Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Một Thời Xa Xưa
Nguyễn Tấn Hưng
Ngày Hùng sinh ra là ngày chiến tranh chấm
dứt. Hùng ra đời như một vì cứu
tinh của nhân loại. Hùng hay đùa với
mình như vậy. Thật ra cũng có chút trùng
hợp vì Hùng sinh vào năm cuối cùng của
thế chiến thứ hai. Rõ hơn, Hùng sinh nhằm
ngày "chiến thắng Âu châu," ngày Hitler đầu
hàng Ðồng Minh. Mặc dù mãi sau này Hùng
mới biết, nhưng thời đó, thời Hùng mới
lớn, miền nam Việt Nam còn chia làm hai mươi
mốt tỉnh, đẹp như một bài thơ làm
Hùng dễ nhớ:
Gia Châu Hà Rạch Trà
Sa Bến Long Tân Sóc
Thủ Tây Biên Mỹ Bà
Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc, Cấp
Gia Ðịnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá,
Trà Vinh. Sa Ðéc, Bến Tre, Long Xuyên, Tân An,
Sóc Trăng. Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên
Hòa, Mỹ Tho, Bà Rịa. Chợ Lớn, Vĩnh Long,
Gò Công, Cần Thơ, Bạc Liêu. Và Cấp tức
Vũng Tàu. Sau này, mấy ai biết có bao nhiêu
tỉnh ở miền Nam. Nhiều tỉnh đổi thành
quận, nhiều quận đổi thành tỉnh, nhiều
tỉnh bị đổi tên xóa tên trên bản
đồ và cũng có nhiều tỉnh mới mọc lên.
Thoạt đầu nghe không hợp tai, Thủ Dầu Một
ra Bình Dương, Bến Tre ra Kiến Hòa, Mỹ Tho ra
Ðịnh Tường... nhưng nghe riết rồi cũng
quen. Mấy lần đóng quân miệt Trà Cú,
Ðức Hòa, Ðức Huệ, Hùng có dịp chọc
mấy thằng bạn bản xứ:
- Hậu Nghĩa, Kiến Tường... cái tỉnh sanh sau
đẻ muộn của tụi mày có cái tên mới
nghe đã thấy bần cố nông rồi, làm sao mà
so sánh với những tỉnh có bốn ngàn năm
văn hiến như Mỹ Tho, Cần Thơ của tụi tao
được.
Mà thiệt tình, tỉnh Mỹ Tho của Hùng xưa nay
vẫn là một tỉnh có tiếng và cũng là
tỉnh duy nhất ở miền đồng bằng có
đường rầy xe lửa đi Sài Gòn. Có cái
hay ở chỗ đó mà rồi cũng bị nhà Ngô
gỡ đi.
Di tích cổ nhứt của Mỹ Tho có lẽ là chùa
Vĩnh Tràng, một công trình kiến trúc
được xây cất vào khoảng 1840-1842, thời Thiệu
Trị. Những khu khác như khu Vườn Lài, chợ
Cũ, bến Tắm Ngựa, chùa Chà Và, cầu Quay,
bến đò ty công an, chùa Phật Ân, nhà thờ
Lớn, Bắt-tam-băng, đài chiến sĩ, lò heo,
cây xăng, cầu Bắc, đất thánh Tây, bót
số tám, bến xe Mới, bến xe Cũ, Vòng Nhỏ,
Vòng Lớn... cũng đâu có gì đặc biệt.
Họa chăng là hai cái giếng nước. Ðúng
vậy, không có thành phố nào ở miền Nam mà
có một giếng lớn như vậy. Mà tại sao
không gọi là hồ như hồ Chung Thủy bên Bến
Tre chẳng hạn. Hồ nghe lớn hơn giếng nhưng
đằng này giếng lớn hơn hồ, trường hợp
ngoại lệ. Giếng chắc cũng lâu đời, có
lẽ được đào lúc tỉnh mới thành lập,
thời Tả quân Lê văn Duyệt xây thành
Ðịnh Tường, thành Nam Vang.
