Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Dòng Sông Của Tùng
Nguyễn Tấn Hưng
Vào mùa khô, cái nắng của những
làng quê miền Nam kéo dài dai dẳng. Trẻ con
trần truồng rong chơi. Bụi đóng lớp dầy
trên phiến lá, trên hàng rào... Con
đường mòn heo hút, mặt cát đất gồ
ghề trắng bệch, thỉnh thoảng một chiếc xe bò
chất đầy lúa, một người đàn bà
gánh hai bó rơm to hơn người uể oải, lê
thê. Quang cảnh đìu hiu vắng vẻ, không còn
sức sống, không có dấu hiệu hoạt động.
Mảnh đất giồng bỏ lâu không xới, cỏ
mọc xen lẫn rơm rạ phủ lên mấy lớp. Cải
bẹ đầy ngồng, hành le hoe vàng cháy. Dân
trong xóm chui vào những túp lều, bóng mát
sống hòa mình với thiên nhiên, thời tiết.
Tất cả đều giản dị, mộc mạc như ý
nghĩ, ước mơ của họ.
Một nhánh sông lẳng lặng hiền hòa, một
đầu chảy ra kinh Chợ Gạo. Chỗ gặp nhau là
ngã tư giáp nước, có cặp cá bống mú
lâu đời đào hang thành nồi gọ ăn thông
vào đất bờ hàng mấy cây số. Người
ta bảo vậy! Nước xoáy cuồn cuộn và
đôi khi làm chìm những chiếc ghe chở khẳm,
những người không biết vái cúng đất
trời. Ðầu kia là ngã ba Vàm Bà Lọ.
Một nhánh nhỏ chạy về miệt xóm Bến, cầu
Láng Tượng. Mùa nầy, nước biển vào
sâu nên mặn chát, đôi khi lờ lợ.
Nước trong xanh, những con cá nước ngọt cay
mắt nổi lờ đờ. Người ta làm vó bắt
cua biển, những con cua thật to, vàng lườm.
Vào mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống,
dòng sông đổi màu, nửa đục lừ lẫn
cát đỏ, nửa xanh rong rêu của cỏ rác
Ðồng Tháp Mười. Nhưng bấy giờ thì
nước ngọt, việc cày cấy bắt đầu, cỏ
cây xanh tươi và đường trở nên ướt
át nhầy nhụa. Dấu chân người, dấu chân
trâu, vết bánh xe còn lại khi nắng lên.
Dân nơi này ai mà không rõ từng bụi bần,
bập lá, cột đóng đáy cho đến chiếc
xáng chìm của dòng sông. Lúc nước ròng
sát, bãi bùn phơi bày những hang cá kèo, cá
óc nói, người ta xách chĩa lội sình đâm
ếch nhái lẩn trốn trong mái dầm, ô rô, đi
mò tôm ở những bọng cây tróc gốc và trong
những bụi quau, vẹt bị sạt ra ngoài khơi.
Nước lên, những chiếc xuồng đi giăng câu,
vớt tôm càng, những ghe chở dừa xiêm về Sài
gòn, những ghe chài chở trấu bán cho dân dùng
đốt lò thay củi và thỉnh thoảng một chiếc
ghe chở đồ gốm, mái lu nồi... theo dòng trôi
trên sông như những đám lục bình vô căn
cứ.
Làng mạc qui tụ hai bên bờ cây cối um tùm, xa xa
mới gặp một căn nhà và ngoài kia là đồng
ruộng. Cho đến gần chân cầu, làng xóm trở
nên tấp nập hơn, có nhà ngói, tiệm tạp
hóa, tiệm hớt tóc... Cầu được bắc
vững chắc vào thời tỉnh lỵ Mỹ Tho và quận
Chợ Gạo là những chấm đen lớn trên bản
đồ. Cầu Sắt, không hiểu cái tên của
nó do đâu mà có. Người ta đồn rằng
hồi trước có ông bác vật Lang đi qua, cầm
cây gõ vào thành cầu và bảo là năm Dậu
thì nó sập. Ông bác vật Lang giả câm và
bị Tây nhốt vào núi Cấm.
Chừng nào
ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng xuống biển thì
ông mới về
. Ông bảo như vậy, và đó
là thiên cơ mà
thiên cơ
thì
bất khả
lậu
.
Ðầu cầu trên có nhà máy
xay lúa, đầu cầu dưới có trại cây.
