôi là đi hút bụi mấy chung cư. Sáu tên
vô một nhóm, tính luôn thằng trưởng nhóm.
Không biết bao nhiêu nhóm, đông lắm. Tôi
được biệt phái cho nhóm 5, có thằng nhóc
Mỹ đen mười lăm, mười sáu tuổi làm
đầu tàu. Mới ngày nào vai mang ba-lô chiến
đấu, trấn ải địa đầu gìn giữ quê
hương, bây giờ vai mang máy hút bụi, đi hút
bụi. Thấy nhục nhã làm sao. Thấy hận
đủ thứ: hận đời, hận cộng sản, hận cho
số phần, và hận cả ông già Chairman... Tôi
lót tót theo đám nhóc như một lũ côn
đồ. Leo lên xe Van, rồi nhớ hồi nào mình leo
lên GMC lần đầu tiên. Muốn khóc mà không
khóc được, muốn bỏ job mà bỏ không
được, mình cần tiền để sống. Tụi
nhỏ đâu phân biệt được tuổi tác của
người mình, tưởng tôi cũng cùng lứa với
bọn nó, nên có thằng dám nhằm tôi mà
nghịch:
- Mày có thích công việc của mày không?
- Công việc là công việc.
Tôi trả lời như vậy và bọn nó cười
hề hề như ngụ ý là tôi sẽ có cơ hội
nếm mùi cuộc đời hút bụi mà tôi chưa
được biết. Xe chạy một lúc lâu rồi
ngừng lại ở một nơi mà lũ nhỏ gọi là
cái complex. Complex là chung cư cỡ lớn, gồm trung
bình từ hai chục đến ba chục dãy, một hoặc
hai tầng. Mỗi tầng có độ hai chục căn,
mỗi bên mười căn với một hành lang chạy
ngay giữa. Chỉ làm sạch cái hành lang này mà
thôi. Một đứa lo một dãy. Thằng nhóc
đầu tàu chỉ tôi vào dãy thứ nhất, nó
vào dãy thứ hai, và tiếp tục mấy đứa kia
vào những dãy kế. Nó dặn tôi rằng:
- Mày phải hút thật sạch và hút thật nhanh.
Lúc tao trở ra cửa đó thì tao cũng muốn mày
trở ra cửa này. Không được chậm trễ.
Vòng đầu tiên tôi cố ý làm thật sạch,
nên chậm. Ló đầu ra thì gặp ngay thằng
nhóc đang chận trước cửa:
- Mày làm lâu quá. Tụi nó làm hết mấy
dãy rồi.
Tôi chẳng thèm trả lời, đi lại dãy thứ 7,
chui vô làm tiếp vòng thứ hai. Vừa hút vừa
chạy. Ló đầu ra cũng thấy thằng nhóc,
đứng bên kia vọng qua:
- Lẹ lên nữa, lẹ lên nữa. Mày nghe không?
- OK.
Tôi nghĩ chắc thằng nhóc này muốn chơi xỏ
lá với mình. Nó làm cách gì mà lẹ
vậy. Phải cho nó một bài học cho bỏ ghét.
Tôi mở máy chạy rầm trời mà không thèm
hút gì hết. Lượm mấy bao thuốc, tàn
thuốc bỏ vô túi rồi vọt trở ra. Lại
cũng thấy nó ở bên phía bên kia, to tiếng
hăm dọa:
- Mày bị đuổi, mày bị đuổi
rồi... Mày biết không? Lẹ lên, lẹ lên.
Tôi nổi sùng, quạt lại:
- Câm cái miệng mày đi, nhóc con. Tao chỉ
có hai tay thôi. Mày thấy không?
Cũng may lúc đó là lúc trở về dọn dẹp
club house và chung quanh hồ tắm. Không biết lần
này tại vì làm chung một đám hay vì bị
tôi cự một phát mà thằng nhóc im bớt cái
họng.
Rồi tất cả chất lên xe Van, chạy vòng vòng
tìm cái complex khác. Tôi cố tình tránh xa
thằng nhóc. Phải làm cách nó năm ba dãy
mới được an toàn. Không còn hút cái
gì nữa hết. Buồn thì lượm rác, bằng
không chui vô rồi lững thững chui ra. Thằng
nhóc đâu còn thì giờ đâu mà kiểm
soát. Nó cũng chạy như chạy giặc, chạy
có cờ.