Giếng chứa nước ngọt cho cả thành phố trong
mùa gió nam vì nước biển ngược dòng Cửu
Long len lỏi vào tận đây. Mùa nước ngọt
chẳng ai thèm để ý, qua mùa nước mặn mới
thấy mực nước giếng thấp dần. Khoảng
mười năm giếng được tu bổ sửa sang một
lần. Nước được bơm ra và giếng
được phơi khô. Một màn bắt cá, mò
ốc gạo, nghêu, sò... rồi mới tới công tác
đào giếng, đào sâu thêm để chứa thêm
nước. Giếng trở thành một mỏ lộ thiên
và công nhân làm đất nhung nhúc như bầy
kiến. Ðào một hai thước mà mất đôi
ba tháng, xong, xả nước vô, đôi ba tháng
sau nước vẫn còn hôi mùi bùn, vị chi phải
mất nửa năm giếng mới trở lại tình trạng
bình thường...
Dân chúng sống xung quanh giếng được quyền
xài nước giếng nhưng không được tắm
giếng, cảnh sát bắt. Ngoại trừ đám học
trò, nhứt quỉ nhì ma, đã mang danh là hàng
thứ ba thì mặc dù cảnh sát có rượt, học
trò có chạy, lâu lâu cũng phải tắm giếng
trưa trước khi đi học hay cũng tắm giếng
chiều trước khi đi phố. Và nói đến
học trò thì phải kể đến trường trung
học Nguyễn Ðình Chiểu, cũng lâu đời, có
lẽ chỉ sau trường Bưởi ở Hà Nội và
trường Pétrus Ký ở Sài Gòn về phương
diện thâm niên.
Tỉnh Mỹ Tho có năm quận: Cái Bè, Cai Lậy,
Châu Thành, Bến Tranh và Chợ Gạo. Trong năm
quận, quận Chợ Gạo có lẽ là quận nhỏ
nhứt, nghèo nhứt. Nhìn cái nhà lồng chợ
thì đủ biết, chỉ lớn bằng hai cái đình.
Năm quận nằm dọc theo sông Tiền Giang và hình
như càng xa ra biển dân cư càng nghèo. Con
gái lấy chồng về miệt gần biển này thì
bị chê, lấy chồng đi lên chứ ai lấy chồng
đi xuống. Mình lỡ sinh ra trong vùng này thì
cũng mắc tội lây,
cõng nghèo đem liệng
vô bưng, cong lưng vụt chạy ê... ê đừng
chạy theo
. Rồi cũng chạy theo. Nhưng có lẽ
nhờ cái nghèo mà học trò vùng này lại có
tiếng học giỏi... Cho đến vùng giáp ranh với
tỉnh Gò Công, vùng Hòa Ðồng, chợ Dinh mới
thấy dân cư đông đúc, đời sống trù
phú trở lại. Phần lớn bà con bên ngoại,
mấy cậu mấy dì của Hùng ở vùng này.
Ðố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Mấy người bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
Chợ Dinh đông người chen chưn như chưn rít?
Còn cầu Ô có phải là cầu đen nằm giữa
Ðồng Sơn và chợ Dinh? Cầu sơn đen, sau
này còn kêu là cầu Sập, bởi vì bị Việt
Minh giựt sập. Và tại sao bán áo con trai, bán
chỉ bán kim?
Quận Chợ Gạo được chia làm năm xã: Hòa
Ðịnh, Bình Phan, Bình Phục Nhứt, Bình Phục
Nhì và An Thạnh Thủy. Ngoại trừ xã An Thạnh
Thủy giáp ranh với tỉnh Bến Tre, còn bốn xã kia
nằm dọc theo kinh Chợ Gạo, con kinh nối liền miền
Tiền Giang và Sài Gòn qua kinh Nước Mặn miệt
Gò Công và sông Lòng Tảo miệt Vũng Tàu.