Dân quê chỉ biết cấy lúa xay ra gạo ăn, cất
nhà thật to, kê tán, và nghỉ ngơi hưởng
thụ. Ông thầy Năm có bùa Lỗ Ban, thường
làm lễ dựng nhà cho dân có nói rằng cuộc
đất này tốt lắm. Mấy gò mả đá xanh
chôn trong hàm rồng là điềm lành. Trong
tương lai, vùng này sẽ sản sinh một bậc kỳ
tài. Mả bà Phủ khi chết được chôn
đứng, nằm chơ vơ giữa đồng, trong âm
thầm cổ kính còn có vẻ thiêng liêng huyền
bí. Hai bên đầu cầu, dọc theo bờ sông là
con đường duy nhất của làng. Con đường
cũng uốn khúc theo sông, len lỏi trong vườn
tược ruộng đồng xa tít. Sáng sớm mù
sương, đàn bà con gái đi chợ, kẻ gồng
người gánh lũ lượt. Chiều xuống, từng
đàn trâu quay về, bác nông phu vai vác cày,
miệng ngậm điếu thuốc vấn tay vui vẻ. Từng
đàn cò trắng xếp hàng bay về tổ. Không
ai nghĩ đến việc rời bỏ lũy tre
làng. Ðình đám, mùa màng, hội hè
xảy ra đều đặn... Người lớn, trẻ con
sống êm đềm, bình thản.
Ầm,... ầm, ầm... tiếng nổ của mấy
quả bích kích pháo rơi gần cầu và các
loại súng thi nhau nổ không ngớt. Tiếng máy
tàu lên xuống rì rầm, những loạt đại
liên xé nát bầu không khí. Ðạn dưới
tàu, đạn hướng đồn, đạn việt cộng
bay veo véo. Tiếng la ơi ới ngoài hàng dừa,
bụi chuối, trong bót... tất cả hỗn loạn gấp
rút. Tùng chụp vội cái gối nhỏ chun vô
"trản xê," mò mẫm tìm chỗ ngồi. Nó run
lập cập. Những ánh chớp tóe lửa trên mái
nhà, cột phên, mùi thuốc súng khét
lẹt... Tùng cảm thấy tiếng đạn nổ quá
gần, hình như bên kia tấm ván, trên trần.
Súng dưới tàu bắn lên từng nhịp theo
điệu nhạc giật gân, tiếng dội ào ào trong
cành cây, bập lá nước... Máy bay tới,
Tùng không còn phân biệt được tiếng
đạn, tiếng bom, tiếng động cơ, có lẽ nó
bắn dọc theo lộ hay vòng đai ấp chiến
lược... Hỏa châu thả đầy trời. Qua
kẽ ván, gộp cây Tùng thấy rõ màu vàng
hừng hực. Máy bay bắn như trâu rống. Tùng
cúi gập người theo tiếng nổ, theo ánh lửa...
- Ba mày đâu ?
- Ổng còn nằm ngoài chiếu.
- Sao không vô đây, còn đợi gì nữa,
cái ông này kỳ.
- Ba ơi, vô hầm đi ba.
- Ba, ba...
Loạt đạn FM đi trọn vào nhà làm át
tiếng nói mọi người. Tiếng khung kính, chai
hũ rơi loảng xoảng. Tùng nói thầm, cha nó,
cứ bắn vô nhà không! Tùng nằm co quắp.
Trong bác Năm, ông Tám chắc không sao, nhà Tùng
sát mé sông. Con Yến, thằng Tâm bây giờ
chắc cũng như nó, ngủ hầm. Ban chiều, con
nhỏ đã giận Tùng, không cho Tùng chơi chung
cái xâu chuỗi bông vú sữa vàng vàng.
Phải chi Tùng đừng nhát sâu nó! Một
tiếng nổ chát chúa. Tùng nghe tiếng người
hét, ngã gục. Miểng phang vào nhà rào rào
trên cây xiên, đòn tay...
- Ba ơi, ba...
Một trái đạn nữa nổ ngay trên nóc. Tùng
lắng nghe, có tiếng người rên rỉ.
- Bà ơi, tôi bị thương rồi, tôi bị...
Và tiếng nói nhỏ dần... Má chui ra khỏi hầm
ôm xác ba vật vã:
- Trời ơi, ông sao vậy?
Chị Ba, anh Tư mếu máo:
- Ba ơi, ba có sao không ba?
Ba hai mắt nhắm nghiền, thở thoi thóp. Một vết
thương to từ quai hàm đi lên phía tai, một
trên ngực xuyên qua lưng, máu đỏ cả áo.
- Con Vân lấy võng, võng ba mày đi coi!
Chị Ba dò đường trong bóng tối ra nhà sau.