Mười một giờ đêm tôi mới mò về
đến nhà. Anh Phúc đã ngủ mất đất.
Lấy sức để sẵn sàng cho ngày mai. Mới
cắt thịt, chưa quen, thế nào cũng rã rời tay
chân. Tôi rón rén vào phòng tắm dội
nước cho mát rồi xuống bếp lục đồ
ăn. Hai khúc thịt bò, thịt thăn, của anh
Phúc lận về là cái chắc, đã được
luộc sẵn. Thịt tươi, chỉ xắt lát chấm
nước mắm mà ăn cũng thấy ngọt, thấy ngon
làm sao. No bụng, tôi ra sofa nằm thẳng cẳng.
Chuyện đời cũng lắm trớ trêu, nhưng còn
thì giờ đâu mà nghĩ ngợi, suy tư. Ngủ.
Cái nghề đeo máy vaccum này, chịu đựng mới
một tuần mà anh hùng thấm mệt. Nên qua thứ
hai tuần sau, lợi dụng mấy giờ trống sau lớp
học buổi sáng, tôi lang thang đi tìm việc khác.
Theo đường Dodge ra đường 72, đường
"bảy mươi sách cần" theo anh Phúc, tôi thấy
một lô tiệm ăn. Cứ tấp vô điền
đơn, nộp đơn, hết cái này tới cái
khác. Burger King, Hardy, Mac Donald, Kentucky Fry Chicken... rồi
đi lần xuống Long John Silver. Long John Silver là tiệm
chót tại vì bà manager gọi tôi vào phòng trong
phỏng vấn tại chỗ, và nhận luôn tại chỗ.
Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Khỏi cần phải
đi đâu xa. Ngày mai đã có giờ đi
làm, tới đây học chiên cá, chiên
tôm... Chiều hôm đó, sau khi đi hút bụi
trở về sở, tôi ngang nhiên tuyên bố với
thằng nhóc:
- Chuyến này đến phiên tao. Tao lay-off mày,
mày biết không? Gửi check của tao về địa
chỉ này đây.
Thằng nhóc mặt mày buồn xo, chẳng nói với
tôi tiếng nào. Hình như nó cảm thấy nó
có tội, cái tội áp bức tôi trong buổi ban
đầu. Tôi nghĩ nó đang hối hận.
Nghề chiên cá, chiên tôm ở Long John Silver là
một nghề hết sức máy móc. Bốn vạc dầu
sôi, bốn cái thùng vuông vức, khoảng chín
tấc chín tấc bề cạnh và ba tấc bề sâu,
lúc nào cũng chứa đầy dầu. Nhiệt độ
của dầu được điều chỉnh tự động
bằng điện tử, thả món gì vô cũng thấy
nó sôi bùng lên. Một thùng dành riêng cho
french fries và hush puppies. Một thùng dành riêng cho
cá. Còn hai thùng còn lại dành cho tôm,
scallop, clam... và chicken stick.
Món nào cũng lăn bột, chiên. Hầu hết
đã được làm sẵn, không biết từ
đâu chở tới, vô bao giấy chất đầy trong
tủ đá. Cứ lôi từng bịch, từng bịch mà
thảy vào mấy vạc dầu. Chỉ có cá là
phải pha bột, nhúng bột tại chỗ mà thôi.
Việc thái cá, cá cod, thì giao cho mấy tên
manager. Ðây là một cái quyền mà cũng
là trách nhiệm, bổn phận, và phải học qua
một khóa.
Bên trên mỗi vạc dầu, phía trước cái
quạt hút khói, còn có một hàng nút push button
để canh giờ chiên. Tôm hai phút, cá ba phút,
clam bốn phút, gà năm phút... đã được
programmed sẵn. Chiên cá thì bấm nút cá,
chiên gà thì bấm nút gà. Hết giờ là
nó bíp-bíp và chớp đèn báo động.
Vớt ra thảy lên ngăn, là xong. Lúc nào cũng
phải có sẵn tối thiểu mười miếng mỗi
thứ. Mấy lúc đông khách, thảy năm ba thứ
vô một thùng, đến hồi nó tranh nhau bíp-bíp,
bíp-bíp, không biết cái nào mà tắt, mà
vớt. Cũng vui. Vớt ra lộn thì để đó
lát nữa chiên lại, bằng không thảy vô thùng
rác, vừa tiện vừa lợi.