Nói đến kinh Chợ Gạo thì phải nói đến
bắc Chợ Gạo trên tỉnh lộ 21 Mỹ Tho-Gò
Công, loại bắc kéo tay, đôi khi làm trở ngại
lưu thông cho cả đường thủy lẫn
đường bộ. Mỗi lần tàu tới, phải xả
dây cáp chìm xuống đáy cho tàu qua, thắng
tàu không ăn lắm nên tàu có quyền ưu
tiên. Còi xúp-lê báo động từ đằng xa
và nhân công kéo bắc phải nhắm chừng vận
tốc của tàu mà làm việc. Nhiều lúc
ước lượng sai, phải xả dây cáp khẩn cấp
khi bắc đang ở giữa dòng, người và xe lênh
đênh trôi dạt vào bờ cả tiếng sau mới về
được bến. Mãi đến lúc sắp về
nước công binh Mỹ mới cất được cầu
Chợ Gạo. Thật là tiện lợi, xe qua cầu mặc
dầu cũng phải đóng tiền nhưng không phải
chờ đợi, tàu ghe dưới kinh qua lại cũng
không cần phải hạ cột buồm vì móng cầu
thật cao. Chỉ tội cho bến phà, bị bỏ quên,
trở thành hoang lạnh im vắng, cùng chung số phận
với hai cây cột dây thép lẻ loi buồn tẻ sừng
sững bên trời, dấu vết của Tây để lại.
Dọc hai bờ kinh Tây cũng làm lộ, lót đá ong
hoặc đá đỏ, cho xe chạy. Ðến lúc Việt
Minh nổi dậy thì lộ bị cắt, cầu bị sập
đường lớn biến thành đường mòn, rồi
nhiều đoạn mất hút trong rừng cây.
Hùng sinh ra ở xã Bình Phục Nhứt. Muốn tới
xã chỉ có hai đường, đường thủy bằng
kinh Chợ Gạo, đường bộ bằng con lộ đá
đỏ xuất phát từ tỉnh lộ 21, còn con
đường dọc theo bờ kinh thì dành riêng cho
Việt Cộng. Nếu đi đường bộ, độ
nửa chừng lộ đá đỏ, thì ai cũng ngạc
nhiên vì hai tòa nhà đồ sộ mọc lên giữa
đồng, nhà có hồ tắm trên sân thượng
có cái tục danh là lầu Cô-Tám-Cô-Chín.
Cô Tám, cô Chín có chồng Tây đã về
Tây mấy mươi đời Tây rồi, thành thử
lầu bị bỏ hoang, sụp đổ, bây giờ chỉ còn
là chỗ nghỉ chân của đám trẻ chăn trâu.
Mấy lần ba má Hùng bao xe ngựa về thăm quê trong
dịp Tết, cuối thập niên 50, Hùng cảm thấy
bùi ngùi mỗi khi đi ngang qua đây.
Không hiểu ba má Hùng di chuyển về xã Bình Phan
vào năm nào, chỉ biết rằng ông nội Hùng
muốn ba Hùng về đây lập nghiệp, nối nghiệp
ông làm nghề "trại cây." Trại cây của ba
Hùng cất tại Cầu Sắt cách chợ quận khoảng
một cây số.
Phi thương bất phú
, ông
nội Hùng nói hoài câu nói trên. Ba má
Hùng cất trại không bao lâu thì gia đình bà
cô Hùng cũng dọn theo, nhưng về chợ quận,
cất nhà mở tiệm trên miếng đất mà ba
Hùng mới sang. Coi như cho không. Không ngờ
cửa tiệm của cô Hùng phát đạt nhanh chóng
và từ từ trở thành cửa tiệm lớn nhất trong
chợ quận, lầu lên hai ba từng. Cô Hùng giàu,
nhưng đám cháu như Hùng cũng chẳng nhờ
vả được gì.
Giàu cha giàu mẹ thì ham,
giàu cô giàu chú ai làm nấy ăn
. Vả lại
cô Hùng đông con lắm, mười lăm mười
sáu đứa. Ðẻ đến đứa thứ mười
không còn đặt tên nữa, cứ kêu số,
mười, mười một, mười hai... cho đến
không biết mười mấy thì bắt đầu đặt
tên trở lại, Bích Vân, Bích Thủy.
Ba Hùng không giàu được là tại vì ông
bán chịu nhiều quá, bán chịu khắp cả làng
khắp cả quận. Tối ngày chỉ việc đi
đòi nợ cũng hết thì giờ. Rồi dần dần
bị kẹt vốn không phát triển được.
Nhiều trại cưa máy nổi lên, trại mình còn
cưa tay thì làm sao mà cạnh tranh được. Tuy
vậy chỗ làm ăn lâu cũng có cái tình, bà
con trong xã cũng còn lui tới trại của ba Hùng, cho
nên gia đình Hùng mới còn cơ hội sống.