Má khóc và chị em Tùng cũng khóc theo. Tùng
đưa tay vuốt máu trên mặt ba. Ðạn vẫn
nổ đều. Tùng mồi đèn bong bóng và cố
gỡ cây song. Má, chị Ba mỗi người một
đầu đòn. Anh Tư ôm mền, áo quần băng
ra đường vội vã. Tùng không còn biết
sợ.
- Thằng nhãi con, đứng lại không tao bắn bây
giờ...
Lính trên cầu la lối.
- Ba tôi bị thương rồi ông ơi.
Một loạt đạn nổ thinh không. Tùng lùi
lại ngơ ngác. Màu da của ba xám ngắt, Tùng
nhìn lo âu. Ầm... một tiếng nổ ven lề cỏ
bên đường, tóe lửa. Ngọn đèn trong tay
Tùng vụt bay đi và Tùng không còn biết gì
nữa...
Dân trong làng đã bắt đầu quen
với chiến tranh. Họ cam chịu và khung trời cũng
đổi thay. Không ai còn lạ về một trận
đánh, một vụ công đồn hay một cái xác
vô thừa nhận được lôi về công sở.
Dân chúng làm việc theo tin tức chiến sự. Ban
đêm không còn ai ở ngoài đường hay
ngoài đồng. Con đường bờ sông bị
đứt đoạn bởi những bảng "tử địa,"
mô đất. Hầm chông len lỏi trong cỏ cây.
Những cây cầu ván, cầu dừa bắc qua mương,
cống dẫn nước vô ruộng bị phá sập.
Một con đường vòng ra ruộng thật xa và gặp
lại bờ sông ở một điểm không phải sát
bên kia. Thỉnh thoảng người ta thấy một
phòng thông tin, một cửa tam quan. Cờ giải phóng
và biểu ngữ đầy đường. Dòng sông
cũng thay đổi theo. Hai bên bờ giờ đây
những bụi cây mái dầm, cóc kèn um tùm chằng
chịt. Những chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm,
tàu binh, tàu mặt dựng chạy phành phạch suốt
ngày. Chiến tranh càng lan rộng, nếp sống con
người càng vội vã và những gì trầm lặng,
cổ tích bị lùi dần vào quên lãng. Trẻ
con không còn đến trường đều đặn.
Chúng không còn thì giờ đếm ván cầu mỗi
trưa đi học. Không còn các buổi chiều
mưa to gió lớn, tung tăng trên đường về
hái vội lá chà là, lá dúi, về nhà thay
đồ ngồi vào bếp vừa hơ lửa, vừa bỏ
từng chiếc lá vào lò để nghe những tiếng
nổ tí tách. Bây giờ, trên lộ đá xuất
hiện những đoàn xe tăng, xe mười bánh.
Những người lính đút vội vào túi, vào
cặp chúng chiếc kẹo cao su, bánh hộp... Súng,
đạn, nón sắt đen ngòm như nước da của
họ. Sáng sáng không có bác nông phu dắt
trâu ra đồng, không còn ai đi chợ, không có
ngọn đuốc làm bằng cọng đu đủ, không
có tiếng tù và gọi nhau đi cấy; thay vào
đó, là những đoàn người từ một xứ
sở xa lạ nào, tay súng vai đạn, giày đinh,
áo trây-di lẳng lặng đi hàng một vào làng.
Trên đầu có máy bay, dưới sông có tàu
ghe gắn súng liên thanh... Người dân đã
quen dần với chiến tranh rồi... Bỗng nhiên mảnh
đất, dòng sông của họ trở nên quan trọng,
bị giành giật. Từ ngã tư Hòa Bình vào
xóm Bến qua cù lao Tân Thới là huyết lộ của
Việt cộng. Bót được đóng dày thêm
dọc theo lộ đá. Hai đầu cầu, đồn
được xây lại cẩn thận, rộng lớn, có
giăng dây thép gai, có lính Mỹ, có chòi canh.
Người dân quên dần những câu ca dao, những
điệu hò cấy lúa, những bài hát đưa em.
Mỗi chiều họ gấp rút thu gọn công việc.
Ráng mây hồng phương tây rung động theo
tiếng nổ xa xa. Họ thầm cầu mong không là
tiếng bom mà là tiếng trời gầm báo hiệu cơn
mưa...
Tùng lấy cây bình linh đẩy cái
thây thằng chổng ra xa cho trôi theo dòng nước,
miệng lẩm bẩm:
- Ông ơi, ông, sao ông lại ghé vô chỗ
này, ông đi bình yên!
Nó có cảm tưởng như vừa thả xuống một
chiếc tàu xếp bằng giấy. Con Yến, con Vi, thằng
Tâm đứng dựa gốc mãng cầu nhìn theo, sợ
hãi. Cái xác đã mất đầu, chân tay cong
queo, tái mét, quần áo tả tơi mục nát, rung
rinh trong nước còn rõ ràng hai túi xếp trên
ngực. Cái dây nịt thắt bụng như chia xác ra
làm hai phồng to, sình thúi. Ở bắp đùi
rớt ra một mảng thịt, ruồi bâu quanh vo ve, dòi
bọ nhung nhúc. Ra khỏi mấy nhánh cây khô,
cái xác được dòng nước cuốn đi.
- Ghê quá hả anh!
- Ừ, thôi đi về.
Tùng vin vào cây bàng, bước
dè dặt trên mấy miếng ván bắt làm sàn
nước đầy rong rêu. Ba hôm nay, người ta
vớt được rất nhiều xác trôi sông và
có lẽ còn nữa. Trận đánh lớn quá.
Nghe đâu đụng độ ở cầu Xây, mấy
tiểu đoàn Việt cộng mới về, thua chạy rút
về miệt Rừng Lá. Hôm đó Tùng thấy
lính cũng chết, xác được vô hòm, xác
quàn trong chiếu để lên xe hồng thập tự.
Nhưng không ghê bằng mấy chú chổng chết
trôi. Tùng thấy người ta lấy băng trắng
quấn bít chín cái xác hôm qua tại đầu
cầu. Ðàn ông qua lại cầu bị chặn lại
bắt đi khiêng xác. Người ta xịt alchool,
bột, xức dầu nhị thiên đường cho đỡ
hôi. Cá tôm đem bán không ai mua vì nó
rỉa thịt người. Ðáy không đóng, lờ
không đặt. Dòng sông đầy bèo cám, cỏ
chỉ dơ bẩn. Người lớn trốn chạy để
khỏi bị bắt đi khiêng xác, trẻ con thì đi
coi... Tùng lấy gáo múc nước rửa mặt
rồi vòng hè sau đi ra. Nó buồn lắm. Cửa
nhà trên, cửa trại cây một dãy đóng
bưng bít. Trong nhà, mái ngói đổ trên
bàn, những vết cắt của bom đạn để lại
khắp nơi. Giờ, nhà còn mỗi Tùng là
lớn. Mỗi ngày Tùng rủ con Yến về nhà
chơi một lần. Tối, nó dẫn mấy đứa em
về nhà con Yến ngủ. Nhà con Yến có cái
hầm đào sâu xuống đất, trên nóc là
bồ lúa, không như cái hầm nhà Tùng làm
dưới sàn cây giữa hai cây đà, chỉ tấn
thêm mấy gộp gỗ vụn.
- Về đi Tùng ơi, chiều rồi!
Con Vi muốn anh Tùng của nó ngủ ở nhà. Tùng
cũng muốn như vậy nhưng nó lại thích có con
Yến bên cạnh.
- Ừ, thôi tối nay, tao, mày, con Phương, con
Hạnh về nhà ngủ hén... Mà vậy rồi cơm
đâu ăn?
- Mình ăn cơm nhà con Yến rồi mình về
nhà mình mình ngủ. Sao ba má lâu về quá
hả?
- Không được, như vậy bị ông Tám
rầy...
Dân trong làng chết nhiều, dù nghĩa
quân hay du kích cũng đều là dân làng
hết. Mỗi lần nghe tin một người chết,
người ta nghĩ ngay đến cuộc đời hắn và
tất cả đều đáng thương. Từ thằng Ri
con bác thợ mộc, thằng Học con ông trưởng
Năm, thằng Quá con ông thầy chích, thằng sáu
Cua... Trong một gia đình, anh đi lính, em đi
giải phóng là thường. Lính không đi thì
Việt cộng cũng bắt! Rồi lớp trẻ con sinh ra,
lớn lên trong bom đạn, không biết nặn đất
làm bánh, làm con thú để chơi nữa. Chúng
học hút thuốc, học suy tư, học đánh bài con
tây cúp con ách... Hai bên bờ sông không
còn màu xanh. Lúa đồng mọc lẫn cỏ hoang.
Vườn tược trơ trọi vì thuốc khai quang.
Những ngôi nhà vắng vẻ, cây rơm cũng tàn
ngọn. Ý nghĩ bỏ làng ra đi nhen nhúm trong
lòng mọi người nhưng họ lưỡng lự vì
hình ảnh dòng sông Tham Thu, cây Cầu Sắt, ngôi
chùa Bàn Bà, mả bà Phủ... còn đậm nét
trong lòng họ.
Ánh đèn leo lét không xóa được
vũng tối bao la. Nước ròng chảy mạnh, cọ
vào mạn xuồng róc rách. Gió lướt trên
mặt sông lạnh ngắt. Bốn bề vắng lặng,
yên ngủ, chỉ còn tiếng nhà máy xay chạy
đêm rì rầm. Tùng ngồi bắt mấy con trùn
trong lon ra chặt khúc, Tâm móc vào lưỡi câu.
Nhợ mới được nhúng sắn, săn cón.
Nước chảy quá mạnh, những cục đá dằn
đáy làm chúi mũi xuồng, lái nhổng lên,
dạt qua dạt lại mỗi lần Tâm phăng tới một
lưỡi câu. Tâm móc vào bửng xuồng và
lấy chân đè xuống. Ban chiều nó phải mất
cả tiếng đồng hồ mới giăng được
đường câu từ bên này qua bên kia bờ.
Khúc sông có hang cá ngát và một gốc cây,
câu sẽ được nhiều cá nhưng nước
lớn, dây câu dễ bị mắc gốc lắm. Lần
trước thăm được hai con cá lăng lớn.
Lần này ít quá, thỉnh thoảng Tâm mới bỏ
vô khoang một con cá chốt hay con cá lù đù.
Lưỡi nào cũng hết mồi. Dây câu tẻ
nước re re. Rác rưới, lá lú mắc vô
dầy đặc. Tâm vừa móc mồi vừa gỡ rác,
thỉnh thoảng nắm dây câu búng "rẹt" cho trôi
đi có vẻ rất rành nghề. Sáng mai về chắc
ông nội Tâm thích lắm và con Yến phải khen
bọn Tâm, Tùng. Ba của Tâm đi lính lâu
lâu mới về thăm một lần. Nhà ông nội
Tâm có cổng đẹp lắm, làm bằng xi măng,
có khắc chữ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
và mấy chữ "an-nam."
- Tùng, gỡ phụ tao coi...
Cái gốc bập lá nước thật to, tàu lá còn
xanh mắc cứng vào dây câu. Tùng vạch từng
sóng lá cho lách qua dây. Những con rạm chạy
hụp xuống nước. Tùng thoáng thấy một
khuôn mặt đen xì và một ánh mã tấu
sáng lóe lên. Dây câu đứt phựt. Tâm
đang nắm dây câu mất đà bị giựt rơi
tòm xuống sông. Bụi lá trôi đi phăng
phăng. Xuồng chao đi, chao lại, trôi dạt giữa
dòng. Tùng chới với nhảy vội lại nắm
cây dầm khuấy nhè nhẹ. Tùng quay lại nhìn
bụi lá, lo sợ. Bóng đêm vẫn tràn
đầy. Ánh đèn lồng chiếu xuống dòng
sông lấp lánh sóng vàng nhạt.
Một lúc lâu không thấy bóng dáng Tâm, Tùng
hốt hoảng. Một ý nghĩ lóe lên, Tùng bơi
nhanh lại gốc bần nắm dây câu phăng đi.
Từng cục đá dằn đáy, những con cá mắc
câu giãy đành đạch. Tùng không thèm
gỡ nữa. Bỗng nhiên,
đùng... đùng... chát... ầm... những loạt
đạn đua nhau nổ ròn tan. Ánh đèn pha
quét lên thật sáng và lửa đạn tiếp tục
tuôn vào đồn. Bóng người thấp thoáng,
ngã gục và tiếng hô xung phong vang rền. Bàn tay
Tùng vừa đến mút dây câu. Một mảng
áo sọc lớn còn dính vào hai lưỡi câu
sắc. Ầm... lửa đỏ rực cả một góc
trời, bay tóe lên không. Nhịp cầu thứ hai
gãy gập xuống. Những họng đại liên thay
nhau nổ, hỏa châu bốc cháy và đồn cũng
cháy theo. Cầu sập rồi. Tùng thấy rõ
những thanh sắt cong queo và đà cây gãy vụn.
Chừng nào ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng
xuống biển thì ông mới về
. Tùng hoa mắt
rụng rời, đưa tay lên vuốt mặt. Nước
sông đọng trên môi Tùng mằn
mặn... Tạch... tạch... tạch... đạn rơi
lõm bõm quanh xuồng. Tùng cúi mọp xuống khoang,
quên hẳn Tâm, người bạn đang đắm chìm
trong dòng sông hiền hòa. Xuồng âm thầm trôi
theo dòng nước
...
Bài Trước
Trang Chính
Bài Kế Tiếp