Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Dấu Ấn Văn Chương của Nguyễn Tấn Hưng

Lê Nhật Thăng

     Trong bài phát thanh của Ðài Tiếng Nói Hòa Kỳ, ngày 9 tháng 5 năm 1989 nhận định về cuốn Một Ðời Ðể Học của Nguyễn Tấn Hưng, có hai điểm của bà P. Lan và Bùi Bảo Trúc, tôi thấy cần bàn thêm.

     Thứ nhất, cả hai đều đồng ý cho rằng đời tác giả Một Ðời Ðể Học có nhiều thăng trầm và đổi thay. Bà P. Lan kể Nguyễn Tấn Hưng rời nhà trường để nhập ngũ theo học khóa 17 sĩ quan hải quân, lên cấp hải quân Ðại Úy, phụ trách ngành tình báo cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

     Bà ta chỉ kể vắn tắt có thế. Và nếu kể thêm, theo tôi biết, Nguyễn Tấn Hưng phải làm đủ thứ nghề khi sang Mỹ và anh cố gắng học. Ðã xong Master nay định lấy thêm bằng Ph. D.

     Tôi chẳng hiểu "nổi chìm theo nghĩa đúng nhất" về cuộc đời Nguyễn Tấn Hưng như ông bà quan niệm và hiểu biết thế nào? Nhưng đối với nhiều người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động vừa qua, trường hợp Nguyễn Tấn Hưng không có chi đặc biệt, đáng chú ý. Ngay cả so sánh với những chiến hữu trong quân chủng, anh ta cũng chẳng phải lận đận, nguy hiểm gì mấy! Ði biển, đi sông rất ít; trái lại anh ta làm việc ở văn phòng trên đất, đảo nhiều hơn là lênh đênh, bập bềnh trên chiến hạm. Không được nếm thủ đoạn Cộng Sản một ngày nào cả.

     Thứ hai, ông Bùi Bảo Trúc cho rằng nếu tự truyện mang tính cách văn chưong thì nó phải có phần sáng tạo, và do đó nó phải là tự truyện tiểu thuyết.

     Tôi cảm thấy ông Trúc không phân biệt rõ tính chất nội dung với kỹ thuật thể hiện tác phẩm.

     Anh Nguyễn Tấn Hưng, khi trả lời các câu hỏi của Ðào Huy Ðán đã xác nhận đây là tự truyện "chuyện đã có sẵn, tôi chỉ kể lại mà thôi" và "riêng cuốn Một Ðời Ðể Học thì trên 90 phần trăm (tỷ số sự thật trong tác phẩm) là cái chắc."

     Vậy sáng tạo về nội dung tức là phần tưởng tượng, thêm thắt, lược bỏ của tiểu thuyết trong Một Ðời Ðể Học không đáng kể, nếu không muốn nói là không có. Nếu có phần "vẽ rắn thêm chân" lan man theo ý đồ đã định thì chẳng phải là tự truyện; tác phẩm hiển nhiên mất đi tính cách trung thực rất cần thiết của thể loại tự truyện, hồi ký... Chúng ta có thể ví von viết tự truyện giống như người soi gương để truyền thần chân dung mình. Như vậy, người vẽ khuôn mặt mình nhờ tấm gương soi không thể vẽ khuôn mặt của ai khác hay vẽ thêm, vẽ sai những gì mà gương phản ánh.

     Tóm lại, tự truyện là truyện kể về mình, có sao kể vậy, cho người khác nghe, đọc. Còn kể đoạn đời nào, việc làm nào, bằng giọng điệu nào... thuộc về bản lĩnh, trình độ tức là phần sáng tạo của người kể, không ăn thua gì tới nội dung.

     Người kể có kỹ thuật cao tức là câu chuyện hấp dẫn, thuyết phục người nghe, kẻ đọc. Viết ra giấy, truyện kể phải được văn chương, nghệ thuật hóa mới xứng đáng là một tác phẩm văn nghệ, văn học. Vậy sáng tạo chỉ xảy ra ở phần xây dựng tác phẩm chứ sự việc đã thành sự cố thì làm sao sáng tạo! Trừ phi...

     Làm gì có cái gọi là tự truyện tiểu thuyết mà chỉ có tiểu thuyết hóa truyện của một người, tiểu thuyết hóa cuộc đời của một người. Cần phân biệt trước, sau để minh định tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng.

     Trong bài nói chuyện giới thiệu Một Thuở Làm "Trùm" , ông Võ Ðình nói có ba thế hệ nhà văn gốc Miền Nam là Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu Tường, Lê Xuyên, Sơn Nam (thứ nhất)... Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba (thứ hai)... Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Cao Bình Minh, Vũ Nam (thứ ba)...