Mỗi lần "kiến súc" từ Sài Gòn về bến
cũng vui lắm, chòm xóm đến phụ rã bè cho
cây chìm xuống sông, phải có thứ tự lớp
lang, để khỏi bị trôi. Xong việc rồi nhậu
nhẹt, tiệc tùng. Lúc kéo "súc" lên đà
để "rã tào phô," xẻ đôi, cũng vậy.
Người ta dùng dây xiềng bự cỡ cột một
đầu vào súc còn đầu kia quấn vào
bá-lăng có hai cái lỗ to để xỏ hai cây
đòn, rồi quay lên vòng vòng theo kiểu trâu
đạp rạ. Mỗi lần rã-tào-phô mà cây
đặc thì ba Hùng mừng lắm, thấy có lời,
còn cây bộng thì may ra huề vốn. Làm nghề
cây tài nghệ duy nhất là biết lựa cây, nhiều
cây bên ngoài lỗ hang vậy mà bên trong đặc
như sáp, trái lại nhiều cây bên ngoài trông
lành lặn mà bên trong dập nát cũng không
biết chừng. Cây có lỗ có hang thì mua
được rẻ nên dễ kiếm lời. Ba Hùng tính
tiền bằng bàn toán lắc cắc lẹ lắm, lẹ
hơn là làm trên giấy nhiều. Làm trên giấy
chậm là vì ông phải lẩm nhẩm cái cửu
chương chữ nho của ông mỗi lần ông viết ra
một con số. Hùng nghe riết rồi cũng thuộc
chút ít, mà nó cũng có vần...
cửu cửu
bát nhất, bát cửu thất nhì, thất cửu lục
tam, lục cửu ngũ tứ
... đâu khác gì chín
lần chín tám mốt, chín lần tám bảy hai...
Nghề cây của ba Hùng càng ngày càng xuống
dốc, bán chịu đòi chưa hết thì đến
lúc ông bắt đầu mua chịu ở Sài Gòn, mỗi
lần họ xuống đòi nợ, cơm nước đãi
đằng má Hùng mệt thở không ra hơi. Lẽ
dĩ nhiên cũng phải quơ quào đâu đó
chút đỉnh mà trả cho họ để họ vui lòng
ra về chứ đâu bao giờ trả hết một lần.
Ðó là những năm Hùng đi học sơ học,
tiểu học. Trường sơ học xéo xéo với
nhà Hùng bên kia sông, sông Tham Thu, một nhánh
sông lớn chảy vào kinh Chợ Gạo. Nói là
trường nhưng thực ra đây là một trong nhiều
nhà nghỉ mát của ông Hội đồng Lượng.
Nhà nền đúc cất theo kiểu Tây cao ráo mát
mẻ. Mỗi ngày ba Hùng phải lấy xuồng đưa
Hùng sang sông và rước Hùng về. Trong cái
cặp dán bằng giấy dầu của Hùng chỉ vỏn
vẹn có cuốn vần ABC. Qua năm sau ông Hội
đồng lấy nhà lại và Hùng đương nhiên
tốt nghiệp. Trường sơ học phải dời lên
chợ quận nhập chung với trường tiểu học.
Thực ra đây cũng là nhà của ông Huyện lấy
làm trường. Quận gì mà nghèo quá! Hùng
bắt đầu theo anh chị của Hùng chạy bộ từ
nhà đến trường mỗi ngày, một cây số
đi một cây số về. Hùng phải chạy mới
kịp người lớn đi bộ, tuy nhiên Hùng cũng
có cái cặp đệm hai ngăn như người lớn
chứ không còn ôm cặp dán bằng giấy dầu
nữa.