Chỉ có chiên cá là phải học thôi. Bột
nhúng không được nhiều không được
ít. Một miếng ngay giữa, bốn miếng bốn góc,
bốn miếng bốn cạnh, rồi tám miếng giữa
chín miếng kia. Tôi gọi là bát quái trận,
cứ theo thứ tự ngũ hành, bốn phương, tám
hướng mà thả vào là trúng. Ðộ
nghiêng của miếng cá cũng phải vừa tầm, và
phải thả xuống thật gọn, thật khéo. Không
gọn, không khéo thì dầu nổ. Dầu nổ thì
dầu văng. Văng vô mặt phỏng mặt, văng vô
tay phỏng tay. Sợ phỏng mặt phỏng tay, thả xuống
không gọn, không khéo thì cá lại dính
chùm. Cá dính chùm thì cá lại vô thùng
rác. Cá vô thùng rác nhiều quá thì
phải... coi chừng.
Tôi coi chừng kỹ lưỡng lắm mà rốt cuộc
cũng không xong. Số là tôi đem cá đem
tôm về ăn dặm với thịt bò của anh Phúc
cũng vừa được hai tuần, sắp sửa đến
lúc tôi đứng chiên một mình thì có
chuyện lớn. Trưa hôm đó, một đám
áo vết nâu, cà vạt nâu, phù hiệu Long John
Silver gắn trên miệng túi, bất thần xông vào
kiểm soát. Làm ăn kiểu này đâu có
được. Tư lệnh trước khi đi thanh tra
thì phải có công điện cho chỉ huy trưởng,
để chỉ huy trưởng chuẩn bị chớ. Ðằng
này không, thanh tra mà không báo động gì
ráo trọi. Một tên cắc cớ nhảy vô
đứng chiên cá tay đôi với tôi. Gặp
giờ ăn trưa đông khách, làm việc gì
cũng phải hấp tấp, vội vã, vậy mà trúng
cái vạc dầu mắc dịch bữa đó chiên cái
gì cũng mắc lẹo. Không hiểu mấy tên
"cốm" đó ghi nhận tài năng của tôi như
thế nào, mà qua ngày sau, tôi không ngờ tôi
bị đuổi. Hết giờ làm, bà manager kêu
tôi vô phòng riêng nói chuyện:
- Bữa nay là ngày chót của mày.
Câu nói thẳng thừng như ruột ngựa, không
tình cảm, không ân oán giang hồ gì cả.
Vắn tắt như thế thôi, khỏi cần nêu lý do.
Lần đầu tiên rũ áo từ quan, trả lại
đồng phục, bảng tên. Biết mình rất cần
việc làm, nhưng tôi cũng dửng dưng, cũng
chưa thấy cả bầu trời sụp đổ. Không
làm chỗ này thì đi làm chỗ khác. Mấy
cái đơn nộp ở mấy tiệm kia cũng
được hai tuần rồi, cũng sắp tới ngày
nó kêu. Nhưng tính chắc hơn, tôi trở
lại văn phòng tìm việc ở trường. Bà
job-commisioner của tôi cứ tưởng tôi vẫn còn
làm việc ở hãng Carriage Cleaners. Tôi tả sơ
về công việc tôi phải làm, về những đòi
hỏi, những chỉ tiêu phải đạt được,
bà ta nghi ngờ, ra vẻ ngạc nhiên, thắc mắc.
Lật tới lật lui chồng hồ sơ để trên
bàn, rồi bất chợt bà quay qua hỏi tôi:
- Mày chịu đi bỏ báo không? Không đi
làm được buổi sáng, không đi làm
được buổi chiều thì đi làm buổi tối...
Tôi cầm giấy giới thiệu của trường đi
xuống trung tâm phát hành báo, news-paper circulation,
của tờ Omaha World Herald. Người này chuyền tay
người kia, đưa tôi qua mấy nẻo hành lang,
tới mấy văn phòng, và sau mấy lần ngồi chờ
đợi tôi mới gặp được "người cần
người." Ðúng là tay bắt mặt mừng:
- Vô đây, vô đây. Chừng nào mày
đi làm được?
- Bất cứ lúc nào.