     Và ông ta xếp Nguyễn Tấn Hưng vào thế hệ thứ hai.

     Sự thực, nhóm từ "gốc miền Nam" thiếu sự chính xác, gây ngộ nhận. Vì rằng sau hiệp định Geneva quy định từ Quảng Trị trở vào là miền Nam Việt Nam mà chúng ta vẫn dùng hai từ miền Nam để phân biệt với miền Bắc đang bị thống trị bởi chính quyền cộng sản. Thêm nữa, những nhà văn, thơ trẻ dẫu sinh tại miền Bắc - như Trần Dạ Từ chẳng hạn - di cư vào Nam lúc tuổi còn nhỏ, chưa có kỷ niệm, ấn tượng rõ rệt về sinh quán của mình; miền Nam mới chính là cái nôi mới cho họ học hỏi, sinh trưởng và thành công.

     Chẳng lẽ chúng ta gọi họ là những văn, thi sĩ miền Nam gốc Bắc ư?

     Và có những người cha mẹ là người dân miền Bắc hoặc miền Trung sinh họ ở Sài Gòn hay lục tỉnh xin hỏi ông Võ Ðình có thể gọi họ là các văn nghệ sĩ gốc miền Nam được chăng?

     Theo tôi, tính cho đến nay, đất Ðồng Nai và đồng bằng sông Cửu Long từ cuối thế kỷ thứ 19 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ chữ quốc ngữ, bỏ Hán học chuyển sang tân học mà trấn Gia Ðịnh giương lá cờ đầu bằng có tờ báo sớm nhất, có trường học lâu năm nhất; tôi tạm chia các lớp người viết văn sinh quán tại Nam phần căn cứ vào văn phong, bút lực và tác phẩm được dư luận hoan nghênh, như sau:

     Lớp 1: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn An Khương, Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển...

     Lớp 2: Lý Văn Sâm, Ngọc Sơn, Hồ Hữu Tường, Ðông Hồ...

     Lớp 3: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên...

     Lớp 4: Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Văn Ba...

     Lớp 5: Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Kim Vy hay Cao Bình Minh chăng?

     Tôi vẫn nghĩ về sau có ai viết một bản tổng kết văn học Việt Nam ở hải ngoại sau Tháng Tư Ðen, Nguyễn Tấn Hưng sẽ là một bút danh không thể quên được! Không phải vì Nguyễn Tấn Hưng viết như cháo chảy, chẳng phải vì anh là cây bút của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa nổi bật hiện nay mà cũng không phải vì Nguyễn Tấn Hưng là một Kẻ Sĩ can đảm như Trần Quán Niệm nhận xét... mà chính vì tác giả pho tự truyện gồm các tập truyện Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm" Một Chuyến Ra Khơi có lối kể hết sức thành thật, thông minh và cực kỳ điêu luyện.

     Chúng ta chú ý tới chữ Một đặt tên các truyện của anh chỉ rõ suy nghĩ của một người trí thức , xúc cảm của một công dân và hành động của chiến sĩ vẫn âm vang trong tâm tưởng ba "tiêu hướng" Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.

     Mặt mạnh của Nguyễn Tấn Hưng ở chỗ thống hợp được ba con người chân chính biến thành động cơ, xung lực cho ngòi bút tung hoành.

     Có thể nói trong sinh hoạt văn nghệ ở nước ngoài hiếm có tác giả nào lại được khen quá sá như Nguyễn Tấn Hưng. Ðiều đáng chú trọng những "tuyên dương" này toàn do những tác giả có khả năng và uy tín.

     Mai Thảo đã viết Vào Tập cho Một Ðời Ðể Học . Nhận định của tác giả Ðêm Giã Từ Hà Nội bằng một đoạn văn đứng đắn và kiểu cách theo lối viết của ông ta: "Ðiều yêu mến sau cùng lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trời rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết của Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa."

     Nhờ Mai Thảo, chúng ta được biết Nguyễn Tấn Hưng đã có truyện đăng trên Văn trước năm 1975 và anh viết rất cẩn trọng, bản thảo thường thay đổi để hoàn hảo hơn.

     Tôi tìm hiểu trực tiếp, anh Nguyễn Tấn Hưng khởi sự viết ở quân trường, đặc san Ra Khơi và tập san Lướt Sóng rồi mới viết cho Văn với các bút hiệu khác.

     Trong tương lai, Nguyễn Tấn Hưng sẽ lần lượt cho ra mắt Một Cảnh Hai Quê , tập truyện; Một Kỷ Niệm Ðẹp , biên khảo về cách xếp chữ Việt trên máy điện toán; Một Lần Xuống Núi , ký sự văn học; Một Nỗi Buồn Riêng , tập truyện và tập tùy bút Một Phen Lận Ðận .

     Ngoài ra, anh còn viết nhạc, làm thơ; tập thơ Một Thoáng Trong Mơ đã có chiều dầy... lại biên khảo ngôn ngữ. Ðúng là nghệ sĩ đa dạng!

     Bây giờ tôi xin lần lượt "thông qua" ba tập truyện theo thứ tự xuất bản và truyện ngắn "Một Cảnh Hai Quê" của anh.

     Một Ðời Ðể Học gồm những chương như những giai đoạn của cuộc đời Hùng bắt đầu từ tỉnh Mỹ Tho, nơi anh sinh thành rồi qua mấy chục năm, nhân vật chính xưng Tôi tạm dừng bước lưu ly ở thành phố Winston-Salem thuộc bang North Carolina.

     Hùng học hết cấp tiểu học ở trường xã và quận rồi lên tỉnh lỵ Mỹ Tho học ban trung học. Anh đã viết lướt qua việc học mà nghiêng dòng mực hoa niên để mô tả sinh động tình trạng gia đình, về người và cảnh quê hương và cả tỉnh Mỹ Tho chứa chan tình cảm bằng ký ức tuyệt vời và có nhiều khám phá thú vị.

     Làm quen với Sài Gòn vào tuổi mười ba trên chuyến xe lửa và sau sống luôn trong "Hòn Ngọc Viễn Ðông" khi bắt đầu lên Ðại Học, phân khoa khoa học. Nhưng học được hai năm nhá Toán Lý Hóa khô khốc nên tình nguyện gia nhập hải quân tìm cảm giác lạ và hi vọng lên tướng.

     Nhập học khóa 17 sĩ quan hải quân ở Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang bị dần cho nhừ tử mấy tuần lễ đầu và học toát mồ hôi về các môn học căn bản.

     Thế rồi Nguyễn Tấn Hưng học cách thức làm việc trong quân chủng sau khi tốt nghiệp, học và làm tình báo quân đội, học đối nhân xử thế trong trường đời phức tạp. Sang Mỹ lại lao vào học đủ thứ nghề với chật vật và cuối cùng cố gắng có mặt trong Ðại Học... Chúng ta thấy rõ Nguyễn Tấn Hưng treo cao tấm gương phấn đấu tự vượt hoàn cảnh; quan trọng nhất, vượt được chính mình để trở thành một chuyên viên cao cấp, có chỗ ngồi tốt trong một hãng lớn danh tiếng.

     Anh nghĩ rất chí lý: "Thành tài hay không một phần còn phải nhờ vào ý chí và lòng tin của mình."

     Một Thuở Làm "Trùm" , chữ Trùm được đóng trong ngoặc kép chắc hàm ý được làm đàn anh có một số đàn em đắc lực sẵn sàng chiều đãi cung phụng. Anh kể lại thời gian phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải với chức vụ Trưởng Phòng Nhì.

     Ðảo Phú Quốc buồn vắng, địch tương đối ít quậy mạnh như trong đất liền nên Hùng sống cùng gia đình hơi giống đời công chức. Bằng cớ rõ rệt cư xá sĩ quan tiếp giáp khu vực buôn bán mà không có hàng rào phòng thủ ngăn cách. Thật là chủ quan, khinh địch, nhất là đối với sĩ quan tình báo đã có cảnh giác ngay khi anh mới thuyên chuyển về đơn vị mới.

     Những chuyện móc nối, bổng lộc, công việc thường xuyên, ngoại giao đột xuất... cũng bình thường trong bối cảnh chung của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa mà ai ai cũng rõ, nhiều người vẫn làm... thế nhưng anh kể khá linh hoạt, duyên dáng nên mang lại cảm tưởng mới lạ cho người đọc.

     Phần cuối truyện có hai chương "Trong Cảnh Sống Còn" và "Ngày Qua Trên Xứ Lạ" kể lại cuộc vượt biển rất hồi hộp, gian nan, mặc dù anh có kế hoạch trước. Tinh thần lạc quan và phảng phất chủ nghĩa duy tâm được biểu hiện trong đoạn cuối truyện:

     "Khác với những gia đình ra đi có đem theo vàng bạc, của cải, gia đình tôi, vợ chồng con cái tôi phải làm lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng. Tôi rất biết và rất vui vẻ bằng lòng chấp nhận số phận của mình.

     Thủy triều ai tát mà vơi Lên thời lắm thế, xuống rồi như không"


     Tôi đồng ý với Hồ Trường An, nếu anh khai thác, trải rộng vốn sống nhất là kinh nghiệm công tác, chắc chắn Một Thuở Làm "Trùm" có thể biến thành một truyện dài hơn, quân bình hơn.

     Những trang đầu của Một Chuyến Ra Khơi là một truyện ngắn riêng, hầu như tách ra khỏi mạch tập truyện, viết về vùng vòng đai hay vùng tranh chấp giữa Quốc gia và Việt Cộng, mang tên "Dòng Sông Của Tùng." Cái chết phi lý và bất ngờ của Tâm trong dòng sông tuổi nhỏ quê hương và có thể Tùng cũng bị lạc đạn trong trận công đồn khiến cho cây cầu thân thuộc gãy gập.

     Nếu Một Thuở Làm "Trùm" được xem như một chuỗi hồi tưởng, một khúc sinh hoạt xen cắt Một Ðời Ðể Học thì Một Chuyến Ra Khơi cũng có thể coi là Một Trở Về thời kỳ phục vụ trong quân ngũ, hay là một cuốn phim ghi lại một quãng đời trẻ tráng có tình yêu, có bạn hữu, có chiến đấu và có... thơ.

     So với hai tập truyện trước, tập truyện Một Chuyến Ra Khơi có nhiều chất ký, chất tùy bút và chất thơ hơn cả.

     Mời các bạn thưởng thức tài nghệ của Nguyễn Tấn Hưng; tôi xin trích dẫn mấy đoạn, giở ra rất tình cờ chứ không chọn lựa những đoạn hay nhất làm cảnh:

     "... Chặt cây phá rừng, ban gò lấp nổng, rồi đem trâu cày lên một bận. Thấy được miếng đất trống như thấy được nửa đường, không bao lâu nữa sẽ xong. Rồi đến lượt khuân đất đắp nền, đắp đường đi. Ðất trộn với trấu, rải trên mặt đất cho mau khô, đâu đâu cũng thấy trấu... Công tác của học trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn lại dựng trường lợp trường, cột kèo phên vách thì do đám thợ chuyên môn lo. Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long trọng khánh thành, có đồng ca Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi... và có Ai bao năm vì sông núi quên thân mình..." ( Một Ðời Ðể Học , trang 8).

     Tôi nghĩ các bạn trẻ, trên dưới hai mươi, rất ít người biết xuất xứ của câu hát sau vốn từ bài suy tôn lãnh tụ Ngô Ðình Diệm, thời ấy chính phủ bắt hát sau quốc ca. Ngay cả trong rạp chiếu bóng cũng phải thi hành răng rắc.

     "... Không ai ngờ đêm nay lại là đêm rối loạn. Ngay giữa khuya. Vì có người phát giác ra tư lệnh đã vọt rồi. Bằng chứng là chiếc xe Jeep của tư lệnh đang nằm trơ trọi một mình trên cầu tàu. Không tài xế, không người trông coi. Vậy thì còn chờ đợi gì nữa, hãy bồng bế nhau đi. Thay phiên nhau xách xe tư lệnh chạy ra cư xá chở vợ con vào cầu tàu. Ðể chuẩn bị đi ra tàu lớn. Tôi không dành được xe, lội bộ trở ra nhà mới biết hành trang và tài sản của gia đình vợ tôi và con nhỏ em còn đang lu bu thu dọn. Cho vào bị vào xắc. Lại lội bộ trở vô cầu tàu như gà mắc đẻ. Ðể xem chừng động tĩnh. Ðể mong ngóng coi thằng Luân đem ghe riêng của mình vào chưa..."

     Tác giả viết những câu ngắn để cực tả những việc làm gấp gáp, sự lo lắng nhiều điều. Và chúng ta thấy rõ sự bừa bộn khi chuẩn bị ra đi theo ông tư lệnh đã cao bay, xa chạy. Ðoạn này trích trong Một Thuở Làm "Trùm" , trang 140.

     Ðây là đoạn đối thoại trích trong Một Chuyến Ra Khơi :

     "... Huy vói tay khép cánh cửa sổ, trời lạnh quá. Huy tung chăn đắp cho cả hai lên tận cổ, vùi mặt vào mái tóc Phương giọng nhè nhè:

     - Ng... u.. ngủ.

     Hồi lâu, Huy cất tiếng:

     - Ngủ không được em ơi. Tại có em nằm gần, thôi em nằm xa xa anh một chút coi.

     Phương im lặng. Huy khẽ đẩy:

     - Làm bộ ngủ hả, nghe anh nói không?

     - Anh này kỳ, người ta không thèm nói chuyện mà lải nhải mãi.

     - Này, tuần rồi em đi công tác ở Qui Nhơn có gì vui không?

     - Vui chứ sao không, có mấy ông đại úy ga lăng hết chỗ chê.

     - Sướng nhé, em lúc nào cũng để ý đến mấy chuyện vớ vẩn đó chứ không biết học hỏi gì cả. Em biết Qui Nhơn cái gì, em có biết mộ Hàn Mặc Tử không. Tây, Huê Kỳ ở đâu không biết chứ mấy thành phố ven biển là có tàu anh tới.

     - Anh được có cái nước nói giỏi làm như chuyện gì cũng biết, em còn đi thăm nhiều nơi hơn anh nữa kìa mà em không thèm nói, động một chút ra mặt thầy đời.

     - Chứ sao, con người hải quân là con người quốc tế mà. Anh chuyện gì cũng biết.

     - Em chuyện gì cũng biết..., trừ một chuyện chưa biết...

     - Chuyện gì?

     Huy suy nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:

     - Thế em muốn biết bây giờ hả, anh tưởng em còn thơ ngây.

     - Thôi đi, dễ dữ à...

     Huy xoay người ôm chầm lấy Phương. Mấy sợi tóc lòa xòa trước mặt, Phương bé bỏng nằm gọn trong vòng tay..."
(trang 39 và 40).

     Anh "chồng" đi xa về tán tỉnh "vợ" rất đúng tâm lý. Không hiểu sao Nguyễn Tấn Hưng lại dùng chữ chăn, tiếng miền Bắc, thay vì mền? Và sau câu "Chứ sao..." có lẽ phải xuống giòng chấm chấm tượng trưng cho sự im lặng của Phương.

     Truyện ngắn "Một Cảnh Hai Quê" có thể nói là truyện nối dài từ ba tập truyện trên, như những con đường nối dài của Sài Gòn cũ. Ðiều đặc biệt của truyện là tác giả viết xen rất nhiều tiếng Anh (Mỹ) dù rằng tiếng Việt cũng có những từ ngữ tương đương, nhất là những từ thông dụng. Tại sao thế? Có lẽ Nguyễn Tấn Hưng có chủ ý báo động về một hiện tượng người Việt ở nước ngoài sính nói tiếng nước đang lưu trú hơn là nói tiếng mẹ đẻ. Trên thực tế đời thường, trước năm 1945, có bao nhiêu người dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau coi như một mốt dành cho những người trí thức, quý phái (?) và sau năm 1954, hàng thập kỷ vẫn thấy một số người nói xen kẽ tiếng Pháp trong câu chuyện hàng ngày.

     Trong một bức thư gửi một bạn văn đầu năm Tân Mùi, Nguyễn Tấn Hưng viết: "... Phần lớn những người bạn khen là những người thích đọc tác phẩm "có chiều sâu." Tôi chẳng để ý lắm đến chuyện đó, lúc viết là cứ viết thôi. Cứ con tim đi trước cái đầu để sau, đem hết tâm tình mình dàn trải là xong."

     Ðúng vậy đọc truyện Nguyễn Tấn Hưng khiến cho chúng ta nghĩ biết bao nhiêu dòng máu tươi xanh từ trái tim hồng của anh cứ đều đều tuôn trào như sóng vỡ bờ ra đầu ngòi bút, cuồn cuộn trên những khuôn giấy trắng để trao cho những người đồng điệu, những kẻ đồng hành.

     Trước 1975, quân chủng Hải Quân có một số nhà văn, nhà thơ và nhạc sĩ như Hữu Phương, Phan Lạc Tiếp, Vũ Thất, Trường Sa, Anh Thy... song so với quân chủng Không Quân thì hơi khiêm tốn. Nay ở nước ngoài chúng ta thấy có Ðiệp Mỹ Linh và Nguyễn Tấn Hưng đứng lên sừng sững, tạo thế quân bình đối với những cây viết sáng giá của Không Quân.

     Có lẽ từ đây, nói và nghĩ đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường êm ả bên bờ Tiền Giang, ngoài những sự kiện lịch sử, những danh nhân, những thắng cảnh, vùng đất giàu có... chúng ta không thể quên được tác giả Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn đã mau chóng tìm thấy hướng đi và tự hào đã khắc được dấu ấn văn chương của mình. Và được mọi người ưu ái chấp nhận.

Lê Nhật Thăng

Bài Trước Trang Chính Bài Kế Tiếp