Ðược nửa năm thì quận có chương
trình xây cất trường mới, trả nhà cho ông
huyện. Nửa buổi đi học nửa buổi đi làm
trường, ai cũng phải đi kể cả lớp đồng
ấu. Trường được dự trù cất làm ba
dãy theo hình chữ U với hai nhà hình bát giác
ở mặt tiền làm văn phòng hiệu trưởng và
phòng họp cho thầy cô. Chỗ giao điểm của hai
lối đi hình chữ thập sẽ là sân cờ có
vườn bông. Bốn góc còn có sân tập thể
dục thể thao, sân chơi vũ cầu, bóng
chuyền... Không ngờ dự án bông hình coi
đẹp như vậy mà lại cất trên một bìa
rừng hoang vắng. Mấy lớp nhỏ như Hùng đi theo
để chơi nhiều hơn để làm nhưng cũng
là lớp trông đến giờ đi làm trường
nhiều nhất. Chặt cây phá rừng, ban gò lấp
nổng, rồi đem trâu cày lên một bận. Thấy
được miếng đất trống như thấy
được nửa đường, không bao lâu nữa sẽ
xong. Rồi đến lượt khuân đất đấp
nền, đấp đường đi. Ðất trộn với
trấu, rải trên mặt đất cho mau khô, đâu
đâu cũng thấy trấu... Công tác của học
trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn
lại dựng trường, lợp trường, cột kèo
phên vách thì do đám thợ chuyên môn lo.
Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long
trọng khánh thành, có đồng ca
này công
dân ơi đứng lên đáp lời sông
núi
... và có
ai bao năm vì sông núi quên
thân mình
... Nền trường càng ngày càng
khô, nứt nẻ càng ngày càng lớn, bàn ghế
càng gập ghềnh chổng đầu chổng gọng, vậy
mà chẳng ai phàn nàn. Mấy trường sơ học
quanh vùng lần lần đóng cửa tập trung về
trường quận, học trò càng ngày càng
đông. Giờ ra chơi có cà rem cây, có kẹo
kéo quay số, có nước đá bào si
rô... một cắc hai cắc cũng đủ xài.
Khi lớn lên, mỗi lần trở về qua mái trường
xưa cứ như còn thấy bóng dáng thầy Bảy
già, thầy Tám Chương, thầy Chín Chương,
thầy Hoàng... và cả anh Tư cà rem... Nhớ
mấy lần bị đòn, bị khẽ tay, nhớ mấy lần
chơi u đánh lộn, nhớ những đêm trăng trung
thu rước cộ đèn, có phát bánh, có
đấu xảo. Hùng nghĩ có mấy ai được
cái cơ hội tự cất trường cho mình học.
Trở lại vấn đề làm ăn, ngoài việc làm
cây ba má Hùng còn phải lo cày cấy năm mẫu
ruộng của ông nội Hùng ở dưới bờ lộ me
ông chủ Hoàng, lối duy nhất đi vào sân banh.
Qua khỏi sân banh thì đến khu rừng Cây Ðiệp,
rồi mới đến ruộng. Vùng Cây Ðiệp này
nổi tiếng là linh thiêng ma quái. Thiên hạ
đồn rằng dưới gốc cây điệp, cây to
nhứt trong vùng, là hang cọp. Quỉ hiện hồn
thành cọp nhảy ra ăn thịt người, xương
xóc đầy hang. Chưa thấy quỉ chưa thấy
cọp, nhưng thấy đây là nghĩa địa của
Việt Minh, của những người chết không chỗ
chôn. Có lần bộ đội chôn đồng bọn
ở đây cả tiểu đoàn, mười mấy đêm
liên tiếp. Mà không phải dễ chôn vì
đào đâu cũng đụng xác, lấp lại
đào nơi khác, rồi cũng lấp lại đào
nơi khác nữa, đêm qua đêm. Khu rừng
như đã được chôn năm bảy lớp
người.
Ðối với Hùng, chỉ khổ một điều
là mỗi lần ra ruộng phải đi qua những
đường mòn len lỏi trong khu rừng này, nhất
là đi ban đêm, thêm trời mưa rỉ rả.
Ngọn đèn lồng soi sáng bước chân mình
chưa đủ làm sao soi sáng cỏ cây. Tay bắt
ấn mà bụng run cầm cập. Ði đoạn giữa
thì đỡ, sợ nhất là đi sau chót. Hình
như đâu đâu cũng có oan hồn chết bắn
chết trận, chết tức tưởi... không siêu
thoát được, lẩn quẩn, quấn quít với nấm
mồ của mình trong vùi dập lãng quên.