- Tốt lắm, ngồi xuống đây, để tao nói
sơ về cái round của mày... Ðây, bản
đồ đây. Cái round của mày dễ lắm,
chỉ phân phối vòng vòng khu đại học mà
thôi. Khu này, mày rành quá rồi. 160 tờ,
mười xu một tờ, 16 đồng một ngày, mày
làm chủ lấy mày. Không có gì khó hết.
Ngày mai mày đi theo tao, tao sẽ chỉ cho. Mày
biết tiệm Seven Eleven ở góc đường 52 và
đường Leavenworth không? Tao gặp mày ở chỗ
đó. Lúc hai giờ, AM.
- Hai giờ sáng?
- Ừ, từ hai giờ sáng đến sáu giờ sáng.
Bốn tiếng là vừa.
Tôi bật ngửa. Nhưng, cần tiền thì cứ
phải làm. Không làm không tiền, không tiền
không sống, không sống không học, không học
thì ước vọng của mình sẽ tiêu tan. Phải
cố gắng hơn nữa, hơn nữa, và tôi cúi
đầu chấp nhận công việc mới, công việc
thứ ba trong vòng một tháng.
Canh một anh tỉnh giấc mộng vàng, tìm ông
nhà báo thở than đôi lời, canh hai vật đổi
sao dời, tính sao ông tính cũng một đời
kiếm cơm
... Ðúng là cái nghề thức
giấc canh khuya. Một giờ rưỡi tôi đã
dậy, vừa đánh răng, vừa mặc đồ, vừa
chạy. Anh Phúc thế nào cũng giật mình,
nhưng chắc anh nghĩ là tôi học bài khuya, chớ
làm gì biết tôi đi bỏ báo. Mắt nhắm
mắt mở mà tôi cũng lái xe đến đúng
giờ, đúng chỗ hẹn. Bill, ông thượng sĩ
già không quân đã từng qua Việt Nam thời
67-68, đã tới trước tôi một chút. Ổng
bảo tôi ra ngồi băng sau xem ổng làm việc,
băng trước dành cho hai chồng báo cao đến
cổ. Tay phải có nhiệm vụ xếp báo, cuộn
tròn tờ báo. Tay trái tròng sợi dây thung
và quăng báo, hai bên, trái phải. Một bên
bắn trực xạ, một bên bắn vòng cầu. Việc
lái xe thì hai tay san sẻ cho nhau, buông tay này bắt
tay kia. Tôi bắt đầu tập cuộn báo, ràng
dây thung.
- Nhớ căn nhà gạch có hai cây to trước
cửa này, phải liệng vô tận trong hành lang.
Ông già hưu trí này không thích đi ra xa.
Ổng hay phàn nàn về việc này dữ lắm.
Tôi để mắt thâu hình căn nhà trong bóng
đêm.
- Bữa nay không có insert. Mày biết insert là
gì không? Là quảng cáo của Sears, của JC Penny,
của K.mart, của mấy tiệm bán thực phẩm. Mỗi
insert mày được thêm một xu... Ðến ngã
tư đèn xanh đèn đỏ này thì quẹo
trái, thảy vô căn nhà thứ ba bên trái...
- Xong quẹo mặt ra đường Center. Thấy cái
nghĩa địa không? Thảy trước cổng sắt
này hai tờ, cứ cuộn thành một cuộn.
- Rồi tới tiệm Thrifty Neckel, năm tờ. Càng
nhiều tờ càng có lợi cho mày. Ðỡ mất
thì giờ.
- Xong rồi tạt qua trái. Con đường này
có năm chỗ. Thứ nhất là căn nhà có
double garage.
- Cái thứ hai có cái đèn đêm trước
sân...
- Cái thứ ba...
Tôi bắt đầu quên lần, quên lần mấy
đoạn trước. Ghét, không thèm để ý
ông Bill nói cái gì nữa, làm sao mà nhớ
hết 160 chỗ cho được. Ðã vậy, ban
đêm, nhìn nhà nào cũng giống nhà nào,
bên mình nhà lá giống nhà ngói thì bên
này nhà gạch cũng giống nhà cây.
- Tới đây mày phải xuống xe, đi vô cái
chung cư này, có bảy căn. Ði, đi theo tao.
Tôi bước xuống xe, vọt miệng nói:
- Ê, Bill, tao thấy tao chỉ có short memory thôi.
- Mày đừng có lo, rồi mày sẽ nhớ. Tao
già đây mà tao còn nhớ, huống hồ còn
trẻ như mầy. Tao bảo đảm mày tập khoảng
hai tuần là được.
Ông Bill cứ tiếp tục tả cảnh, tả tình
những điểm làm dấu mà ông đã thuộc
lòng. Tôi nhướng mắt hết lên, duỗi
chân, tụt xuống, gác đầu vào thành ghế
định làm một giấc. Mà cũng không yên,
đường khuya vắng người, vắng xe, ông Bill
chạy cả hai lane, quẹo bên này, tạt bên kia.
Người tôi theo đó mà quật qua, quật lại.
- Mày thấy cái hàng rào cao phía trước
không? Biết đó là chỗ nào không?
- ...
- Vòng đai của trường đua Ak-Sar-Ben. Mày
biết Ak-Sar-Ben là gì không?
- ...
- Là chữ viết ngược của chữ
Nebraska... Tới nhà bà già này thì mày
phải bỏ báo vô thùng thơ. Bà ta muốn
như vậy, và mình phải chiều khách hàng,
phải làm đúng theo lời yêu cầu của họ.
Khách hàng là number one mày biết không?
- Không... Ô, mày nói gì?
- Nhớ phải bỏ vô thùng thơ.
- ...
Trong nửa tỉnh, nửa mơ tôi không còn nghe ông
Bill nói gì nữa, chắc nói một mình riết
rồi cũng đã cái miệng. Xe chạy cũng còn
ẹo qua ẹo lại, lúc ngừng, lúc tiến... Rồi
bỗng nhiên có tiếng ồn ào xung quanh, hình như
có xe chạy, có người đi... Thành phố
như đang sống lại, tôi ngồi thẳng lưng, và
ông Bill cũng bắt đầu lái xe cẩn thận.
Mặt trời mọc. Những tia nắng đầu ngày
chiếu vào mặt làm mắt tôi cay cay. Lúc ông
Bill quành xe trở về tiệm Seven Eleven, nhìn đồng
hồ, tôi chỉ còn 10 phút, đủ thì giờ
để chạy nhanh đến trường cho kịp lớp
sáng. Ông Bill không quên dặn dò tôi:
- Nhớ chiều về đi ngủ sớm. Sáng mai gặp
lại mày.
Tôi thực tập ba đêm liên tiếp thì đến
cuối tuần. Tới ngày phải về South Dakota thăm
nhà. Rồi thời gian vút bay đi, đầu tuần
lại đến, lại xuống Omaha. Nhưng lần này
đặc biệt hơn, tôi có đem theo cái cassette
của mấy đứa con tôi để thâu lộ trình.
Ðúng là diệu kế, ông Bill cười, chịu
thôi, không hiểu tôi nói gì trong đó.
Thêm một lần thực tập nữa thì tôi bắt
đầu lái xe, và cho ông Bill ngồi phía sau. Nghe
lại tiếng mình trong băng như tiếng người
bịnh hoạn, nghẹt mũi, cảm cúm vì thức
đêm. Thỉnh thoảng có tiếng chửi thề, vài
lời phát ngôn bừa bãi không biết vì ai cho ai,
nhưng rất có hiệu quả để làm dấu một
ngôi nhà khó tìm, khó nhớ.
Ðêm xuất hành một mình lần đầu tiên
tôi bỏ sót ba chỗ. Tôi biết chắc như
vậy. Vì mỗi ngày tôi có bốn tờ báo
dư, trừ hai tờ tôi quăng lên nóc nhà thì
phải còn lại hai, nhưng tôi còn đến năm.
Thế nào ông Bill cũng gọi. Ði bỏ báo bù
là nhiệm vụ của ổng, lẽ dĩ nhiên ổng
không thích lắm. Quả thật, trưa tôi đi
học về là có điện thoại. Nghe tiếng ổng
là tôi vào đề ngay:
- Tao miss ba nhà phải không?
- Có một thôi, không tệ lắm. Có một
người gọi, họ gọi thì tao mới đem báo,
không gọi thì xin miễn... À, chiều nay nhớ
ghé văn phòng đặng tao đưa hồ sơ,
giấy tờ cho mày nghen.
- ... còn cái cửa sổ thì sao?
- Bể kiếng hả? Nhà nào?
- Không nhớ rõ lắm, hình như trên
đường bảy mươi. Ai trả đây?
- Mày khỏi lo. Mình có bảo hiểm.
Tôi thở phào nhẹ nhõm...
Nghề bỏ báo là nghề mua báo bán báo, mua
đi bán lại. Báo trong thùng hai mươi lăm
xu, báo bỏ dài hạn tận nhà lại rẻ hơn,
hai chục xu. Mình bán ra hai chục xu nhưng mua vô
chỉ mười xu. Một lời một. Nếu không
tính tiền xăng, tiền dây thung cho những ngày
nắng, tiền bọc nylon cho những ngày mưa. Và
tiền công phải bỏ ra đi đòi nợ.
Người mua báo thường thường trả tiền
trật vuột lắm. Họ đâu nhớ ngày nào
họ mua, ngày nào tiền hết hạn. Ba tháng một
lần, gửi giấy nợ kèm theo báo, gọi điện
thoại nhắc chừng. Rồi đôi khi phải đích
thân tới nhà gõ cửa:
- Tao là paper-boy của mày. Tao tới lấy tiền
báo...
Tôi theo đuổi cái nghề vạc ăn đêm này
thấm thoát đã hơn ba tháng, gần hết fall
semester. Trời về đông càng ngày càng
lạnh. Gió về khuya càng ngày càng buốt.
Tôi bỗng nhớ đến bài Nhặt Lá Bàng của
Nhất Linh trong Ðôi Bạn. Gió nữa lên, lạy
trời gió nữa lên. Mỗi lần tôi quăng một
tờ báo là mỗi lần tôi thấy thằng nỡm
nhặt một lá bàng! Thằng nỡm? Thằng nỡm
còn dở, thằng nỡm đâu có biết mùa
đông Omaha tuyết rơi trơn trợt như thế nào.
Dạo này tôi với anh Phúc như mặt trời, mặt
trăng, ít khi gặp nhau lâu, ít khi nhậu với nhau
một hai lon bia như lúc trước. Tại vì lúc
tôi nhận đi bỏ báo, thì ảnh không còn
cắt thịt bò nữa, mà lại đi rửa hãng
thịt bò, ca đêm. Hãng thịt bò đang hồi
xuống dốc, lay-off nhân viên dài dài, may là anh
còn được công việc này thay thế ngay, bằng
không cũng đã đi xin trợ cấp thất nghiệp
rồi. Rửa hãng thịt bò phải mang giày ủng
cao đến háng, loại giày của mấy người
đi câu suối, câu cá trout. Nước nóng pha
lẫn máu bò nhiều chỗ ngập tới đầu gối.
Thấy bắt ớn, về nhà hết muốn ăn cơm, anh
than như vậy. Giờ tôi ngủ là giờ ảnh đi
làm, giờ tôi đi bỏ báo là lúc anh sắp
sửa mò về. Cuối tuần tôi lại về thăm
nhà.
Tuy ít tâm sự, hàn huyên nhưng giữa anh Phúc
và tôi cũng có cái tình, tình đồng
hương, tình tương thân tương trợ.
Cái tình đơn sơ này tưởng được
bền lâu, ai ngờ nó cũng chết yểu. Vì em
của anh Phúc, thằng Linh, mấy năm theo bạn bè
bụi đời ở miền Oregon bỗng nhiên trồi trở
về Omaha. Tôi đã đóng đô ở phòng
khách, nên Linh chỉ còn cách thảy tấm nệm
xuống sàn nhà bếp mà làm chỗ ngủ.
Lúc đầu tôi thấy Linh ít nói, hình như
nó đang có tâm sự buồn, tâm sự chán
nản của một kẻ "nam nhi thất chí" thì đúng
hơn. Nhưng vài tuần sau, sau khi lang thang tìm
việc khắp nơi không được một việc gì,
thì nó bắt đầu cay cú, cứ hay nói đổng
nhiều câu dạy đời, nhưng không hẳn tự
dạy đời. Nói một mình mà chạm vào
đầu anh Phúc. Dần dần Anh Phúc không chịu
nổi cái triết lý tầm phào của ông em, cái
triết lý mà anh Phúc bảo là ngược đời,
là ngu xuẩn thì hai anh em bắt đầu gây gỗ
liên miên:
- Tao thấy tiếc rẻ cho tuổi trẻ của mày,
cuộc đời của mày. Học không ra học, làm
chẳng ra làm. Qua đây mấy năm rồi mà
không bằng người ta mới tới.
- Thì anh đã đi làm rồi đó. Coi anh
có hơn người nào mới tới không. Hay anh
chỉ biết có đi rửa hãng bò mà thôi. Anh
chỉ có cái nhìn thiển cận.
Cãi qua cãi lại cũng có bao nhiêu đó: đi
học đi làm, tuổi già tuổi trẻ, qua lâu
với mới qua, nhìn xa nhìn gần. Một người
anh muốn biến cải ông em, và một ông em thất
nghiệp, nghĩ quẩn. Rồi một hôm, sau màn cãi
nhau dữ dội, anh Phúc quyết định:
- Ðược rồi. Ðầu tháng này tao dọn
đi chỗ khác. Tao để cái apartment này cho
mày ở. Coi thử mày tài khôn tới đâu.
Coi thử mày có lo nổi cái bản thân hèn mọn
của mày hay không cái đã.
Anh Phúc đâu có nghĩ rằng anh nói như vậy,
làm như vậy là đụng chạm tới tôi.
Tôi cũng phải lo cho thân tôi nữa rồi. Tôi
đã giảng hòa cho hai anh em nhiều lần nên tôi
có kinh nghiệm. Vì có kinh nghiệm nên tôi
biết chuyến này anh Phúc nói thiệt, làm thiệt.
Tôi thiên đô về Bellevue, một thành phố
nhỏ tiếp giáp phía nam Omaha, cách Omaha chừng
mười lăm dặm. Ở với ông Bill, ông chủ
báo của tôi. Tám chục đồng một tháng,
ăn và ở, room and board. Hai vợ chồng già và ba
cô con gái ở tuổi cặp kê. Tối ngày rậm
rật, boy friend rần trời, cãi lộn như giặc
chòm. Cũng may tôi được ở tầng trên
với hai ông bà, còn ba nàng thì dồn tuốt
xuống basement cho đỡ ồn, đỡ dội. Có
lần tôi làm một bữa cơm chiên Dương
Châu cho cả nhà ăn. Hột gà chiên, ham
chiên, hotdog chiên trộn lộn với cơm và xì
dầu mà ai cũng khen ngon, làm tôi tưởng mình
là cựu đầu bếp nhà hàng Ðồng Khánh,
cựu đầu bếp toàn quyền Ðông Dương,
chớ đâu phải cựu đầu bếp Long John Silver.
Gần hết tháng đầu thì ông Bill cho biết:
- Tao rất tiếc phải nói với mày điều
này, nhưng tao phải nói, tao phải lấy mày một
trăm hai chục một tháng, bắt đầu tháng tới.
Không lẽ ông này muốn đuổi mình
đi? Tám chục một tháng cũng là gồng
mình rồi, một trăm hai chục thì còn đâu
tiền đổ xăng. Tôi nghĩ chắc là tôi
phải đi, và tôi cũng nghĩ đây là dịp
tốt cho tôi đổi nghề. Ðang giữa semester
thứ hai, tôi chỉ đi học buổi sáng, tội gì
làm cái nghề bỏ báo này hoài. Tôi
trả lời:
- OK. Ðể tao suy nghĩ rồi tao sẽ cho mày
biết ngay...
Bổn cũ soạn lại, tôi lật cuốn điện
thoại lần thứ hai. Nhưng, tôi bắt đầu
phân vân với những nhân vật họ Nguyễn của
tôi. Không thèm kêu họ Nguyễn nữa, kêu
họ Phan, họ của vợ tôi... Ô hay, Phan..., có
Phan, Ban V. Rev nữa. Phan mục sư thì dễ nói
chuyện rồi. Con chiên tôi bỗng nhiên như tìm
được đạo. Chiều ngày đó tôi có
hẹn, mò tới thăm ông Phan. Nhà ở khỏi
trả tiền mướn mà lớn như dinh ông
tướng. Tôi thoáng thấy trong nhà thấp thoáng
bóng dáng con gái lớn, thì biết là việc ăn
nhờ ở đậu tại đây không xong rồi.
Nhà Mỹ, con gái Mỹ thì không sao, chớ nhà
Việt Nam, con gái Việt Nam thì dễ bị tiếng
đời dị nghị. Rồi ông hứa sẽ giới
thiệu cho tôi thằng Jeff, nhân viên xã hội
thuộc cơ quan CWS, Church World Services, đã giúp
đỡ dân tỵ nạn ở vùng này rất nhiều.
Ừa, sao mình dốt tính, không nghĩ đến
chuyện nhờ vả những cơ quan từ thiện này ngay
từ lúc mới xuống đây? Lẹ thiệt, qua
ngày hôm sau thằng Jeff, tuổi độ 30, đến
tìm tôi, phỏng vấn tôi đủ điều.
Tôi dời đô một lần nữa, xuống cái basement
ẩm mốc ở nhà thằng Jeff. Basement chỉ cho phép
đi xuống đi lên chứ không được đi
vô đi ra. Lần này, basement and board ba chục
đồng một tháng. Thằng này nó muốn cứu
độ mình đây, hay là nó muốn claim mình
là dependent để lấy thuế về nhiều hơn một
chút cũng không biết chừng. Cái basement thiếu
hơi người lâu ngày trở thành hôi hám
như ổ chuột. Mất cả buổi trời mới xếp
được đồ đạc chẳng ai xài sang một
bên, nhường chỗ cho một khoảng trống kê
được một cái giường, một cái bàn.
Hốt rác, hút bụi, xịt lysol khắp nơi, mà
cũng không hết mùi hôi. Dễ thở về mặt
tiền bạc, mà ngộp thở về mặt không khí.
Chờ lúc hai vợ chồng thằng Jeff vắng nhà, tôi
cạy tấm ván ép, phá lớp cách nhiệt, toàn
là than cục bên trong, mới mở được cái
cửa sổ. Một cái lỗ tò vò. Chõi
được tấm bửng sắt lên mới thấy cỏ,
thấy cây..., thấy gió mát thổi ngang tầm mắt.
Thoải mái quá chừng. Nhưng, con Linda, vợ thằng
Jeff, về, nó thấy, nó sợ quá bèn la oải oải:
- Rắn. Không được đâu, mở trống
như vầy là rắn bò vô nhà...
Tôi phải trấn an nó:
- Hê, tao nằm ở đây, rồng còn không dám
vô nói gì đến rắn.
Rồi sợ nó giận, nó đuổi cổ mình đi
thì càng mang họa, tôi tiếp ngay:
- Tao nói giỡn chơi. Ðể rồi tao sẽ gắn
thêm một lớp cửa lưới. Mày đừng có
bận tâm đến vấn đề này.
Tôi sống với cái lỗ thông hơi này như con
cá mắc cạn, lâu lâu phải trồi lên mặt
nước hớp hớp khí trời. Tuy nhiên tình
cảnh nào cũng có cái hay, cái đẹp của
nó. Con cá mắc cạn, với tôi, đẹp nhất
có lẽ là mấy đêm học khuya. Nhìn ra
ngoài, thấy cảnh đời hiện diện dưới
đèn đêm, trong sương mù mờ ảo. Rồi
thấy cuộc đời mình cũng mờ ảo theo. Thấy
thèm một mối tình liêu trai. Tiếc là xứ
Mỹ này coi rộng mênh mông như vậy, nhưng mà
không còn đất cho mình dụng võ. Rồi
những đêm mưa. Tốc tốc..., mưa rơi,
trên tấm bửng sắt, từng giọt, tốc
tốc..., nhỏ vào hồn, cô đơn, vắng lặng.
Từ lúc rơi xuống basement của thằng Jeff, là
tôi biết, đời sống của tôi đã
được buộc dây an toàn. Mình xuống sâu
mút chỉ rồi thì đâu còn lún đi đâu
được nữa. Số phận của tôi hẩm hiu
như vậy mà rồi cũng có bạn đồng hành.
Vài tháng sau, thằng Jeff lôi thằng Xu, không biết
từ đầu đường xó chợ nào, về nhập
bọn với tôi. Lần này phải vứt bỏ một
mớ đồ đạc mới tìm được chỗ
trống. Rồi quét dọn, hút bụi, xịt lysol.
Thêm một cái giường, một cái bàn. Tội
nghiệp ông bạn đời trẻ tuổi của tôi, 18,
bấy giờ một mình một thân, không cha mẹ,
không anh em, không bà con thân thuộc. Nhưng,
không biết chữ, không biết mặt vần ABC mới
là điều đáng buồn, đáng thương.
"Danh ca," "danh ca" thứ thiệt, "danh ca" ở