Bờ ruộng giáp ranh với rừng, cái xa quạt dùng
để bơm nước sông vào ruộng đặt
dưới cống lại cũng hướng về phía rừng.
Mỗi lần đạp nước đêm, vừa ngó cây
nhang đốt tính giờ thay phiên vừa ngó vô
rừng tưởng mình như đang cúng vái đất
trời cho những vong hồn dật dờ kia được
siêu thăng tịnh độ. Mùi hương trầm
phảng phất không đuổi được bầy muỗi vo
ve thỉnh thoảng cắn như ong chích. Cây nhang như
dài thêm, cháy hoài không tắt. Lắm lúc
vừa đạp vừa ngủ, trật chân bị bàn
đạp đập muốn sưng ống quyển mà còn
bị anh bạn phía đầu bên kia phàn nàn:
- Ngủ gục hả, mới đạp có mấy cây
đã ngủ rồi, đạp hết bó nhang đó chưa
chắc đã xong. Bây giờ nước mới đứng,
mấy tiếng nữa mới ròng.
- Nghe nản quá, nghỉ chút đi. Vô rừng nhổ
mì về nướng ăn cái đã, đói bụng
rồi...
Ma đói đâu sợ đám ma đám quỉ không
mồ. Mì không ai trồng mà mọc đầy rừng,
ớt và ổi do chim ăn chim ỉa cũng mọc đặc
ngật trong đó.
Ba Hùng lần lần thu gọn nghề cây không làm
lớn nữa, trở về Bình Phục Nhứt xây nhà
máy xay lúa. Ông mua lại nhà máy của một
người bạn trên bến phà, gỡ ra chở về rồi
ráp lại. Lúc đầu làm ăn được lắm,
dân trong vùng không còn chở lúa qua nhà máy
Quơn Long nữa nhưng ba Hùng vẫn bận tâm về
vấn đề của một nơi người một ngả. Sau
mấy tháng đi đi về về, ông quyết định
giao cho chú Hùng quản lý rồi lâu lâu xuống
thăm một lần. Ông linh tính việc chà lúa
lấy tiền này không bền. Một đêm ông
nằm chiêm bao thấy một con sâu rọm thật to, xanh
như sâu mãng cầu, đầy lông lá không
hiểu từ đâu xuất hiện trên mặt bàn rồi
bắt đầu bò đến chân đèn, lên ngọn
đèn, tới bong bóng... bong bóng nổ tiêu
tan... Sáng ngày sau có người đến báo tin
bánh trớn nhà máy bị bể, phang vào cột nhà,
nhà sập và nhiều người bị thương.
Ðầu máy loại xưa có hai bánh trớn hai bên,
bể một cái không cân bằng không chạy
được. Hàn lại cũng không được, nó
sẽ bể nữa tiền mất tật mang. Mua cái mới
cũng không có, kiểu cũ không ai bán. Rốt
cuộc rồi ba Hùng phải bán sắt vụn cái nhà
máy đó...
Thất bại vụ nhà máy xay lúa ba Hùng đổi
nghề lần nữa, biến trại cây thành trại mộc
và trại hòm. Ông không còn đi Sài Gòn
kiến súc, bè cây bằng đường sông nữa
mà mua cây và cưa tại chỗ rồi chở về
bằng đường bộ. Trừ khi có người
đặt nguyên một cái nhà hay ít ra vài bộ
cột vài bộ đòn tay thì ba Hùng mới làm
một chuyến kha khá, bằng không đi một chuyến
nhỏ để mua cây đóng giường, bàn, tủ,
ghế, đi-văng, sóng chén... Năm bảy ông
thợ đủ làm căn trại thêm ồn ào náo
nhiệt, vui nhà vui cửa. Vài người ở xa, ăn
ngủ lại trại, năm ba ngày mới về thăm nhà
một lần. Ban đêm họ uống trà, trò chuyện,
nói chuyện tiếu lâm.
Má ơi con muốn lấy
anh thợ bào. Ảnh khom lưng ảnh đẩy cái
nào cũng sâu
. Có người ngâm thơ, thơ
Lục Vân Tiên, người thổi kèn bằng lá
cóc kèn, tiếng kèn như kèn đám ma.
Làm thợ mộc muốn phát thì phải ếm, nhứt
là mấy ông thợ cất nhà, mấy ông thợ có
bùa Lỗ Ban. Nhưng mấy ông thợ đóng
đồ mộc này cần gì phải ếm? Không ếm
không được. Không ếm thì thợ mộc cất
đầu không lên, tán gia bại sản, chết vợ
chết con, không ếm lớn phải ếm nhỏ, tổ dạy
vậy. Chính vì vậy mà lần đó ba Hùng
bị cô Ba Tỏ phàn nàn:
- Cái giường mua của anh thiệt kỳ, ngủ sáng
dậy không biết đường ra, cái cửa mùng
bên này mà cứ vạch vạch phía bên kia.
Rồi ông Năm Ðại cũng phân trần:
- Từ ngày lấy cái giường của anh về con
vợ tôi nó ngủ nó quay mặt vào vách.
Nhưng không bằng chú Chín Trâu, cự nự ba
Hùng một trận dữ tợn:
- Anh nghĩ coi nó ếm cái gì mà thằng nhỏ tui
đêm nào ngủ cũng đái dầm. Giường tui
đặt anh là giường phòng mà, nó ếm vậy
thì làm sao thằng nhỏ ăn ở với vợ con nó
được.
Không biết có đái dầm thiệt hay không nhưng
chú Chín cứ nói riết đến nỗi ba Hùng
phải đổi cho chú cái giường khác...
Ðặc biệt có ông thợ chuyên môn làm nắp
hòm, nghề của ông là đẽo cây vạt cây
với cái rìu có cánh chuồn dài hơn cán
rìu. Ðẽo làm sao cho tròn cho trơn tru cho ăn
khớp với khuôn hòm không phải chuyện dễ.
Nắp hòm đàn ông thì mô hơn nắp hòm
đàn bà cũng phải đẽo cho đúng kiểu
đúng cách. Tiền công của ông gấp đôi
mấy ông thợ kia vậy mà ông cứ đòi đi
làm chỗ khác hoài. Ba Hùng cũng bực mình
ông lắm nhưng không tìm ai thay thế ông ta
được. Ðêm nào ngoài trại hòm nghe
tiếng cây vặn mình kẽo kẹt là sáng hôm sau
có người tới mua hòm, có người qua đời.
Ðêm nào ba Hùng cũng đốt nhang ở bàn thờ
tiên sư, không hiểu ông vái cái gì, ông
có chịu vái cho dân trong làng chết hết hay
không.
Cho đến lúc má Hùng mở tiệm hàng xén thì
trại mộc trại hòm của ba Hùng cũng sắp sửa
dẹp. Lúc đầu má Hùng chỉ định bán
nước mắm dầu lửa qua ngày, nhưng rồi tiệm
càng ngày càng phát. Ba Hùng xoay qua nghề bổ
đồ và sổ sách cho vợ. Mấy mùa bán Tết
mấy năm đó cũng rầm rộ, có hoa mai, dưa
hấu, có pháo bông, lì xì... Nhưng rồi
mấy tiệm lớn mở ra ngoài đầu cầu giựt
mối, tiệm của má Hùng bị thụt vào trong
không thuận đường buôn bán. Tiệm càng
ngày càng ế, kệ càng ngày càng trống. Ông
làm không xong đến phiên bà rồi cũng thất
bại, đời người như con nước lúc lên
lúc xuống...
Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê
Tiếc rẻ chiếc ghe lù mục lần trong ụ, ba Hùng
quyết định trở lại nghề cây, nhất định
lần này làm lớn. Chiếc ghe lù trông như
cái hộp dùng để bè cây, chiếc ghe chỉ
cần trọng tải mà không cần gì về hình
dáng bề ngoài. Phải xài nó trở lại. Ba
Hùng quyết định như vậy và ông đã
đợ ruộng làm vốn để mở đầu một
màn phiêu lưu mới.
Ðó cũng là năm Hùng bắt đầu xa nhà
lên tỉnh theo học ban trung học. Mỗi người
một quê hương, một thuở thiếu thời. Quê
hương và thuở thiếu thời của Hùng chỉ có
chừng đó, nhưng luôn luôn gần gũi gắn bó
với Hùng như hình với bóng. Mới đó mà
đã thành xa xưa.
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp