Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


-----------------------------------------------------------------------

M I Ệ T - V Ư Ờ N
Internet Magazine
bán nguyệt san văn học, nghệ thuật, nhân bản
ra ngày 1 và 15 mỗi tháng

chủ nhiệm: Hồng Lan
chủ bút: Nguyễn Tấn Hưng
cộng tác:
các cây viết miệt vườn và thân hữu

Home Page: http://saigonline.com/mietvuon/
Email: mietvuon@saigonline.com

Số 013, Ngày 01 Tháng 03, 2000

-----------------------------------------------------------------------

TRONG SỐ NÀY:

THƠ VĂN

01. Phượng Hồng -- thơ Phương Triều
02. Nhớ Như Lá Rụng... -- thơ Hà Huyền Chi
03. Xóm Bình Hòa -- truyện Tiểu Thu
04. Cười Lên Nhé -- thơ Thơ Thơ
05. Kho Tàng Trên Lá -- thơ Vũ Thi An
06. Bên Kia Sông -- truyện Trần Long Hồ
07. Nắng Lên -- thơ Hồng Lan
08. Cám Ơn Người, Cám Ơn Ðời -- thơ Nguyễn Tấn Hưng

VĂN HỌC

09. Nguyên Tổ Hai Giòng Họ Lý... -- biên khảo Trần Ðại-Sỹ

LINH TINH

10. Thư tín -- sổ tay Miệt Vườn

-----------------------------------------------------------------------
THƠ VĂN
-----------------------------------------------------------------------

01. Phượng Hồng

by Phương Triều
phtrieu@aol.com

Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng!
Bỏ trường, bỏ lớp, bỏ dòng sông
Từ em vội bước theo chồng
Tôi chiều lăng tẩm ngóng trông Phượng Hồng!

Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng!
Một lần đi, em về không?
Ngậm ngùi xác phượng, nỗi lòng khuôn viên
Chiều mưa, tóc rối ưu phiền
Em gương lược tới những miền phôi pha...

Phượng Hồng! Phượng Hồng! Phượng Hồng!
Ta vào lớp học mùa đông
Trong ngăn bàn cũ, phượng hồng đã khô
Tay em lần đó trầm trồ
Vẽ trong lưu bút nấm mồ phượng rơi!

Bao lần nhớ phượng bồi hồi
Khuôn viên nay đã vắng người Văn Khoa
Tóc thề đã vấn kiêu sa
Chiều qua trường cũ, mưa nhòa như sương...

-----------------------------------------------------------------------

02. Nhớ Như Lá Rụng Trong Hồn Rất Nhẹ

by Hà Huyền Chi
hahuyenchi@aol.com

Vàng, vàng rực giữa nền xanh ngút mắt
Tình như Thu chín héo một phương đời
Nhớ không xuể những chương buồn héo hắt
Ta âm thầm soi ngắm mấy trang vui

Em như gió cuốn hồn ta từng lúc
Em là mưa làm suối hạnh sông oan
Ta nhiều lúc trầm luân nơi đáy ngục
Cũng đôi phen bay múa giữa thiên đàng

Em có lý ở tận cùng phi lý
Em dễ thương dù nhăn héo nhăn tươi
Ngỡ gỗ đá mà nồng nàn tri kỷ
Cũng đôi khi người quên nói tiếng người

Nhớ thê thảm tiếng cười em xanh trẻ
Em đâu rồi, heo hút lạnh mình ta?
Nhớ như lá rụng trong hồn rất nhẹ
Mà sóng buồn loang động tới bao la.

-----------------------------------------------------------------------

03. Xóm Bình Hòa

by Tiểu Thu
tieuthu@sprint.ca

Khi gia đình Mai dọn về Ngã Tư Bình Hòa thì nhỏ vừa
lên tám. Anh Tú hai mươi và chị Thơ mười tám, đang
mang bầu thằng Phương. Trước đó hai năm, chỉ có một
mình ba lên Sài Gòn ở tạm nhà chú Sáu Tuấn bên Thị
Nghè. Ba giữ chân kế toán trưởng cho một viện bào
chế thuốc tây vào hạng lớn nhứt Sài Gòn thuở đó.
Ông chủ người Pháp quanh năm ở tuốt bên Kinh đô ánh
sáng. Năm thì mười hoạ mới giá lâm một lần để
xem nhân viên mần ăn ra răng? Mọi việc đều giao cho
một quản lý người Việt. Tuy vậy cái màn "vắng chủ
nhà gà mọc đuôi tôm" cũng có lúc xảy ra. Trong đám
phụ tá của ba có chú Thạnh, nhỏ hơn ba 5, 6 tuổi nhưng
số nhi đồng lại đông gấp đôi, nên nhà chú thường
xuyên thiếu trước hụt sau. Có lần thiếm vô nhà
thương mổ ruột dư, túng quá chú đành vô bureau của
ba, gãi đầu gãi tai một hồi mới ấp úng:

- Anh Thăng, vợ em nằm nhà thương Grall... (thở dài!),
em cũng biết là làm phiền anh lắm, nhưng mà... (chắc
lưỡi...), em hết biết tính sao?

Ba Mai không nói không rằng, rút đại một cái hoá đơn
của một nhà thuốc nào đó còn thiếu tiền, đưa cho
chú Thạnh:

- Nè, đi đòi đi. Rồi sau ráng trả lại cho đàng hoàng
nghe không.

Chú Thạnh hởn hở cầm cái hóa đơn cứu mạng, miệng
cám ơn rối rít. Ba thích giúp đỡ mọi người nên
được các đồng nghiệp yêu mến. Thỉnh thoảng mấy
chú kéo đến nhà Mai nhậu nhẹt, cả anh chàng dược sĩ
trẻ người Pháp từ Paris qua.

Sau này, thấy mỗi lần má dẫn Mai lên Sài Gòn thăm ba
vất vả quá, vì phải đi tàu từ Cao Lãnh qua Sa Ðéc.
Không muốn phiền người quen nên má và Mai phải ngủ
qua đêm trên mui tàu, sáng hôm sau mới lấy xe đò lên
Sài Gòn. Nội qua cái bắc Mỹ Thuận cũng mất mấy tiếng
đồng hồ. Thành thử quãng đường chỉ dài độ 140
cây số mà phải đi cả ngày mới tới. Má còn cụ bị
lủ khủ nào gạo, khô, gà vịt, trái cây... Lần nào cũng
bị lơ xe cằn nhằn. Ðó là chưa kể dưới quê tình
hình rất lộn xộn. Lính Quốc gia. Lính Hòa Hão. Việt
Minh. Người dân ở giữa giống như trái độn. Ðó là
chưa kể nạn cướp tới thăm. Lúc đó má và chị Thơ
chở một ghe xoài qua bán bên tỉnh Bến Tre, nên Mai phải
qua ở với ông bà nội.

Ðêm đó nhằm rằm nên trăng sáng vằng vặc. Mai ngủ
chung với bà nội ở gian giữa. Chị Yến con cô Hai ngủ
trên bộ ván gõ cạnh cửa sổ ngó ra vườn. Không hiểu
cao hứng gì mà đêm đó chị gác một chưn lên thành
cửa sổ. Nửa đêm giựt mình thức dậy vì có cảm
giác hai cánh cửa sổ nhúc nhích. Chị ngồi bật dậy
ngó qua khe cửa thấy một người mặc đồ đen, vai đeo
súng đang lấy sức kéo mạnh cho cánh cửa bật ra. Chị
la lên:

- Cướp! Cướp! Cậu bảy ơi, ăn cướp!

Cả nhà tỉnh ngủ tức khắc. Bà nội kéo Mai chun xuống
gầm giường, con nhỏ run như cầy sấy. Bà mò xuống
bếp lấy cái mâm thau (hay nồi đồng gì đó Mai cũng
quên mất), chun trở vô gầm giường, tay vừa gõ xèng
xèng, miệng niệm Phật lia lịa (ông nội có chỗ bí
mật để ngủ mỗi đêm nên không khi nào lên tiếng).
Nghe tiếng báo động của bà nội, cả xóm kẻ gõ nồi,
người gõ mâm, người khác lại gõ mõ - chị Yến gan
lì hết sức, vừa chạy vòng vòng vừa ngó qua khe cửa
(trong nhà tối, bên ngòai trăng sáng như ban ngày), mỗi
lần thấy bóng một tên cướp (có khoảng 3 tên, đi
xung quanh nhà, gặp cửa nào cũng giựt thử, nhưng cửa
nhà ông nội rất chắc chắn) chị lại thét lên (chắc
để cướp tinh thần địch):

- Nó nè cậu bảy ơi. Chĩa đâu đưa đây con đâm nó (!??)

Chú Bảy cũng phụ họa:

- Ðâu đâu. Ðể đó cho tao!

Lính ở đồn Mỹ An bên kia sông, xéo xéo nhà ông nội
nghe tiếng xèng xèng, cóc cóc bên Tân An liền bắn qua
mấy phát súng thị uy. Bọn cướp thấy không xong bèn rút
lui có trật tự... Mờ sáng hôm sau, vị hôn phu của chị
Yến (ở tuốt bên xã Mỹ Ngãi, cách Tân An một cánh
đồng rộng khoảng 2 cây số rưỡi. Ðứng ở lộ mới
bên này nhìn xuyên qua cánh đồng thấy thấp thoáng vài
mái nhà sau hàng cây bần, cây gáo) lật đật qua vần
an người yêu. Chị cười lỏn lẻn hỏi sao biết, thì anh
Dương cũng rất thiệt thà thổ lộ rằng, tối hôm qua,
lẫn trong tiếng xèng xèng, cóc cóc, anh còn nghe tiếng
cướp cướp được phát ra từ cái giọng Soprano "vượt
bức tường âm thanh" của chị, bay qua tuốt bên nhà của
anh. Vì vậy anh thấp thỏm đợi hừng sáng là qua "thăm
dân cho biết sự tình." Thấy chị bình an vô sự anh rất
mừng(Mai không biết khi khám phá ra cô vợ tương lai có
cái giọng "cao hơn người" này - chị Yến vốn cao chưa
tới thước rưỡi - anh Dương có lo sợ cho hai cái màng
nhĩ của anh không nữa?!). Cứ vài tháng cướp lại đến
hỏi thăm sức khỏe một lần. Tuy không tổn thất vật
chất, nhưng tinh thần lại thiệt hại trầm trọng. Ba thấy
vậy kêu cả nhà lên ở luôn trên Sài Gòn.

Ba má mua lại một căn nhà mái tôn, vách bổ kho nho nhỏ
trên đường Lê Quang Ðịnh (sau này buôn bán khá, ba má
mới nới rộng thêm ra). Nhà cách ngã tư độ trăm thước
đi về hướng chợ Cây Quéo. Cũng nhờ bác Ba Ðại của
Mai an cư lạc nghiệp tại xóm này hơn 20 năm rồi. Bác có
8 người con - 5 trai, 3 gái. Lớn nhứt là anh Hai Jean. Nhưng
bị mọi người "nhất trí" kêu là Răng (gia đình Bác dân
Pháp nên mang tên tây ráo trọi). Lúc ông Diệm lên chấp
chánh bắt phải đổi lại quốc tịch Việt. Không hiểu do
óc khôi hài cao độ hay vì lý do nào khác, anh lấy tên
là Nguyễn Văn Vàng. Từ đó tên anh trở thành Hai Răng
Vàng, tuy cả hai hàm, kiếm bảy ngày cũng không ra 1 cái
răng vàng nào hết. Anh giống bác Ba trai, đẹp như tài
tử Mỹ, cái miệng lại trơn như thoa mỡ. Mỗi lần anh
ghé thăm là cả nhà cười nghiêng cười ngửa. Ông bà
gìa vợ quý anh như vàng. Hai ông bà trước sau chỉ có
hai cô con gái rượu. Chị Tâm và chị Nguyệt. Anh lấy cô
em là chị Nguyệt. Tin tưởng tuyệt đối nơi chàng rể
quý, nên năm ba bữa bà má vợ lại nhờ:

- Răng à, chở dùm chị hai mày vô chợ Lớn khui hụi cho
má. Bữa nay má ể mình đi hổng được!

- Răng à, chở chị hai con vô nhà bà Tôn đòi tiền dùm
má. Trời Phật ngó xuống mà coi. Thiếu có năm ngàn mà
đi mòn đường cũng hổng chịu trả. Ứ hự!!

Cho tới một hôm chị Tâm khăn gói ra đi không một lời
từ biệt cha mẹ già. Tra khảo riết, cuối cùng anh Răng
cũng phải thú thiệt là đem chị Tâm dấu một chỗ chờ
ngày đập bầu. (Vì ngoài những chuyện bà má vợ nhờ
làm, anh còn thày lay làm luôn những chuyện bả không hề
nhờ mới là khổ!!). Bà già lăn ra sàn gạch khóc lóc
thảm thiết, nhưng cuối cùng cũng đành chấp nhận
thương đau!! Từ đó hai chị em không thèm nhìn mặt
nhau nữa, nhưng cái mục sản xuất nhi đồng thì không bà
nào chịu thua bà nào. Cứ chị Tâm một đứa thì chị
Nguyệt một đứa (thiệt là công bằng hết chỗ nói!).
Nhà bác ba Ðại ở ngay mặt đường cái. Kế đó là quán
cà phê, hủ tíu của vợ chồng chú ba Lâm. Hai ông bà
không con, nuôi một con chó vàng khôn hết sức. Không
hiểu sao một bữa cao hứng, cẩu ta chạy băng qua đường
(chắc thấy một bóng hồng nào đó đang nhởn nhơ bên kia
chăng? Vì chỉ có tình yêu mới khiến cho muôn loài đâm
ra mù quáng! ) bị xe xích lô máy cán chết tươi. Thiếm
ba khóc quá chừng vì thương chú cẩu này như con... Nhà
Mai kế bên nhưng thụt sâu vô trong. Khoảng sân trước
tiếp giáp với quán cà phê. Mỗi buổi sáng, Mai chỉ cầm
cái ly bước vô sau bếp chú ba Lâm là có cà phê sữa
nóng hổi đem về cho ba ăn sáng trước khi đi làm. Gần
đường, sát vách quán má chất đống củi khô bán cùng
xóm, vì thời đó nhà nào cũng còn chụm củi hoặc than.
Mỗi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần ở chiếc
bàn tròn trước sân. Nói chuyện tầm phào hoặc nghe
ké mấy tuồng hát bội từ cái ra dô bên quán cà phê.
Vì vậy ngay từ nhỏ, Mai đã thuộc lòng chuyện Bà Chung
Vô Diệm với lão vua dê xồm Tề Tuyên Vương. Mỗi lần
nghe cái giọng khẩn cầu thảm thiết của lão khi giặc
tràn tới biên cương:

- Hậu ơi Hậu. Hậu ráng cứu trẫm chuyến này. Trẫm
thề sẽ...v.v. và v.v. để rồi sau đó, khi bà dẹp
xong giặc trở về, lão ta lại nghe lời mấy con Thứ
phi xí xọn dèm xiểm, kiếm mọi cách tống bà vô lãnh
cung là Mai lại tức cành hông.

Có lần hỏi má:

- Má à, sao bà Chung Vô Diệm giỏi võ như vậy, mà lúc
bị đày vô lãnh cung, bả hổng chém cho ông vua một nhát
để ổng chết phứt cho rồi?

Chị Thơ háy một cái lạnh lùng luôn:

- Vậy cũng nói! giết "thằng chả" chết rồi là hết
chuyện, lấy đâu cho mày nghe mỗi tối?

Má cũng nói:

- Ối, chuyện người ta đặt ra mà, hơi đâu thắc mắc!

Vậy chớ Mai cũng cứ ấm ức! Cái bà Chung Vô Diệm
ngoài chiến trường thì oai phong lẫm liệt, trước mặt
lão vua già lại ỉu xìu như cái bánh tráng ướt! Lão chỉ
cần "thở" ra vài lời đường mật là bà ta lại hồ
hỡi xông pha điều binh khiển tướng. Có lần vác cái
bầu gần ngày sanh ra trận,, bị vây khổn, bèn đẻ rớt
luôn một hoàng tử giữa trận tiền. Trong khi đó lão vua
già phây phây ở nhà ôm ấp mấy con Thứ Phi cà chớn!
Bà Chung Vô Diệm hiền chớ Mai là chém ráo trọi. Từ lão
dâm tặc cho tối mấy con vợ bé cà chua (ủa, hổng ngờ
sao hồi đó miệng còn hôi sữa mà Mai đã "bà chằng"
dữ vậy há? Chớ sau này lớn lên Mai hiền khô hà. Có
bị ông xã ăn hiếp cũng chỉ dám áp dụng đòn "chiến
tranh lạnh" (như Nga với Mỹ hồi nẩm), hoặc "bất hợp
tác chặt chẽ" với phe địch mà thôi. Ðâu bao giờ dám
dùng "ton" La hoặc "ton" Ré để cãi tay đôi?) Vậy mới
biết thân phận đàn bà bao giờ cũng bị thiệt thòi!!

Sát vách nhà Mai là nhà cô Bảy Huệ. Lúc gia đình Mai tới
thì bên nhà cô có bà mẹ độ 60 tuổi, tóc hoa râm, rất
đẹp lão. Cô bảy độ chừng 25, 26 tuổi và thằng Bảo là
con người anh ruột của cô. Nghe bác Ba gái nói ông này
theo lính Bình Xuyên đóng bên kia cầu chữ Y. Nó bằng
tuổi Mai mà sáng nào cũng ngồi trước hàng ba khóc nhèo
nhẹo cho tới khi bà Hai Cần (bà nội nó) xì tiền ra cu
cậu mới chịu nín. Ba cấm không cho Mai chơi với nó. Ông
nói ba nó là giặc Bình Xuyên. Mai thấy thiệt là vô lý.
Ba nó theo Bình Xuyên có phải tại nó xúi đâu mà bắt
lỗi nó? Vì vậy sau giờ học, Mai hay lén qua sân nhà cô
Bảy Huệ để chơi nhảy lò cò với thằng Bảo (trường
Mai ở gần nhà trong khi ba đi làm tuốt ngoài đường
Catinat), nhưng phải canh chừng, hễ thấy bóng chiếc Alcion
trờ tới trước cửa nhà nhỏ Kim Chi (cách nhà Mai 2 căn)
là phải lẹ lẹ nhảy phóc qua cái lan can mà về tức thì,
nếu bị bắt tại trận tối đó sẽ bị phạt quỳ...

Thật ra cho tới bây giờ, nghĩ lại tình cảnh cô Bảy Huệ
lúc bấy giờ, Mai không biết nên thương hay nên trách?
Cô Bảy người tầm thước, nước da bánh mật, miệng
hơi móm duyên, cười khoe hai hàm răng nhỏ rức. Không
phải sắc nước hương trời, nhưng là một nhan sắc
hiền diệu, ưa nhìn. Cô nói năng lại rất nhỏ nhẹ,
chừng mực. Sáng nào Mai cũng thấy cô mặc bộ đồ nữ
quân nhân, đúng giờ một chiếc xe nhà binh tới ngừng
trước ngõ, rước cô đi làm, chiều cũng chiếc xe nhà
binh đó đưa về. Ngoài giờ làm việc Mai chưa thấy cô
đi chơi với bạn trai bao giờ, tuy rằng thời đó, ở
tuổi cô, có thể nói là hơi... quá lứa! Mai không biết
lương hướng của cô ra sao, chỉ biết ngoài bà Hai Cần
(mắc bịnh ghiền đánh tứ sắc) cô phải cưu mang thêm
thằng Bảo, vì má nó mất sớm, ba nó đi lính Bình Xuyên
nên giao đứt luôn cho má con cô nuôịThấy nó côi cút,
nên đôi khi bà Hai cưng chiều quá đáng. (Sau khi quân
chính phủ dẹp tan đám Bình Xuyên, ba thằng Bảo bị bắt
ở tù). Vì vậy ngoài má con cô Bảy Huệ và thằng Bảo,
nhà không bao giờ có bóng đàn ông... Vậy mà một bữa
đi học về, mới tới đầu ngõ Mai thấy một người
đàn ông trọng tuổi từ trong nhà cô Bảy đi ra. Dáng
người hơi thấp, mập mạp, trắng trẻo, tóc hoa râm.
Nhìn ông, người ta đoán ngay được là dân có tiền.
Tò mò Mai đứng lại nhìn. Ra tới cổng, ông ta còn dòm
bên trái, bên phải như kiếm ai rồi mới đeo cập kiến
đen, bước hối hả ra đường, đi về hướng ngã Tư
Bình Hòa. Mai vô nhà gặp chị Thơ đang nấu cơm chiều,
nhỏ kể luôn:

- Em mới thấy có một "ông già" từ nhà cô Bảy Huệ
đi ra.

Chị Thơ thì thầm (vì bếp nhà Mai sát vách nhà cô Bảy):

- Ổng là "mèo" của cô Bảy đó.

Mai nhảy dựng như bị phỏng lửa:

- Cái gì? Mèo của cô Bảy?

Chị Thơ cú lên đầu Mai một cái đau điếng:

- Nhỏ họng chút coi. Mày la om sòm bên kia "họ" nghe được
làm sao?

Mai vừa vò đầu vừa nhăn nhó:

- Chị có lộn hông đó. Rủi ổng là "mèo" của bà Hai...

Chị Thơ xì một cái:

- Mày biết gì mà nói. Hôm kia bà Hai qua đây "tâm sự,"
khóc lóc một trận quá trời với má đây nè. Bả nói
tại nghèo, lại cần tiền lo cho ba thằng Bảo ra khỏi tù,
nên có người bà con làm mai cho cô Bảy làm bé ông này,
cổ đành ưng thuận. Ổng có vợ mà gần 20 năm nay bả
cứ trơ trơ, chẳng chịu chửa đẻ cho ổng đứa con nào
hết trơn. Mà ổng thì giàu quá trời. Chủ một hãng
taxi, tới mấy chục chìếc cho mướn lận đó. Ổng ham
con lắm nên chịu bảo bọc hết gia đình cô Bảy. Hổm nay
tao thấy ổng vô đây mấy lần rồi đó. Nghe đâu ổng
gần năm mươi tuổi, nhưng nhờ giàu có tẩm bổ nhiều
thành thử còn "chiến" lắm. Ủa mà mày hổng để ý lúc
này cô Bảy đâu còn đi làm nữa.

Ờ há, cả tháng nay Mai không thấy chiếc xe nhà binh mỗi
sáng ngừng rước cô Bảy như thường lệ. Nhưng ai đâu
để ý "chiện" người lớn? Bữa nay chị Thơ nhắc Mai
mới nhớ ra. Rồi sau những lần gặp gỡ lén lút tại
nhà cô Bảy (thường ông ta đến và đi đều trong giờ
làm việc, chắc để bà vợ khỏi nghi, đậu xe xa xa rồi
mới tà tà đi bộ đến cái "tổ oan ương." Mỗi lần
người khách quý này tới là bà Hai Cần phải kiếm cớ,
khi thì xách giỏ đi tuốt xuống chợ Bà Chiểu, lúc lại
dọt qua nhà Mai ngồi tán dóc với má ít lâu cho "đôi
trẻ" mần việc - Rất nghiêm chỉnh, vì đối với ổng,
thì giờ thật sự là tiền bạc!) - kết quả thấy rõ
là cô Bảy Huệ mang bầu. Ông Kiện (sau này Mai mới biết
ổng tên Kiện) mừng hết lớn. Có lẽ vì vậy mà đâm
ra bất cẩn. Một ngày đẹp trời đi học về, Mai thấy
một bà đứng tuổi - cỡ má - phốp pháp, mặt mày đầy
son phấn đứng trước cổng nhà cô Bảy (đương nhiên là
được cài móc phía trong rất kỹ để phòng hờ...). Bàn
tay có những móng sơn đỏ chót, đang xỉa xói vô nhà,
miệng chửi dòn tan. Lối xóm bu lại coi đông nghẹt. Bả
phân bua:

- Từ mấy tháng nay tui biết là thằng chả có mèo. Theo
dõi riết bây giờ mới bắt được tại trận. Tui biết
chắc là tụi nó đương hú hí với nhau ở trỏng.

Rồi bả nghiến răng trèo trẹo rít lên:

- Trời ơi thằng gìa dịch. Ðầu hai thứ tóc rồi mà còn
ngu (?) đem tiền cho "con ngựa" đáng tuổi con nó ăn. Trời
ơi là trời! Tui có lầm lỗi gì đâu mà bị đối xử
tàn nhẫn như vầy? Ðồ ác nhơn thất đức!!(Tội
nghiệp, bả quên là trong xã hội Việt Nam, vợ chồng
lấy nhau không con cũng là một vấn đề trọng đại. Có
được bao nhiêu người đàn ông rộng lượng? Hay chụp
ngay cái cớ đó để lập phòng nhì, phòng ba?!).

Réo đôi gian phu dâm phụ ra chửi tơi bời hoa lá mà thấy
trong nhà vẫn áng binh bất động, bả đâm mất hứng
đành lui binh, sau khi ném lại một câu đe dọa xanh dờn:

- Rồi tụi bây sẽ biết tay tao!

Nghe nói chiếc Peugeot 203 của ổng đậu tuốt ngoài ngã
tư, gần rạp Cao Ðồng Hưng bị bà Hoạn Thư đập tan tành
hết mấy cái kiếng (không bị đốt như chồng cô Hườn
là may rồi, nhằm nhò gì ba cái kiếng xe!).

Sau đó, không biết ổng về điều đình với bà vợ ra
sao mà không thấy bả trở lại đánh ghen cô Bảy Huệ nữa.
Thằng Toàn ra đời trong sự vui mừng tột cùng của ông
Kiện. Ðầy tháng của nó, cô Bảy cúng nguyên một con heo
quay to tướng. Bà Hai đem biếu hàng xóm mỗi nhà một
phần ăn lấy thảo. Mai còn nhớ lúc nó được đâu năm,
sáu tháng gì đó, ông Kiện bị tai nạn gẫy một chưn
phải nằm nhà thương. Vậy mà ngày nào ổng cũng bắt taxi
chở tới đậu trước cổng nhà, cô Bảy Huệ ẵm thằng
Tòan ra cho ổng nựng nịu, hun hít một hồi rồi mới
chịu quay trở vô nhà thương. Thấy đống đồ chơi của
nó mà bắt thèm. Chị Thơ sanh thằng Phương trước nó 5
tháng, mà tội nghiệp quanh đi quẩn lại chỉ có 2, 3 món
đồ chơi quèn. Bù lại nó là đứa cháu đầu nên được
cả nhà cưng như cưng trứng. Nó lại đẹp quá thể nên ba
lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng móc... hình thằng
cháu ngoại ra khoe!

Ngay phía sau hè nhà cô Bảy là gia đình bác Hân, người
Bắc, mới di cư vào Nam được gần năm nay. Bác trai độ
40 nhưng gầy còm, mặt mũi nhăn nheo như trái táo khô,
nên thấy như ngoài ngoài 50. (Con trai lớn nhứt mới 16
và đứa út mới 7 tuổi). Cả nhà từ lớn tới nhỏ (thêm
hai người thợ) suốt ngày đánh vẹc ni đờn. Ðủ thứ:
guitare, mandoline, violon. Chỉ đánh vẹc ni thôi, xong rồi
đem giao chỗ khác. Vì vậy hễ mở cửa sau là nghe "nồng
nàn" mùi vẹc ni, bắt nhức cái đầu! Mai không hiểu sao
cả nhà bác Hân có thể hít thở cái mùi khó ngửi này
quanh năm ngày tháng? Chị Thơ nói thì quen lỗ mũi chớ
sao. Giống như bác ba gái nhà mình ghiền dầu cù là, lúc
nào cũng thủ một chai trong túi áo. Bác Hân trai mắc bịnh
suyển. Ðôi khi đang làm, bác ngưng tay, vói lấy cái điếu
cầy rít thuốc lào ròng rọc, sau đó lại nổi cơn ho sù
sụ, cái lưng cong như con tôm! Bác Hân gái hiền, cũng ốm
o, hàm răng trên hô, chìa ra khỏi cặp môi dày lúc nào cũng
sẵn sàng toét ra cười. Tội nghiệp bác, tối ngày chúi
đầu trong bếp nấu ăn cho chồng con và đám thợ.

Cạnh bác Hân (tức ngay sau hè nhà Mai, chỉ cách cái sân
rộng độ 3 thước) là nhà bà cụ Hiền. Cụ cũng khoảng
sáu mươi (bây giờ gọi những người sáu mươi bằng cụ
dám bị vác chiếu ra tòa vì tội... phỉ báng lắm à!),
người nhỏ bé. Tóc còn đen mượt, được vấn trong chiếc
khăn nhung đen. Lần đầu, Mai giựt mình khi thấy cụ cười
khoe hai hàm răng đen thủi đen thui. Mai tưởng cụ bị hư răng,
nhưng sau má nói tại cụ nhuộm. Theo phong tục ngoài Bắc,
đàn bà phải răng đen mới đẹp. Hổng giống "người Việt"
mình, răng trắng chừng nào đẹp chừng nấy, má nói. Cụ
có một người con duy nhứt là cô Lành, trắng trẻo, mảnh
khảnh, trái với ông chồng tên Thịnh, mang lon trung sĩ, nghe
đâu lớn hơn cô cả một con giáp. Chú Thịnh to lớn, mặc
đồ nhà binh đầy vẻ oai vệ. Có lần cụ than với má:

- Khổ lắm bà ơi. Thân tôi góa bụa, lại chỉ có một mụn
con gái, không ở với nó thì ở với ai? Ông rể thì suốt
ngày lầm lầm, lì lì không nói một lời, nên mình cũng
chẳng biết nó thương hay nó ghét. Thôi thì cứ cắn răng
mà chịu!!

Nói xong cụ rơm rớm nước mắt. Ðều đều, sáng sớm cụ
bưng một thúng xôi bắp nóng hổi (người Bắc gọi là xôi
lúa. Có lần Mai ngây thơ hỏi: Cụ ơi, lúa làm sao mà nấu
thành xôi được hả cụ? Cụ cười khoe hàm răng đen: À,
thì từ xưa người ta vẫn gọi thế!), đi một vòng tuốt
vô xóm trong độ hai tiếng đồng hồ là hết nhẵn.

Nhà cụ còn một nhân vật mà Mai rất thích là chú Phong,
em họ chú Thịnh. Chú Phong thuộc loại bạch diện thư sinh,
tuổi chỉ độ ba mươi, ăn nói duyên dáng. Ðôi khi chú qua
nhà Mai chơi, gặp bữa cơm, má mời:

- Mời chú dùng ba hột cơm với gia đình tui cho vui.

Chú giả bộ sửng sốt:

- Trời, bà chị chỉ mời em đúng có ba hột cơm thôi à?
Chưa đủ cho em nhét kẽ răng nữa là!!

Cả nhà ai cũng cười má, vì tuy ở Sai Gòn mấy năm rồi
mà vẫn không bỏ được cái câu "ăn ba hột cơm cho chắc
bụng." Ba nói ba hột cơm của má bây chắc là ba hột cơm
Thạch Sanh! Cụ Hiền kể cho má nghe hồi còn ngoài Bắc,
gia đình chú Phong ở dưới quê. Chú bị tảo hôn nên mới
lên mười đã bị nhà cưới cho một cô vợ tới hai mươi
cái xuân xanh. Lúc hết tiểu học, chú phải lên Hà Nội ở
trọ để học tiếp. Mỗi lần về quê chơi trở lên, cô
vợ có phận sự phải theo hộ tống ông chồng hỉ mũi
chưa sạch này. Có điều rất mất mặt bầu cua là chú đi
vé trẻ con và cô vợ thì phải mua vé người lớn. Khỏi
nói, với làn sóng di cư năm 54, chú rất hồ hỡi đơn
ca bản: Tung cánh chim tìm về tổ... khác. Chú âm thầm theo
gia đình chú Thịnh xuống Hải Phòng lên tầu há mồm đi
một lèo vô Nam.

Khít vách nhà cô Bảy Huệ là gia đình cô Tư Anh (em bà
con của thiếm Ba Lâm, chủ tiệm cà phê). Cô Tư ốm yếu
xanh xao, lúc nào cũng buồn rười rượi! Chớ vui sao
được mà vui? Mới ba mươi hai cái xuân xanh mà cô đã
phải "quản lý" một đàn con bảy đứa! Con Mỹ Linh lớn
nhứt lên mười và thằng cu út mới biết bò. Ông chồng
lính kín của cô tối ngày say sưa lại mắc chứng bịnh
ghen kinh niên. Ði làm thì thôi, về nhà là ổng kiếm
chuyện gây gỗ, đánh đập cô rất tàn nhẫn. Tiếng la
hét, khóc lóc từ nhà cô vọng ra hà rầm. Mới đầu chú
thiếm ba Ba Lâm còn nóng ruột em, chạy qua can gián, nhưng
bị ông em rể trời đánh này "xực" luôn:

- Bộ anh chị là đồng lõa của con vợ tui hay sao mà xía
vô? Muốn ở tù rục xương hả?

Chú thiếm đành phó mặc cô em với định mệnh đau thương!
Mai có gặp cái thằng cha ác ôn đó vài lần, mà lần nào
cũng thấy cặp mắt (chắc là đỏ ngầu) của hằn dấu kỹ
sau cặp kiến đen, mặt mũi sần sùi coi rất dữ dằn,
sặc mùi... lính kín!

Giữa tiệm cà phê chú Ba Lâm và nhà bác ba Ðại là con
hẻm chạy ngoằn ngoèo vô rất sâu trong xóm (sở dĩ nó
ngoằn ngoèo là vì bà con trong hẻm khi cất nhà không thèm
theo một nguyên tắc nào cả mà tùy hứng, lồi ra thụt vô
một cách "tự ro." Vì vậy mà tất cả càc con hẻm ở cái
đất Sài Gòn đều ngoằn ngoèo như những cái ruột gà!).
Phiá mặt đường, ngay góc tiệm cà phê là giang sơn của
bà Năm Hậu. Ðối với Mai lúc đó thì bà đã già lắm
rồi. Chiếc khăn rằn đỏ quanh năm trùm mái tóc bạc
trắng. Khuôn mặt và hai bàn tay nhăn nheo, đen sạm ví
suốt ngày dãi nắng, dầm mưa. Không chồng cũng chẳng
có con, bà thui thùi một mình trong căn nhà lá ngay phía
sau nhà bác Ba Ðại và sống nhờ vào cái sạp hàng nhỏ xíu
trước quán cô Ba Lâm. Cái sạp gỗ cao hơn mặt đường
độ hai tấc. Trên đó bày đủ thứ (mà trăm phần dầu
là nhằm vào các bà, các cô và các đấng... nhi đồng):
cóc (được gọt vỏ, tỉa ra từng cánh để xỏi cho lẹ),
ổi mân, chùm ruột, me, xoài sống... bên cạnh tô muối
ớt giã đỏ tươi và tô mấm ruốt để chấm những thứ
kể trên. Vài hũ đựng kẹo, thèo lèo cứt chuột, bánh in,
bánh tai heo... và cái món mà bà moi tiền tụi nhóc nhiều
nhứt là món khô mực nướng. Từng miếng khô cắt vuông
vức độ bốn ngón tay, được nướng trên lửa than (đựng
trong cái soong nhôm cũ). Lúc chín tới, bà để lên trên
một cái thớt me dày cộm, rồi dùng cái búa nhỏ đặp nhẹ
cho tới khi miếng khô mực tơi ra, sau đó mới phết lên
trên một lớp tương ớt mỏng (mới hồi tưởng lại đã
chảy nước miếng!). Tội nghiệp bà, bữa nào nắng ráo
thì khá, những hôm mưa dầm, chẳng có ma nào mua, lại còn
bị nước mưa tạt vô ướt nhẹp, phải dọn hàng về sớm.
Phần lớn, số tiền má cho Mai đều chạy tuốt vô túi bà
năm Hậu qua những trái cóc, ổi, khô mực nướng, phần
còn lại nộp mạng cho cái xe nước đá nhận trước nhà
con Bích Thủy (má không cho chơi với nhỏ này vì trên đầu
nó có nuôi khoảng... một triệu con chí! Chỉ cần vén
một nhánh tóc lên thôi, là cả một sư đoàn chí đực,
chí cái, chí mén rơi xuống ào ào như sao sa lá rụng! Về
sau nó phải cạo trọc đầu mới thanh toán nổi cái dám chí
khổng lồ đó. Vậy mà ở trường, thầy nào, cô nào cũng
cố gắng nhét cho bằng được vô đầu đám học trò vô
tội cái câu: ở đời có... chí thì nên! Hay có lẽ tại
má chưa từng nghe câu này nên mới cấm Mai không được
có chí? Hỡi ơi bà đâu có biết cái hậu quả tại hại
Mai phải gánh chịu là cho tới bây gìơ, Mai chẳng có một
ly ông cụ ý chí nào hết. Làm cái gì cũng bỏ dở nửa
chừng!!!)

Buổi tối, khi đèn đường bắt đầu bật sáng, không
biết từ đâu một chiếc xe mì được đẩy tới trấn
thủ ngay phiá trước nhà bác Ba Ðại, dưới tàn cây trứng
cá. Bao giờ cái tiếng tắc xịt, tắc xịt của hai thanh gỗ
cũng vang lên từ xa, trước khi bóng dáng chiếc xe mì
xuất hiện. Mùi thơm từ mấy thùng nước lèo xông lên
điếc mũi. Chiếc xe đẹp hết ý. Bên trên những thùng
nước lèo và dưới cái mái nho nhỏ che mưa nắng là một
giàn kiếng có bốn mặt. Một mặt được vẽ sự tích
Tề Thiên Ðại Thánh - Một mặt vẽ sự tích Tiết Ðinh
San cầu Phàn lê Huê và hai mặt nhỏ hai bên chỉ vẽ chim
chóc, hoa lá, tất cả đều tô mầu sắc rực rỡ. Chủ
nhân là chú Woòng, người dong dỏng cao, trạc độ ba mươi
ngoài, lúc nào cũng tươi cười, tay xóc mì lẹ như người
ta múa kiếm. Mỗi lần anh Hai Răng vô thăm bác Ba đều
được đám em út "queo - cơm" hết mình, vì mười lần
hết chín anh cho phép "xực" mì thả cửa.

Tới trễ hơn xe mì một chút là gánh cháo huyết của một
ông Tàu già. Mai không biết tuổi, nhưng thấy ông già lắm,
lại ớm yếu hom hem. Tuy vậy tiếng rao cháo... huyết... ết...
của ổng còn vang rất xa. Cho tới bây giờ, Mai chưa được
ăn lại một tô cháo huyết nào ngon như những tô cháo huyết
của Ông Tàu già ngày xửa ngày xưa. Những hạt gạo trắng
ngần, mở bung, đặc sánh lại với nhau. Những miếng huyết
màu đỏ sậm (không bao giờ vụn vỡ khi cháo bị khuấy lên)
mềm dịu trên đầu lưỡi. Cái kéo trong tay ông cắt xầm
xập những miếng dầu cháo quẩy vàng rợm, dòn tan nhanh
thoăn thoắt. Rắt chút tiêu, thêm chút hành lá đã có một
tô cháo huyết thơm ngon, béo ngậy dù chẳng có một miếng
thịt nào...

Sau này nghĩ lại Mai thấy thiệt hú vía. Vì ngoài hai cái
địa danh rất ư là bất lợi: ngã Ba Chú Ía và ngã Năm
Chuồng Chó, ba má lại chọn đúng cái ngã Tư Bình Hòa để
cư ngụ. Giống y như tên, cái xóm nhỏ của Mai thiệt là
hiền lành, dễ thương. Ngoài cái ông lính kín say sưa và
hay ghen ẩu kia, mọi người đối xử với nhau rất thân
tình (ngay cả cô Bảy Huệ, tuy mang tiếng làm bé ông Kiện
mà cả xóm cũng không ai nhìn cô bằng cặp mắt khinh khi rẻ
rúng). Mai không hề thấy chuyện trộm cướp xảy ra lần
nào. Khi cô út của Mai dọn nhà ra Nha Trang buôn bán, cô
nhường cái tiệm tạp hóa của cô lại cho má trông coi. Ba
má bán căn nhà ở Bình Hòa dọn về Bến Chương Dương,
gần nhà đèn Chợ quán. Mai không thích lắm, vì cái tiếng
u u từ nhà đèn phát ra rất là khó chịu. Má nói riết
rồi cũng quen. Tụi bây thử tưởng tượng những người
không nhà cửa ở dưới gầm cầu chữ Y, sát bên nhà đèn,
họ còn chịu được huống chi mình ở xa gần 2 cây số.

Thỉnh thoảng cả nhà trở về xóm cũ thăm bác Ba Ðại. Bác
gái "báo cáo": ông Kiện đã ly dị bà vợ, chia đôi số
taxi và bây giờ chánh thức ở luôn với cô Bảy Huệ. Ðể
đền đáp cái tình sâu nghĩa nặng này, Cô sanh thêm cho
ổng 2 nhóc tí nữa. Hèn chi đi ngang nhà cổ thấy đã lên
thêm một từng lầu. Thôi cũng mừng cho cổ. Bà cụ Hân theo
con rể đổi về miệt Hậu giang, mất liên lạc luôn (tuy có
lời đính ước giữa chị Thơ và cô Lành, cho đôi trẻ là
cu Phương với con bé Lan, sanh cùng lượt với cu Phương).
Cô Lành tốt sữa nên con bé tròn như cái hạt mít, cặp
mắt đen lánh như hai hột nhãn lồng. Chú Phong nhứt định
ở lại Sài Gòn, tiếp tục cuộc đời độc thân vui tính.
Gia đình bác Hân làm ăn khấm khá, đổi ra căn nhà ngoài
mặt tiền đường, có trương bảng hiệu đàng hoàng. Cô
Tư Ánh sau lần sẩy thai vì bị ông chồng lính kín "âu
yếm" hơi nặng tay, đợi thằng chả đi làm, cô dẫn bầy
con bảy đứa trốn luôn về nhà cha mẹ cổ ở tuốt dưới
Trà Vinh. Ông ta tìm xuống, năn nỉ cách mấy cổ cũng nhứt
định hát bài "Kiếp nào có yêu nhau" của nhạc sĩ Phạm Duy,
trong đó có những câu rất hợp với cô như: Ðừng nhìn
nhau nữa anh ơi - Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã quên rồi
v.v. và v.v.! Ông ta đành trở về Sài Gòn tiếp tục tìm
vui trong men rượu đắng...

Phần bà Năm Hậu sau một trận sưng phổi nặng vì trúng
mưa, cũng đã từ trần. Hàng xóm láng giềng kẻ ít người
nhiều, đóng góp lại, làm cho bà một cái đám tang nho nhỏ.
Vậy cũng xong một đời cô quạnh! Chỉ có xe mì chú Woòng
và gánh cháo huyết của ông Tàu già vẫn bền theo năm
tháng...

Ôi cái xóm nhỏ thân thương. Với muôn vàn nhớ nhung, nhưng
Mai không muốn sống lại cái cảnh ngỡ ngàng của Từ Thức,
khi giã biệt chốn Thiên Thai đế trở lại làng xưa...
Biết bao vật đổi sao dời. Xóm Bình Hòa muôn đời là
một kỷ niệm long lanh trong tâm tưởng của Mai!.

-----------------------------------------------------------------------

04. Cười Lên Nhé

by Thơ Thơ
ThoTho2022@cs.com

Cười lên nhé dù đời là bể khổ
Dù trăm lần ta cứ mãi loanh quanh
Dù tình ta là sợi chỉ mong manh
Dù xa cách muôn đời không gặp lại.

Cười lên nhé để tình còn tồn tại
Ðể thấy đời là đáng sống biết bao!
Ðể mắt buồn không tiều tụy tiêu hao
Ðể tâm hồn được yên dù một phút!

Cười lên nhé dù chiều Ðông côi cút
Dù một mình cùng vạn nỗi nhớ thương
Dù tương tư thao thức suốt canh trường
Ta vẫn cười để ngày mai tiếp bước!

-----------------------------------------------------------------------

05. Kho Tàng Trên Lá

by Vũ Thi An
REXBOUTIQU@aol.com

Em cúi mặt nhẹ nhàng hôn lên lá
Nhớ những ngày còn bé quá chưa yêu
Lòng chưa vương phải sợi nắng tơ chiều
Và tất cả đầy màu xanh hy vọng

Em vẫn nhặt lá vàng rơi trước ngõ
Tập làm thơ với thương nhớ giả vờ
Khi có anh chàng khuôn mặt ngẩn ngơ
Ði ngang cửa cứ nhìn em len lén

Ừ lạ nhỉ sao xưa chưa biết thẹn
Cứ cười đùa ầm ĩ như con trai
Ðể mẹ hay la hoặc trách mắng hoài
Con gái thế ai thèm đi hỏi cưới

Từ dạo nào em biết buồn rười rượi
Thả hồn theo mây trắng bay thật xa
Từ ngày nao em biết điểm tay ngà
Màu hồng lợt, đếm ngày trong nhung nhớ

Có lẽ từ dạo anh hôn lên má
Ðắm đuối nhìn gọi thật nhẹ: cưng ơi
Mình chưa hôn nhau dù môi đã chạm môi
Giây phút đó ngàn năm không quên được

Có lẽ từ khi em xa xóm nhỏ
Bỏ lại chân trời lam ngọc dễ thương
Bỏ lại khoảng sân đầy lá trong trường
Và một chút vấn vương thời thơ dại

Có lẽ từ khi ai vô tình nhắc lại
Thuở học trò yêu ái thật vô tư
Khi tình yêu chưa đạt hết ngôn từ
Lời thơ vụn nắn hoài không ra chữ

Xin ướp lá với hương tình ngày cũ
Thả trôi theo dòng sông nhỏ về nguồn
Lá chở đầy niềm nhung nhớ yêu thương
Hằn trên ấy một kho tàng kỷ niệm

-----------------------------------------------------------------------

06. Bên Kia Sông

by Trần Long Hồ
qttran@mindspring.com
12/99

(truyện viết lại theo một câu chuyện
có thật để tặng Tạ Cự Hải)

Ðã mấy ngày qua, từ khi nhận được lá thư ấy, ông
Tự không thể nào ăn ngon và ngủ yên được. Ông cảm
thấy bức rức trong lòng, tựa như ai đó đốt lửa trong
tim ông. Ngọn lửa này không cháy phừng phựt, không bốc
khói, mà cũng chẳng lan đi đâu. Nó cứ cháy ngay chỗ ấy,
trong tim ông, âm ỉ mà nóng hừng hực. Ông có cảm giác
như nó cháy bền bĩ như nhịp đập của tim ông.

Lá thư ấy đâu có gì lạ. Nó là một lá thư đơn sơ,
giấy xấu xí, sờn nhám. Nhưng điều khác biệt, nó là
lá thư từ Việt Nam. Và đặc biệt hơn nữa, cớ sự
không phải do lá thư mà mọi chuyện đều do người viết
thư ấy.

Nhìn nét chữ ngoằn nghèo trên tờ giấy vàng ố, ông
Tự cảm thấy hồi hộp. Tim ông đập mạnh. Ðồng thời,
ông cảm thấy nóng ở hai bên thái dương. Ðiều này chưa
từng xảy ra trong bao nhiêu năm qua. Ông đã biết nội
dung trong thư ấy chỉ là những lời hỏi thăm suông của
một người thân cũ. Nó không có tác động gì đến ông.
Người viết thư mới gây cho ông nhiều suy nghĩ. Chỉ
liên tưởng đến cái tên không thôi, ông Tự đã cảm
thấy xao xuyến lắm rồi. Người ấy tên Hương, một
người đàn bà bình thường, không đẹp mà cũng chẳng
có tài. Bà ấy không giàu sang và chẳng có chút danh
vọng nào. Bà Hương nhỏ hơn ông một tuổi. Hiện tại
ông Tự đã về hưu được một năm, tức là, bà đã
sáu mươi lăm rồi. Bây giờ, ông Tự nghĩ, có lẽ Hương
đã già khú đế. Bà ấy phải xấu xí vì cuộc sống lam
lủ và thiếu thốn. Bà có gì đặc biệt đâu. Thế mà,
ông Tự vì người ấy mà phải lo nghĩ bồn chồn đến
mấy ngày.

Phải tìm việc gì làm để quên bà Hương kia đi, ông Tự
tự nhủ như vậy. Ông hì hục khuân hòn giả sơn ra trước
cửa. Ánh nắng đầu ngày rực rở và chan hòa khoảng sân
trước nhà. Nắng rọi cái bóng ông Tự và hòn giả sơn
trải dài trên nền nhà. Mỗi khi ông cử động hay di chuyển,
hai cái bóng uốn éo lung linh và quyện chặt lấy nhau.

Ông Tự lấy hai cái tượng ông già đánh cờ bé xíu,
đặt dưới gốc cây tùng. Rồi ông gác cái cầu nhỏ
bằng đất nung qua con suối tưởng tượng. Hình ảnh hòn
giả sơn khiến ông nhớ lại cảnh nhà gia đình ông ngày
xưa. Cha ông, cụ Tuần, cũng có hòn giả sơn tương tự
như vậy... Cha mẹ ông Tự chỉ có ông là con một nên họ
nhất định bắt ông phải lấy vợ sớm để có cháu
nối dõi tông đường. Vì thế... Ông Tự lại nhớ đến
bà Hương...

***

Ngày Hương về nhà chồng, mưa tầm tã. Thông thường,
mưa lâm râm, nếu lớn cũng chỉ trong vòng năm hay mười
phút. Mưa không như lần này, nước mù mịt, trắng bạc
cả dòng sông. Không còn ranh giới giữa nước và trời.
Tất cả chỉ là một màu trắng đục. Từ nhiều năm qua,
chưa có trận mưa nào lớn như vậy. Mưa từ chiều hôm
trước cho đến trưa hôm sau vẫn không dứt. Dân làng
cho là điềm không lành. Họ nghĩ rằng, mọi việc làm ăn
bình thường đều nên gác lại, huống chi chuyện quan
trọng như cưới gả.

Ông bà Tuần không dám xem thường lời bàn của họ hàng
và xóm giềng nhưng giờ giấc đã định sẵn. Hơn nữa,
bên nhà gái gả con để trừ nợ. Họ quá nghèo, nợ chất
chồng theo năm tháng lên cao đến mức không gì trả nổi.
Họ chỉ có một đứa con gái đẹp và hiền, nổi tiếng
giỏi giang, nên ông Tuần quyết định bắt họ gả con trừ
nợ. Nếu chần chờ vào ngày cưới hay thay đổi giờ,
họ có cớ để kiếm chuyện khước từ. Lúc đó, nợ
không được trả mà còn mất luôn... con dâu. Ông Tuần
không muốn nghĩ tiếp nữa. Thật sự, công việc trong nhà
quá bề bộn, ông cần một đứa làm việc giỏi và đáng
tin cậy.

Bến đò bên kia sông chìm khuất sau màn nước. Bên này
sông cũng như vậy. Ngày rước dâu thật ảm đạm. Trời
mưa tầm tã. Nước sông dâng tràn bờ. Ðất dậy sình
lầy lội.

Trời đất đã buồn mà cô dâu còn buồn hơn thế nữa.
Hương ngồi im sửng trong khoang thuyền. Cô giống như một
bức tượng đá qua sông trong một ngày mưa tầm tã. Mặt
Hương lạnh lẻo. Sắc mặt cô vô hồn tựa như một phiến
đá cẩm thạch.

Hai người ngồi bất động trong khoang thuyền. Tự nhìn
bâng quơ về phía mũi thuyền. Hương liếc qua khe cửa sổ.
Ánh sáng mờ nhạt và chập chờn làm cho da mặt cô nhợt
nhạt và trắng hơn cả màu của nước mưa ngoài kia.

Hương nghe tiếng mưa dội và gió đập ầm ập ngoài vách
thuyền. Sóng nước ngoài kia cao lắm, Hương đoán như vậy.
Cô ước thầm, phải chi sóng nước mạnh và dâng cao hơn
để lật úp con thuyền. Ðể cô và cả đám kia chết hết.
Cả đám nàỏ Cả đám nhà chồng chớ ai! Cả đám đáng ghét,
từ ông bà Tuần cho tới anh chàng Tự ốm yếu đến độ
trói gà không chặt. Hay ít nhất, sóng nước cuốn trôi và
nhận chìm chiếc thuyền này, chôn vùi cô và tên con trai
đáng ghét kia. Cô không thể sống với một người chồng
chưa hề quen biết và không thể yêu thương được.

Dòng sông đắm mình trong biển nước. Ðã mấy lần, các
thuyền rước dâu suýt chìm vì giông mưa và sóng dựng. Họ
hàng chồng, không hẹn, đều nguyền rủa cô dâu. Ác cảm đã
có sẵn, vì thế, càng thêm đậm đà trong lòng những
người mang ít yêu thương mà quá nhiều ghét hận.

Ðêm tân hôn, đối với kẻ khác là giờ phút diễm tuyệt
không thể quên được của đời người, nhưng đối với
Hương lại khác. Ðêm đầu tiên của cuộc sống vợ chồng
cũng là lúc mà Hương nhớ hoài, đến suốt kiếp. Với
Hương, hoàn toàn hoàn khác. Người ta bù cho sự khổ đau
của một cô gái xa gia đình với niềm hạnh phúc của đời
chồng vợ. Người ta trả lại nước mắt của một người
con gái dấn thân vào cuộc sống mới bằng niềm hoan lạc
lứa đôi.

Ðối với Hương, sự khổ đau lại cộng thêm bao nhiêu bi
thương khác. Người ta không trả lại cho Hương gì khác sau
nước mắt rơi, mà cô sẽ phải đổ tiếp những giọt máu
còn sót lại trong người. Qua một con sông là đứt hẳn
một đoạn đời. Chỉ một dòng sông mà cách trở đến
nghìn trùng.

Hương có thể tìm thấy bên kia sông, những ngày nắng, làng
quê cô như cái chấm đen in đậm trên một lằn xám nhạt
và mảnh khảnh ở của cuối chân trời. Huống chi, ngày cô
bị bắt gả đi, trời mưa tầm tã. Bên kia sông đã chìm
mất trong bầu trời trắng mịt.

Chuyện không trông đợi cũng tới, sau khi mọi nghi lễ và
thủ tục cùng tiệc tùng đã tan. Hương làm việc đến khuya
mới dọn dẹp xong mọi thứ bề bộn trong nhà. Ông bà Tuần
đã rút vào trong phòng ngủ sớm. Vài người giúp việc còn
cố gắng lau chùi cho xong sàn nhà và quét sạch rác rến.
Chú rể Tự còn sật sừ với vài người bạn thân. Họ dây
dưa hoài, cố uống cho xong chai rượu cuối cùng. Mấy tên
bạn muốn kềm chân Tự lại và muốn thần lưu linh quật
ngã anh trong đêm nay. Hoặc là, Tự muốn trì hoãn giờ
phút thiêng liêng. Những lời bạn bè nói qua cơn say về
Hương có thể không đúng như Tự đã nghe qua. Anh chẳng
bận tâm suy nghĩ nhiều. Có thể, Tự biết rằng, cuộc
đời anh cũng như Hương đều nằm trong bàn tay của những
người khác, nói rõ hơn, ông bà Tuần. Cha mẹ anh sắp xếp
mọi chuyện, chứ đối với Tự, anh không muốn cưới vợ.
Anh chưa từng quen biết Hương, cô gái bên kia sông. Tự
chỉ mơ ước ánh sáng kinh thành. Anh muốn lên thành phố,
sống một đời xứng đáng và có ý nghĩa.

Cả một dòng sông rộng và dài ở quê nhà của Tự mang
biết bao huyền thoại trong một xã hội đậm nét phong
kiến. Dòng sông tuy rộng nhưng không rộng đối với
những chuyến đò ngang và lời đồn ác độc. Con người
vốn thích kẻ khác bị khổ sở nhất là những kẻ giàu sang
và danh tiếng hơn mình. Gia đình Tự nằm trong số mục
tiêu của lời đàm tiếu. Ðúng lý ra, gia đình Hương nghèo,
dễ được người ta bỏ qua cho, nhưng chẳng may, Hương
liên hệ với gia đình Tự. Do đó, tiếng đồn về cô
dâu được tô đậm và thổi phồng lên càng ngày càng
nhiều hơn.

Ðêm về khuya, mưa đã tạnh tự lúc nào. Bầu trời đen
nhưng trong. Trăng tuy chưa tròn hẳn nhưng sáng rực, treo
lửng lờ bên mấy cụm mây xám lưa thưa. Ánh trăng chiếu
xuyên vào phòng tân hôn, kéo mấy vệt sáng lung linh trên
sàn. Có vệt chạy dài và gẫy gập bên thành giường cạnh
chỗ Hương ngồi.

Phòng tân hôn yên lặng và ngột ngạt. Hương ngồi yên bên
giường. Cô để nguyên bộ quần áo cô dâu. Cái khăn trùm
đầu rớt mất ở một chỗ nào, Hương không nhớ rõ. Ngay
đêm tân hôn, ông bà Tuần đã xếp công chuyện cho Hương
nhiều gấp ba lần các cô giúp việc. Hương phải săn hai
ống tay áo lên, cột quấn hai vạt áo ra trước bụng. Hương
còn sắn cả hai ống quần lên gần đến gối. Ðến khi vào
trong phòng rồi, Hương vẫn giữ nguyên quần áo như vậy.
Cô chẳng màng đến Tự. Anh chàng gầy gò, lưng dài, mặt
trắng kia, quả thật đáng ghét. Hương chưa hề quen biết
anh ta. Người Hương quen tha thiết trong suốt năm qua, ở
bên kia sông, cùng xóm với cộ Hương chỉ muốn gặp người
ấy ngay tức thì trong đêm nay, trước Tự. Nếu gặp được
người ấy, Hương mím môi suy nghĩ, cô sẽ làm tất cả mọi
chuyện gì có thể làm được, trong khi anh chàng Tự còn say
khướt ngoài kia. Hương sẽ sống tận cùng trong giờ phút
này cho thỏa lòng, mặc kệ Tự. Hắn say như thế, biết
được gì đâu ngoài chuyện lăn đùng ra ngủ như chết.

Suy nghĩ thế thôi chứ Hương biết rõ số phận của mình.
Người ấy bên kia sông làm sao đến được. Số phận Hương
chẳng lẽ an bài với tên học trò mặt trắng kia. Không thể
được, Hương đã quyết lòng rồi.

Trong khi Hương đang suy nghĩ thẩn thờ thì cửa phòng sịch
mở. Trong đêm, bóng Tự trở nên cao lớn và trông dữ
dằn hơn. Anh khép cánh cửa lại. Thế giới bên ngoài bị
ngăn cách hoàn toàn. Không gian trong phòng trở nên riêng
tư nhưng không vì thế mà ấm cúng. Trái lại, Hương cảm
thấy ngột ngạt lắm. Hình như có một sức ép rất mạnh
từ phía cửa. Không phải từ cửa, Hương biết chắc, từ
phía Tự. Chính chàng rể xa lạ kia mang đến cho Hương bao
nhiêu phiền não. Trong thời gian qua, cha mẹ hắn đã manh tâm
biến đổi cuộc đời Hương. Họ mua Hương về để trừ
một số nợ cho ba má cô. Tức nhiên, Tự là chủ chốt
trong vụ này. Không có hắn, Hương không bị bán gả về
gia đình này.

Càng suy nghĩ Hương càng giận thêm. Trong khi ấy Tự lần
mò đi tới. Có lẽ Tự chưa quen bóng tối trong phòng. Hương
thấy Tự đi dò dẫm từng bước. Tuy Tự đi chậm nhưng
Hương thấy rõ anh đang đi thẳng về phía cô. Có lẽ anh
chàng say khướt rồi, Hương tự nhủ, hắn chẳng làm gì
được cô đâu.

Còn cách Hương vài bước, đột nhiên Tự dừng lại, anh
hỏi, giọng trầm và tỉnh táo:

- Cô chưa ngủ saỏ

Hương nín thinh. Quả nhiên anh chàng khờ khạo và vô duyên.
Dù Hương ghét Tự thậm tệ, cô cũng chẳng hỏi hắn một
câu như vậy. Trong đêm tân hôn, có chú rể nào muốn cô
dâu đi ngủ sớm. Thế thì anh chàng lấy vợ để làm gì.
Có lẽ hắn giả bộ để cô không phòng bị.

Nghĩ như vậy, Hương lùi xa vào một góc giường, luồn
tay vào trong lưng áo, nơi cô giấu cây kéo nhọn.

Tự bước tới, ngồi xuống một bên giường, gần Hương
lắm, chỉ cách vài gang tay thôi. Hương ngửi được mùi
rượu từ phía Tự tỏa ra nồng nặc. Có lẽ hắn chẳng
uống bao nhiêu, chỉ thấm rượu vào người cho oai.

Nhờ ánh tráng mờ nhạt xuyên qua khe cửa. Hương thấy Tự
còn rất trẻ. Anh chàng chỉ mới mười bảy, lớn hơn cô có
một tuổi. Mặt Tự non choẹt, da trắng nhợt. Ðôi mắt
Tự tuy nhỏ nhưng mũi cao, trông cũng không tệ lắm. Tóc
Tự hớt cao nên trông anh càng trẻ hơn.

Hương mím môi, ghìm cây kéo và dựa người vào đầu
giường. Cô nhủ thầm... thà chết.

Chợt Tự nhoài người người tới. Anh hành động bất
ngờ quá khiến Hương hoảng hốt rút cây kéo ra hét lớn:

- Lui ra.

Mấy vệt trăng xuyên qua vách, chiếu lấp lánh vào cây kéo.
Hương cứ quơ kéo qua lại khiến ánh sáng chớp nháy hắt
vào mặt Tự. Mặt Hương chìm trong bóng tối nên Tự không
biết cô đang bày tỏ sự giận dữ như thế nào.

Tự chỉ có ý định với tới cây đèn trên bàn bên cạnh
giường nhưng không ngờ Hương phản ứng mạnh như vậy. Anh
giật mình, lăn nhào xuống đất.

Hương thở hổn hển:

- Anh làm gì?

Tuy sợ nhưng Tự cảm thấy bực bội:

- Tôi vặn đèn cho sáng mà.

Nói xong, Tự càng cảm thấy giận hơn. Ðây là nhà Tự.
Chỗ này là phòng tân hôn. Anh là chú rể. Ðêm nay là buổi
động phòng hoa chúc. Gặn hỏi chú rể làm gì trong đêm
động phòng quả nhiên không lịch sự chút nào.

Tuy nghĩ vậy, Tự vẫn còn sợ. Anh lồm cồm ngồi dậy.
Hương lắp bắp nói:

- Ngồi yên đó, không được nhúc nhích.

Hương quơ cây kéo qua lại trước mặt Tự. Ánh sáng lấp
loáng khiến Tự hoảng sợ. Có lẽ cây kéo bén lắm, nếu nó
xuyên vào người chắc thấu đến tim. Nghĩ vậy, Tự run
giọng nói:

- Ðược, tôi ngồi đâỵ

Tự ngồi bẹp xuống sàn, ngay dưới chân Hương. Bất ngờ,
mắt Tự nhìn ngay vào hai bắp chân trắng phau và thon đều
của Hương. Tuy đang lo sợ nhưng Tự vẫn nhủ thầm, quả
nhiên chân cô bé này đẹp thật.

Thấy Tự nhìn chăm chú vào chân mình, Hương hoảng hốt nói:

- Không được nhìn.

Hương vừa nói vừa vuốt hai ống quần xuống thật nhanh.
Lúc Hương cúi xuống, cây kéo lại chờn vờn vào mặt Tự.
Hai người ở gần nhau quá, Tự ngửi được mùi thơm thoang
thoảng từ phía Hương.

Hương lui sát vào vách, nghiêm giọng nói:

- Anh không được động tới tôi.

Tự ngước lên nhìn. Ánh trăng chiếu nghiêng qua mặt Hương.
Tự thấy Hương còn quá trẻ. Tóc Hương xỏa tung ra càng làm
tăng thêm vẻ đẹp của cô. Môi Hương mím lại. Nước mắt
Hương đang chảy ràn rụa xuống má. Cô thổn thức:

- Anh bước tới, tôi sẽ tự đâm vào cổ... nhưng...

Tự hoảng hốt hỏi:

- Nhưng saỏ

- Nhưng tôi sẽ đâm anh chết trước.

Thấy cây kéo đang ở sát trước mặt lại nghe Hương hăm he
như vậy, Tự vội lết ngược trên sàn nhà, ấp úng hỏi:

- Tại sao cô muốn giết tôỉ

Hương òa lên khóc:

- Anh hại đời tôi mà còn hỏi...

Thấy Hương khóc mùi mẫn, Tự bớt sợ. Anh lật đật
đứng lên, hỏi nhỏ:

- Tôi hại đời cô hồi nàỏ

Hương òa lên khóc:

- Anh đem tôi về đây là hại đời tôi.

Tự vội cải chánh:

- Tôi đâu muốn đem cô về. Tại cha mẹ tôi muốn như vậy.

Hương bực bội, nín khóc, trố mắt hỏi:

- Anh không muốn đem tôi về nhà này phải không?

Tự gật đầu. Hương quệt nước mắt, lắp bắp hỏi:

- Anh nói thật không?

Tự nhanh nhẩu đáp:

- Tôi chỉ muốn lên thành phố đi học.

Hương mừng rở nói:

- Vậy anh cho tôi về nghen!

Tự im lặng một lúc rồi hỏi:

- Cô ở bên này sung sướng hơn, tại sao cô muốn về?

Hương giận dỗi:

- Tôi chỉ muốn về nhà. Anh không muốn tôi thì tha cho tôi
đi.

Tự lưỡng lự nói:

- Tôi đâu quyết định được. Cô về bên đó làm gì?

Hương khép nép ngồi xuống giường, ấp úng hỏi:

- Tôi nói cho anh biết thì anh cho tôi đi phải không?

Tự thẳng thắn nói:

- Cô là vợ tôi mà!

Hương quắc mắt, trông cô vừa dữ lại đẹp thêm bội
phần. Cô nói qua giọng nghiến răng:

- Tôi là vợ anh?

- Chứ saỏ Cha mẹ tôi cưới cô về cho tôi.

Hương quơ cây kéo, ánh sáng hắt vào mặt Tự:

- Còn lâu. Tôi nói cho anh biết. Tôi không hề biết anh là
ai. Tôi oán ghét anh. Người tôi yêu ở bên kia sông. Anh
ấy hẹn tôi sáng sớm hôm nay ở bến đò.

Tự ngạc nhiên hỏi:

- Anh ta hẹn cô để làm gì?

Hương mím môi, gằn giọng:

- Chúng tôi đã bàn tính trước. Tôi giết anh bằng cái
kéo này rồi ra bến đò, trốn đi với anh ấy.

Tự giật mình thối lui một bước:

- Trời ơi, sao cô ác như vậỷ

Hương tức tối nói qua hơi thở nặng nề:

- Anh mới là kẻ ác. Chúng tôi thương nhau, hẹn sống chết
cùng nhau. Tôi không lấy được anh ấy tôi phải chết. Anh
phá hại đời tôi.

Hương xúc động quá, ôm mặt khóc rủ rượi. Bây giờ, Tự
đã quen với bóng tối trong phòng. Anh thấy Hương nằm gục
trên giường, tóc cô xỏa xuống, lấp cả vai và một bên
lưng. Người Hương run rẩy theo tiếng khóc.

Tự bước tới nắm vai Hương, vỗ về:

- Cô đừng khóc nữa.

Hương tủi thân càng khóc nhiều hơn. Tự phân vân nói:

- Tôi không biết làm gì bây giờ.

Ðột nhiên Hương nín bặt, giọng tỉnh táo:

- Tôi không thể giết anh được. Hay là...

Tự thấy thái độ lạ lùng của Hương liền hỏi:

- Cô nói gì?

Hương ấp úng, giọng e thẹn:

- Hay là... anh cứ ôm tôi đi. Tôi ngủ với anh... rồi anh
cho tôi đi.

Tự ngẩn ngơ nói:

- Ờ... thì cô là vợ tôi. Mình ở chung trong phòng tức
nhiên phải ngủ với nhau.

Hương tức giận, dùng dằng nói:

- Tôi ngủ với anh một lần để trả nợ cho ba má tôi. Xem
như tôi không ăn giựt của anh.

Giọng Hương thành thật và cương quyết khiến Tự cảm
thấy thương cô hơn:

- Cô nói như vậy là saỏ

Hương giận dỗi:

- Anh muốn tôi nói tanh bành ra hết hay saỏ Tôi ngủ với
anh tức là anh làm chuyện đó với tôi. Tức là tôi trả
nợ cho anh, coi như đủ.

Tự thở dài hỏi:

- Làm chuyện đó hả?

Hương gật đầu:

- Ờ, làm chuyện vợ chồng xong rồi anh cho tôi đi nghen.

Tự im lặng. Anh không ngờ đôi vợ chồng mới cưới bàn
chuyện ngủ với nhau dễ ợt như vậy. Anh cứ nghĩ như tụi
con nít chơi mua bán đồ hàng.

Thấy Tự làm thinh, Hương cố nói:

- Tôi nằm yên, anh làm gì cũng được mà.

Tự thẩn thờ suy nghĩ. Cuộc đời sao giống như chuyện
mua bán. Éo le ở chỗ, món hàng là con người, là Hương,
một người con gái trẻ đẹp và thật thà.

Chờ một lúc, thấy Tự vẫn không đáp, Hương cố thuyết
phục:

- Tôi không chống cự đâu. Anh muốn làm sao thì làm.

Tự ngao ngán đáp:

- Cô là vợ tôi mà. Tại sao tôi phải mặc cả chuyện này
với vợ tôi.

Hương bực mình, sừng sộ:

- Tôi là vợ anh hồi nào. Ðây chỉ là một mua bán giữa
ba má tôi và cha mẹ anh. Tôi trả nợ cho anh xong là huề nhau.

Tự chán nản nói:

- Tôi đâu phải là người mua.

Hương nghiêm giọng:

- Tôi không phải là người bán. Anh không phải là người
mua. Tôi chỉ là một món hàng. Ba má tôi bán thì cha mẹ anh
mua cho anh. Bây giờ anh đã có hàng, anh xài hay không là
quyền của anh.

Tự ôm dầu:

- Trời ơi, cô nói nghe sao dễ dàng quá vậy. Tôi là một
con người, cô biết không. Tôi không phải là cái máy.

Hương chua chát nói:

- Có những người, bên ngoài là người nhưng trong lòng
không phải người.

Tự tức giận hỏi:

- Cô nói ai vậỷ

Hương đáp bâng quơ:

- Tôi nói chung chung vậy thôi. Không ám chỉ ai cả.

Tự cúi nhìn những vệt trăng sáng chạy dài trên nền nhà.
Anh không biết phải làm gì. Người con gái đang ở chung
phòng với anh được gọi là vợ và anh được gọi là
chồng. Giữa hai người được gọi là vợ chồng, đang có
một cuộc mua bán. Con người trở nên trắng trợn và
tình người lại bị rẻ rúng đến như thế.

Hương ngả người xuống giường. Cô lần tháo nút và cởi
áo ngoài. Bên trong, Hương còn lớp áo mỏng màu hồng ôm
sát lấy ngực. Cô nằm ngửa trên giường, bất động. Tự
nhìn lại, ngực Hương phập phồng theo nhịp thở. Anh thấy
màu da trắng muốt ở hai bờ vai Hương.

Nhìn Hương nhưng Tự không cảm thấy một chút xúc động
nào. Bản năng tự nhiên của đứa con trai chết tiệt trong
người anh. Chuyện vợ chồng bỗng nhiên bị sổ toẹt trong
đêm tân hôn. Tự cảm thấy như bị ai hất một thau nước
lạnh vào mặt.

Tự thở dài nói:

- Tôi không thể làm chuyện đó được.

Hương nằm im lặng. Tự cởi giày, ngồi dựa vào đầu
giường, duỗi hai chân ra. Hai vợ chồng mới cưới, kẻ
nằm, người ngồi im lìm bên cạnh nhau.

Ðêm về khuya càng vắng lặng. Tiếng côn trùng rả rít
đều đặn ngoài kia. Mấy tàu lá chuối khua động xào xạt
bên hè. Vài ngọn gió trở cơn, rít nhẹ qua mấy khe cửa.
Hình như có tiếng con nhái vừa nhảy tỏm vào vũng nước
mưa đọng lại từ chiều.

Bên trong phòng chỉ tiếng Hương thở đều. Thỉnh thoảng cô
trở mình. Tiếng vải mỏng chà nhẹ lên mặt chiếu phát ra
một âm thanh mơn man nhè nhẹ. Tự ngồi suy nghĩ mông lung,
anh mơ tưởng đến cảnh sinh hoạt nhộn nhịp trên thành
phố. Mai này, không biết anh sẽ đi đâu và làm gì.

Trên vách, hai con thằn lằn rượt đuổi nhau đâu đó. Tiếng
kêu gấp rút. Hình như chúng dừng trong một xó kẹt. Sau đó,
một lúc lâu, có tiếng chắt lưỡi của một trong hai con
thằn lằn. Có thể của cả hai.

Hương nằm và Tự ngồi như thế lâu lắm. Trở mình một
hồi, Hương
chợt hỏi:

- Anh còn thức không?

Tự gật đầu đáp:

- Tôi không thể làm được chuyện đó?

- Có gì mà không được, dễ dàng quá mà.

Tự nổi giận:

- Tại sao cô biết dễ?

Hương làm thinh không đáp. Một lúc sau, cô hỏi:

- Tại sao anh không làm được. Anh tội nghiệp cho tôi phải
không?

Tự phân vân đáp:

- Tôi không biết. Tôi chỉ cảm thấy tội lỗi mỗi khi tôi
nghĩ đến chuyện ôm lấy cô.

Hương lạnh lùng nói:

- Anh có làm gì hay không thì đến sáng sớm tôi cũng đi.

Tự lắc đầu, phân bua:

- Tôi không muốn làm bất cứ chuyện gì tổn thương đến
cô. Nếu cô không yêu tôi thì tại sao cô muốn chuyện ấy
với tôi.

Hương bực mình đáp:

- Không phải tôi muốn mà tôi chỉ trả nợ cho anh để thanh
toán sòng phẳng mọi chuyện. Mai này, khi tôi đi rồi, nếu
anh không làm gì, tôi cảm thấy áy náy không yên.

Tự an ủi:

- Cô là con gái chưa có chồng bao giờ. Tôi không thương
cô. Tôi không muốn phá hại đời cô. Hơn nữa...

- Anh muốn nói hơn nữa cái gì...

Tự nổi cáu, gắt gỏng:

- Cô bắt tôi làm chuyện đó giống như tôi ra chợ mua
hàng. Chuyện tình cảm mà, tôi đâu phải là cái máy để
cô bật điện lên là chạy ngay.

Hương mắc cỡ đỏ mặt:

- Chẳng qua ba má tôi thiếu nợ cha mẹ anh. Bây giờ, tôi
thay mặt ba má để trả nợ cho xong.

Tự buồn bã nói:

- Ðâu ai bắt cô trả nợ kỳ cục như vậy.

Hương nhớ tới cuộc hôn nhân gả ép, bực bội nói:

- Cha mẹ anh chớ ai. Bây giờ, anh không muốn thì thôi. Tôi
cứ xem như trả nợ xong rồi.

Hai người nín thinh. Căn phòng lại chìm vào im lặng.

Hai con thằn lằn lúc nảy lại rượt đuổi nhau trên vách.
Trong đêm vắng, tiếng chúng đuổi nhau nghe rõ mồn một.
Chạy chán, chúng chui vào một xó kẹt nào đó. Một lúc sau,
có tiếng chắt lưỡi.

Hương và Tự nghe mấy tàu lá chuối cứ cọ xát nhau đều
đặn bên ngoài. Có tiếng nhái nhảy tõm vào vũng nước.
Lần này đến hai con chứ không phải một. Hai âm thanh kế
tiếp nhau, giống nhau, chứng tỏ không phải một con nhái
nhảy hai lần. Mà nó nhảy hai lần làm gì. Chuyện nhảy vào
vũng nước có gì hứng thú đâu. Hai tiếng động ấy rất
giống nhau, chắc là hai con nhái bằng nhau, nhảy xuống vũng
nước cùng từ một độ cao. Tự nghĩ, hai con nhái đùa
giỡn với nhau trong đêm khuya, có lẽ chúng khoan khoái lắm.
Còn Hương, cô buồn bã nghĩ ngợi, chắc là chúng tự vận.

Tự không nghĩ đến hai con nhái nữa. Anh quay nhìn Hương,
thử xem có chuyện gì mới lạ xảy ra hay không. Hương nằm
yên đó, xa lạ. Người con gái mà mọi người bảo rằng, vợ
anh. Còn anh, người ta cũng bảo, là chồng. Thật ra, Tự nghĩ
rằng, vợ chồng không có ý nghĩa gì cả, một khi cả hai
chưa có một chút tình cảm nào, một chút kỷ niệm nào. Anh
biết bản thân mình, một người con trai khỏe mạnh, từng
mơ tưởng ôm ấp một cô gái đẹp. Nhưng bây giờ, Hương
nài nỉ Tự làm chuyện đó để cô trả nợ cho xong thì anh
không thể làm được.

Hai người, một nằm và một ngồi suy nghĩ miên man như thế
cho đến khi tiếng gà gáy hiệp đầu. Tự nhìn qua khe vách,
trời vẫn còn tối. Hương ngồi dậy mặc áo vào. Chợt cô
quay qua ôm mặt Tự, hôn nhẹ lên gò má. Ðồng thời Tự
nắm chặt lấy bàn tay Hương. Tự không hiểu tại sao anh
làm như vậy. Bàn tay Hương mềm nhủn trong tay Tự. Mùi thơm
nhè nhẹ từ người Hương cứ phơn phớt đưa vào mũi Tự.
Bây giờ, Tự cảm thấy một điều gì đó lâng lâng trong
người. Tự không biết cảm giác gì nhưng nó len vào nhẹ
nhàng và khiến anh cảm thấy mát dịu cả tâm hồn.

Bất chợt, Tự muốn quàng tay ôm Hương vào lòng. Nhưng đó
chỉ là ý nghĩ. Hương đã vuột tay, bước xuống giường.
Cô nhìn Tự, long lanh nước mắt:

- Anh đã hứa với tôi.

Thật sự, Tự có hứa gì đâu. Anh chẳng nói câu nào. Mọi
chuyện đều do Hương đưa ra. Cô nói tất cả rồi cô bảo
rằng anh hứa.

Thấy Tự im lặng. Hương bước tới ôm chầm lấy anh,
khóc vùi:

- Anh còn thời gian làm chuyện đó mà.

Nước mắt Hương chảy xuống, ấm một bên cổ của Tự.
Hương khóc mà Tự cảm thấy xót xa trong lòng. Nghĩ lại, anh
chưa hề yêu cô gái này. Cô hoàn toàn xa lạ đối với anh.

Tự vuốt nhẹ bờ vai rồi mơn man bờ lưng Hương. Chưa bao
giờ cho mãi đến tận cuối đời về sau, Tự có cảm giác
thánh thiện và thanh cao như vậy. Tự chỉ biết một điều,
ngay lúc đó, anh muốn làm bất cứ điều gì cho Hương vui
lòng.

Hương thủ thỉ bên tai Tự:

- Anh hứa với tôi rồi phải không?

Tự gật đầu. Hương nói nhỏ:

- Anh bằng lòng cho tôi đi phải không?

Tự lại gật đầu. Anh nói, giọng khàn đục:

- Tôi sẽ đưa cô đi. Nếu cô đi một mình, người trong
nhà thấy được sẽ không để cho cô thoát thân đâu.

Hương gật đầu, buông Tự ra. Cô vuốt tóc và kéo áo cho
ngay thẳng lại. Hai người mở cửa nhè nhẹ, lách mình ra
ngoài.

Trời còn tối. Phía đông vừa ửng chút ánh hồng.

Tự đẩy chiếc xe đạp, mở cổng cho Hương đi ra. Trong nhà
yên lặng hoàn toàn nhưng có ánh đèn ở phía nhà bếp. Tự
biết người quản gia già đã thức và đang lo bữa ăn sáng
cho gia đình.

Sau cơn mưa dai dẳng mấy ngày qua con đường dậy bùn nhảo
nhoẹt. Tự phải vác chiếc xe đạp lên vai. Hai người đi im
lặng trên đường. Hương đi trước, Tự nối bước theo
sau. Dáng Hương gầy gò tội nghiệp. Trời không lạnh lắm
nhưng gió mạnh khiến Hương phải vòng hai cánh tay ôm chặt
lấy người.

Chỉ sau một đêm, nói đúng ra chỉ có vài giờ, Tự nhìn
Hương và cảm thấy thân thương như đối với một người
cùng anh trãi qua cả một đoạn đời. Bây giờ, Tự cảm nhận
rằng, anh không muốn mất Hương. Tự còn quá trẻ, anh không
biết cảm giác vừa chớm trong lòng là thứ gì. Nó có phải
là tình yêu hay không? Nếu phải, tại sao anh có thứ tình
đặc biệt với Hương nhanh đến như vậy. Mới vài giờ
trước đây, Hương còn cầm cây kéo định giết anh cho
chết. Anh tắt thở thì cô ta mới phỉ chí. Chẳng lẽ Tự
yêu người toan tính giết anh. Tự không hiểu nổi. Tự chỉ
biết, anh không muốn rời xa người con gái này. Kẻ được
gọi là vợ anh. Bây giờ, Tự thở dài... anh đang dắt vợ
mình đi giao cho kẻ khác.

Tự và Hương đến cuối con đường đất thì trời ửng
sáng hơn. Lên đường nhựa, Tự đặt chiếc xe đạp xuống,
đề nghị:

- Tôi chở cô đến bến đò.

Hương không nói gì, lẳng lặng ngồi sau xe. Tự gò lưng
đạp, gió ngược, tuy Hương nhỏ và nhẹ cân nhưng anh cảm
thấy nặng, phải rán sức. Con đường dài, thẳng tắp. Trời
vừa hừng sáng, chưa có bóng người qua lại.

Ðường nhựa kéo dài một đoạn chừng ba cây số rồi tiến
gần về phía bờ sông. Bây giờ gió đổi chiều, thổi ngang,
tốc lên từ phía dòng sông. Gió thổi tung tóc Hương, quấn
vào mặt và cổ Tự. Từng sợi tóc mơn man trên da Tự. Mùi
tóc người con gái trẻ đẹp làm Tự cảm thấy ngây ngất.
Tự không cảm thấy mệt. Anh muốn đường dài bất tận và
hai người cứ đèo nhau trên xe đạp như thế này mãi mãi.

Hương ngồi sau xe yên lặng nhưng trong lòng cô ngỗn ngang
trăm mối. Hương vừa muốn gặp người yêu cũ cho nhanh,
thoát khỏi cảnh bị ép gả cho gia đình Tự càng sớm càng
tốt. Ðồng thời Hương lại muốn Tự chở cô đi hoài như
thế. Bây giờ cô không ghét Tự nữa. Anh chàng xa lạ này
dễ thương quá. Cô cảm thấy như vậy. Anh ta chỉ lo cho cô
mà không nhớ đến bản thân mình. Tại sao anh ta phải trốn
cha mẹ để giao vợ mình cho kẻ khác. Hương ngẩm nghĩ rồi
giật mình. Theo nghi lễ và thủ tục, Hương đã là vợ và
Tự là chồng. Anh chàng thư sinh ốm yếu đang gò lưng đạp
xe là chồng. Tiếng chồng nghe lạ và kinh khủng. Mỗi lần
Hương lập tiếng này trong não, cô cảm thấy như có tiếng
sét rất mạnh trong đầu. Chồng! Trời ơi! Hương đã có
chồng. Bây giờ, chồng Hương đang chở cô đi giao cho người
tình. Tại sao cô có thể bắt chồng cô làm chuyện tàn nhẫn
như vậy. Hương không hiểu. Trời ơi! Hương nhủ thầm, cô
là đứa con gái không ra gì.

Bất chợt, Tự cảm thấy ấm hẳn phía sau lưng. Anh nhận
ra, Hương đang áp mặt vào lưng anh. Cái cảm giác ấm ấy
là da mặt và nước mắt của Hương thấm vào da Tự. Tiếng
khóc của Hương mỗi lúc mỗi lớn.

Tự cảm thấy cay mắt và lạnh trên hai gò má. Anh biết mình
đã khóc. Anh khóc tự nhiên. Tự khóc vì chuyện gì. Chính
anh cũng không hiểu nổi. Có phải, Tự khóc cho một mối
tình đầu đời mất ngay từ lúc mới chớm.

Bến đò đã hiện ra ở cuối đường. Bóng cây đa già với
những dây buông chằng chịt đang đứng ủ rủ bên sông.

Tự đạp xe thật chậm. Anh muốn dừng lại nhưng đôi chân
cứ cử động đều. Bây giờ, Tự sống nhờ chút sức tàn
còn sót lại trong người. Anh phó mặc cho mọi sự diễn biến
bên ngoài. Tự không còn khả năng kháng cự nữa. Chiếc xe
đạp dừng khi cách bến đò chừng hai mươi thước. Quang
cảnh bên sông vắng lặng. Chỉ có tiếng sóng nước vổ
đều đặn vào bờ.

Trời vừa hừng sáng, mặt trời chưa lên, người còn ngáy
ngủ. Ðêm còn bám riết và ngày chưa bắt đầu. Dưới bến
đó, có chiếc xuồng ai đậu sẵn ở đó. Ðò chao dật dờ
theo sóng nước. Tự không thấy ai phía ngoài nhưng có ánh
thuốc lá sáng đỏ từng chập trong khoang.

Tự ngồi trên yên xe. Hương đứng bên cạnh. Gió sông thổi
hai tà áo dài cưới của Hương bay phần phật. Màu đỏ và
nét thêu vàng của áo nổi bật trong cảnh lạnh vắng và đơn
sơ của bến đò. Màu áo trở nên trơ trẻn với cảnh vật
khiêm nhượng chung quanh.

Hương nắm bàn tay Tự đang đặt trên tay cầm xe. Tự nhìn
xuống dòng sông. Hương nhìn Tự không chớp mắt. Cô không
biết phải nói gì. Cô cảm thấy quá ray rức trong lòng. Sự
việc xảy ra bất nhẫn cho Tự quá. Hương đòi hỏi những
điều quá đáng chăng. Hương nghĩ rằng, cô phải trả một
giá rất cao cho điều mong ước đó. Nào ngờ, Hương không
phải trả một thứ gì. Cái giá mà cô nghĩ rất cao và quá
khổ nhọc đã trở nên quá sức dễ dàng. Tất cả mọi chuyện
xảy ra êm đẹp cho Hương là nhờ Tự. Hương hiểu rõ như
vậy nhưng cô không biết phải làm gì để báo đáp cho Tự.

Mặt Tự trắng nhợt sau một đêm không ngủ và xúc động
quá nặng nề. Anh nhìn xuống dòng sông mà nước mắt rưng
rưng.

Hương nhón chân lên ôm Tự, ghì chặt. Cô hôn lên mặt Tự
mà cảm thấy mặn ở đầu môi. Hương hôn lần qua môi Tự.
Cô cảm thấy môi anh giá lạnh.

Tự ngồi yên. Gió sông thổi sao lạnh bằng nỗi giá băng
trong người Tự. Hương lui lại, bàn tay cô còn nắm chặt
tay Tự:

- Cám ơn anh.

Tự im lặng, không đáp. Gió sông vẫn thổi. Tóc Hương
vẫn bay, quấn quít quanh đầu và cổ cô. Tóc Hương lòa
xòa vào mặt Tự. Vẫn mùi tóc thơm ấy nhưng Tự cảm thấy
đau xót vô ngần.

Hương thủ thỉ, giọng nghẹn ngào:

- Cám ơn anh. Em đi.

Tự bất động. Hình như anh không còn biết đến chung
quanh. Chỉ có nước mắt Tự chảy dài xuống hai bên má. Gió
sông thổi lên khiến nước mắt trở nên giá băng trên
da mặt Tự.

Hương buông tay Tự. Cô nắm chặt cây kéo cắt phăng một
góc vạt áo, nhét vào tay Tự. Mảnh vải đỏ tựa như máu
tươm trên làn da trắng nhợt nhạt của Tự. Hương ném cây
kéo xuống dòng sông rồi đi lui dần về phía bến đò. Môi
Hương mấp máy:

- Cám ơn anh nhiều lắm... anh Tự.

Tự chuyển mắt nhìn theo dáng Hương nhỏ dần. Còn cách bờ
sông chừng mười thước, Hương xoay mình đi nhanh xuống
bến đò. Bấy giờ, cô đi vội vả và dứt khoát. Hương
đi như chạy trốn. Không có ai rượt đuổi Hương cả. Hương
đang lẫn trốn với chính tâm hồn cô.

Chiếc xuồng nhẹ nhàng tách bến. Nước sông đẩy xuồng
trôi thật nhanh. Thoắt trong nháy mắt, nó đã tách xa hẳn
bờ.

Trong sương sớm, Tự chỉ còn thấy bóng chiếc xuống mờ
nhạt trên sông.

Gió sông thổi lạnh như tự bao giờ.

***

Ông Tự thong thả phun nước lên mấy cây nhỏ và mãng rêu
xanh trên hòn giả sơn. Mặt trời lên cao, nắng đã lan quá
nửa sân.

Ông Tự đi vào nhà, thay quần áo. Ông phải ra bưu điện
gởi bức thư hồi âm. Lần này, sau nửa thế kỷ, hai người
đã đi gần hết đường đời. Ông Tự sẽ rước bà Hương
về. Ông không giao bà cho ai nữa.

-----------------------------------------------------------------------

07. Nắng Lên

by Hồng Lan
mietvuon@saigonline.com

Nắng lên cho ráo cầu ao
Cho tươi ngọn cỏ vườn cau sai buồng
Nhưng mà tháng bảy mưa tuôn
Chéo áo em ướt gió luồn phất phơ

Nắng lên cho thắm lá mơ
Cho xanh tàu chuối bên bờ nhà anh
Ðêm nằm tư tưởng năm canh
Ngày mai nắng đẹp duyên lành đôi ta

Nắng lên cho tím trái cà
Cho cây quít ngọt nở hoa thật nhiều
Mong anh đừng nghĩ chuyện liều
Bởi cha với mẹ chưa xiêu tấm lòng

Nắng lên cho cải cay nồng
Cho dây bầu thúng trổ bông trên giàn
Ðể anh mai mối đàng hoàng
Cho cha với mẹ vẻ vang xóm giềng

Nhưng mưa tháng bảy liên miên
Chờ đến tháng tám nắng xiên qua thềm
Bấy giờ cây trái chín thêm
Ðêm thanh, trăng sáng thì em ưng chàng...

-----------------------------------------------------------------------

08. Cám Ơn Người, Cám Ơn Ðời

by Nguyễn Tấn Hưng
nth@saigonline.com

(Khai bút Xuân 2000)

Từ mang lấy nghiệp vào thân
Văn thơ nhạc họa tuổi gần tác xa
Muốn trẻ, trẻ! Muốn già, già!
Trẻ già kết bạn ấy là vong niên

Tìm yêu những lúc cuồng điên
Thương thầm nhớ trộm, quán thiền trụ tâm
Tuổi xưa treo bóng trăng rằm
Tuổi nay sao lạc âm thầm lẻ loi

Nghiệp sáng tác quả mồ côi
Cành khô cằn cỗi đâm chồi nở hoa
Nghệ sĩ trẻ mãi không già
Ðời ta rồi cũng chan hòa tuổi tên

Hồ, nước lả khuấy mà nên?
Con tim khối óc làm nền đấy thôi
Cám ơn người, cám ơn đời
Ngôi nhà nghệ thuật một thời chung xây...

-----------------------------------------------------------------------
VĂN HỌC
-----------------------------------------------------------------------

09. Nguyên Tổ Hai Giòng Họ Lý Tại Ðại-hàn.

by Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ
trandais@MicroNet.fr

(Ði tìm con cháu thuyền nhân 849 năm trước:
Trích trong bộ Anh-hùng Ðông-a dựng cờ bình Mông,
5 quyển, 2566 trang, do Ðại-Nam, CA Hoa-kỳ ấn hành)

Ngày 17 tháng 9 năm 1957, Tổng-thống Ngô-đình Diệm công
du Ðại-hàn. (1). Năm sau, ngày 6 tháng 11 năm 1958, Tổng
thống Ðại-hàn dân quốc là Lý Thừa Vãn, viếng thăm
Việt-Nam. Trong dịp này ông đã tuyên bố rằng tổ tiên
ông là người Việt. Báo hồi ấy có tường thuật sơ
sàị Còn chính quyền thì gần như không để ý đến chi
tiết lịch sử nàỵ

Bấy giờ, đệ nhất Cộng-hòa thành lập chưa quá hai năm,
mới chỉ có viện Khảo-cổ, không có cơ quan nghiên cứu
lịch sử. Cho nên không ai nghĩ đến việc sang Ðại-hàn
tìm hiểu xem họ Lý từ Việt Nam, đã di sang đây từ bao
giờ? Ai là nguyên tổ của họ?

Thời gian này tôi mới 19 tuổi, vừa bước chân vào đại
học. Nhưng nhờ thấm nhuần Nho-giáo, nên đã chững chạc
lắm rồị Tôi viết thư cho sứ quán Ðại-hàn tại Việt-Nam
để hỏi về chi tiết nàỵ Dĩ nhiên tôi viết bằng chữ
Nhọ Hơn tháng sau tôi được thư trả lời của tộc Lý tại
Nam-hàn. Trong thư, họ cho tôi biết rằng: " Tổng-thống Lý
Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Kiến-bình vương
Lý Long Tường. Kiến Bình vương là con thứ 6 của vua Lý
Anh-tông. Người cùng tông tộc sang Cao-ly vào đầu thế kỷ
thứ 13 vì quốc nạn". Ánh sáng đã mở ra trước mắt tôị
Nhưng tôi tra trong Ðại-Việt sử ký toàn thư (ÐVSKTT), trong
Việt-sử lược (VSL), trong Khâm-định Việt-sử thông giám
cương mục (KÐVSTGCM), không bộ nào nói đến Kiến Bình
vương Lý Long Tường cả.

Tò mò chưa được thỏa mãn, nhưng tôi đành bỏ qua, vì bấy
giờ tôi phải dồn hết tâm tư vào việc học.

Năm 1959, trong khi lục lọi tại thư viện Paris, vô tình tôi
đọc được Tập-san sử địa của Nhật-bản, số 2 năm 1941,
trong đó nói vắn tắt rằng:

"Năm Bính Tuất, 1226, bấy giờ là niên hiệu Kiến-trung thứ
nhì đời vua Thái-tôn nhà Trần. Biết mình là con thứ sáu
vua Lý Anh-tông, lại đang giữ chức đô đốc, tư lệnh hải
quân, trước sau gì cũng bị Trần Thủ Ðộ hãm hại, nên ông
đã đem tướng sĩ dưới quyền, tông tộc, cùng hạm đội
ra đi, sau đó trôi dạt vào Cao-ly".

Tôi tự hẹn, sau này có tiền sẽ sang Ðại-hàn tìm hiểu chi
tiết nàỵ Thế nhưng, sau khi ra trường, 1964, tuy đã có chỗ
đứng vững chắc về phương diện tài chánh. Ngặt vì nghề
sinh nhai lối dọc đường ngang, tôi vẫn không thực hiện
được cái ước vọng sang Hàn quốc, tìm hiểu về nguồn
gốc họ Lý tại đâỵ

Mãi tới năm 1980, tháng 8, tôi đi trong phái đoàn Pháp, sang
dự đại hội y khoa tại Hàng-châu Trung-quốc. Ở đại hội,
tôi được tiếp xúc với phái đoàn Bắc-caọ Phái đoàn này
có' bác sĩ Lý Chiếu Minh ở Hùng-xuyên (Hunchon) và bác sĩ
Lý Diệp Oanh ở Thuận-xuyên (Sunchon). Bấy giờ tôi đã 41
tuổi, còn Diệp Oanh mới 30 tuổị Tuy là bác sĩ, thế nhưng
cô tươi như hoa lan, phơi phới như hoa thủy tiên ban maị Thấy
mỗi bữa ăn cô lẩm nhẩm đọc kinh mà không làm dấu thánh
giá, tôi cho là cô đọc kinh Phật. Tôi cũng đọc kinh Bát-nhã
bằng tiếng Việt. Cô hỏi tôi:

- Ủa! Anh đọc kinh cảm ơn Tổng-thống Valéry Giscard đấy à?

- Không! Tôi đọc kinh Phật. Thế cô đọc kinh gì vậỷ

- Phật đâu có cho anh cơm ăn, áo mặc?

- Vậy cô đọc kinh gì?

- Tôi đọc kinh cảm ơn cha già Kim Nhật-Thành đã cho chúng tôi
đươc tự do, có cơm ăn, áo mặc! (2) Nghe cô nói, tôi rùng
mình. Song thấy cô xinh đẹp, tôi đùa:

"Ở nước tôi, vào thế kỷ thứ 12, dưới triều vua Lý
Anh-tông, tổ tiên tôi là Trần Thủ Huy được gả công chúa
Ðoan Nghị..".

Diệp Oanh cắt lời:

"Sang đầu thế kỷ thứ 13, cũng tổ tiên anh là Trần Liễu
được gả công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh được vua Chiêu
Hoàng tuyển làm chồng. Rồi tổ tiên anh xua đuổi, nên tổ
tiên tôi thành thuyền nhân, ngày nay Hàn quốc mới có họ
Lý".

À! Vạn lý tha hương ngộ tri kỷ đâỵ Biết rất rõ Diệp
Oanh là con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, tôi
đùa thêm:

"Biết đâu cô không là công chúa Ðoan Nghi, tôi không là
Trần Thủ Huy tái đầu thaỉ Có lẽ chúng mình nên đi tiếp
con đường tổ tiên mình đã đi".

Diệp Oanh vã tôi một cái vào má trái, tỏ cử chỉ thân
thiện. Song chúng tôi bắt con tim ngừng phiêu lưu ở đây,
vì bấy giờ bà vợ tôi còn sống, còn quá trẻ; vợ chồng
lại rất tương đắc ngoài đời, nồng thắm trong phòng thẹ

Thế rồi chúng tôi nhận họ. Suốt đại hội, tôi với
Chiếu Minh, Diệp Oanh gần nhau như bóng với hình. Tôi kể
cho hai người nghe về những trang sử rực hào quang dưới
thời Lý, nhất là huyền sử về Linh Nhân hoàng thái hậu
(Ỷ Lan). Sau đại hội, Chiếu Minh, Diệp Oanh rủ tôi du lịch
Bắc-caọ Bấy giờ là thịnh thời của chủ tịch Kim Nhật
Thành, Bắc-cao khép kín cánh cửa với thế giới bên ngoàị
Tuy nhiên nhờ mang thông hành Pháp, nên tòa đại sứ Bắc-cao
ở Bắc-kinh cho tôi cái chiếu khán được du lịch nghiên
cứu về nhân sâm trong 8 ngàỵ

Tới Bắc-cao, ông đại sứ Pháp tưởng tôi đi nghiên cứu
nhân sâm thực. Ông lệnh cho văn phòng tùy viên văn hóa
giúp đỡ tôị Tôi không muốn nói dối ông đại sứ. Tôi
thú thật là đi tìm một số tài liệu lịch sử. Dù biết
tôi mượn danh đi nghiên cứu y khoa, cơ quan trao đổi y học
dư thừa tài chánh đài thọ tất cả phí tổn cho tôị Thế
nhưng sứ quán Pháp vẫn giúp đỡ tôi tận tình. Nào cung
cấp xe, cung cấp tài xế, gửi thư giới thiệụv.v. Kể ra
làm công việc nghiên cứu của Pháp cũng sướng thực.

Xin vạn vạn lần cảm ơn tinh thần yêu văn hóa của nước
Pháp. Tại Hùng-xuyên, cũng như Thuận-xuyên, các chi họ Lý
tiếp đón tôi rất niềm nở. Buồn là các cuộc đàm thoại
bị giới hạn khá nhiều, tôi phải dùng tiếng Quan-thoại nói
với Chiếu Minh và Diệp Oanh. Hai vị này dịch sang tiếng
Ðại-hàn. Các chi họ Lý xin phép chính quyền, rồi tổ chức
những buổi hội, để nghe tôi nói chuyện về thời đại
Tiêu-sơn. Khi nghe kể đến đoạn công chúa Bảo Hòa tu tiên,
cho đến tuổi 90 vẫn trẻ như hồi 17 tuổi, cử tọa suýt
xoa sung sướng. Lại khi nghe tôi thuật giai thoại vua Lý
Thánh-tông, đang đêm trốn khỏi hoàng cung, gặp cô thôn
nữ Yến Loan, rồi sau đưa về cung phong làm Ỷ Lan phu nhân;
cử tọa vỗ tay hết tràng này đến tràng khác. Khi nghe tôi
kể đến các công chúa Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh
trấn ngự biên cương khiến các quan Tống ở Nam-biên nghe
đến tên đều kinh hồn vỡ mật. Các cô ngửa mặt lên
nhìn trần nhà cười đầy vẻ hãnh diện. Lúc mà tôi thuật
đến đoạn Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại quân phá vỡ
phòng tuyến Như-nguyệt, tiến đến rừng tre, cách Thăng-long
có 25 cây số... Trong phòng có đến hơn 700 người, mà không
một tiếng động.

Rồi tôi kể tiếp: Công chúa Thiên Ninh đánh bật quân Tống
trở về Như-nguyệt, thì phòng hội hoan hô đến muốn rung
động thành phố. Tôi thuật tiếp đến đoạn công chúa
tuẫn quốc, thì cả phòng hội đều khóc nức nở. Những
người khóc nhiều nhất lại là những thiếu niên.

Hầu hết những chi họ Lý đều đem gia phả ra hỏi tôi những
chi tiết mà họ không hiểụ Tất cả gia phả đều viết bằng
chữ Nhọ Như gia phả của chi Thuận-xuyên, có đôi câu đối:

Thập-bát anh hùng giai Phù-đổng,
Tam thiên nữ kiệt tỷ Mê-linh.

(Mười tám anh hùng đều như Phù-đổng thiên vương.
Ba nghìn nữ kiệt đều có thể sánh với Trưng-vương).

Tôi phải moi trí nhớ, để đọc cho họ chép lại tiểu sử
18 danh tướng vào thời vua Lý Nhân-tông, kháng Tống tuẫn
quốc. Tôi lại phải thuật cho họ nghe về công chúa Thiên
Ninh (Bà chúa kho) có 3 nghìn nữ binh. Khi Quách Quỳ, Triệu
Tiết mang quân sang Ðại-Việt, phá vỡ phòng tuyến Như-nguyệt
tiến về Thăng-long. Quân Tống nhập vào phòng đai phòng thủ
chỉ cách Thăng-long có 25 cây số, bị công chúa đánh bật
trở về Bắc sông Như-nguyệt. Sau đó công chúa cùng 3 nghìn
nữ kiệt đều tuẫn quốc.

Hầu hết các chi, khi nghe tôi nói rằng: Triều Trần kế tục
triều Lý. Nhưng các vua triều Trần đều dành ra một số
ruộng đất lớn, cho tá điền cầy cấy, thu tô để làm
phương tiện hương khói, thờ cúng, tu bổ lăng tẩm 9 đời
vua triều Lý... đều hài lòng. Các triều đại kế tiếp
như Lê, Nguyễn vẫn giữ nguyên truyền thống nàỵ Mãi đến
năm 1956, trong cuộc cải cách ruộng đất, những ruộng đất
này mới bị tịch thụ Tuy nhiên đây là những di tích lịch
sử, nên kể từ năm 1962, bộ Văn-hóa miền Bắc Việt-Nam
đã ban nghị định công nhận là di tích văn hóa, lịch sử,
và bảo quản rất kỹ.

Bác-sĩ Diệp Oanh dẫn tôi thăm những vùng đất linh của
giòng họ Lý. Thực là kỳ điệu, dưới chế độ Cộng-sản
cực đoan, chủ trương hủy diệt tất cả những gì là văn
minh của tổ tiên, để chỉ còn biết đến Mác, Lê, biết
đến cha già dân tộc Kim Nhật Thành. Thế nhưng giòng họ
Lý vẫn giữ gìn được những di tích của tổ tiên. Nào
cửa biển Phú-lương giang nơi hạm đội của Kiến-bình
vương cập bến Cao-ly, nào Ung-tân, nơi đầu tiên họ Lý làm
nhà ở, nào ngọn đồi Julhang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki)
nơi có lăng của Kiến Bình vương Lý Long Tường. Tôi cũng
được lên Quảng-đại sơn thăm Vọng-quốc đài, là nơi
vương lên nhìn về quê hương.

Sau đó, năm 1983, tôi lên đường đi Nam-hàn để tìm hiểu
thêm về giòng họ Lý. Tiếc rằng khi Lý Long Tường tới
Hàn-quốc táp vào miền Bắc, vì vậy dường như tại Nam-hàn
không có một chút di tích nào của ông. Giòng họ Lý sống
tại Nam-hàn rất ít, tổng số chưa quá nghìn ngườị Họ
cũng giống như người Bắc hồi 1954 di cư vào Nam, mang theo
rất ít di vật, gia phả về tổ tiên mình. Không nhà nào mang
được gia phả cổ.

Gia phả mà họ cho tôi xem, hầu hết là mới chép gần đâỵ
Nội dung lại quá nhiều sai lạc. Như chép về việc ra đi
của Kiến Bình vương, gia phả nói rằng họ Lý bị Trần Thủ
Ðộ cướp ngôi, Lý Long Tường cầm quân chống lại, bị
thuạ Về Lý Chiêu Hoàng, họ chép là hoàng hậu của vua Lý
Huệ-tông! (3)

Họ Lý, hậu duệ Kiến Hải vương, hay họ Lý Tinh-thiện.

Thế nhưng, tại Nam-hàn tôi gặp ông Lý Gia Trung. Ông cho biết,
tổ tiên ông là người Việt, nhưng không thuộc giòng dõi
Kiến Bình vương. Tổ tiên ông là Kiến Hải vương Lý Dương
Côn, đã đến Cao-ly hồi đầu thế kỷ thứ mười một.

Quý độc giả có biết tâm trạng tôi bấy giờ ra sao không?
Kinh ngạc, bàng hoàng, đờ đẫn cả người rạ Vì trong khi
nghiên cứu về triều Lý, tôi biết một huyền sử vắn
tắt như sau:

"Vua Lý Nhân-tông không có hoàng nam, người nhận con của
các thân vương trong hoàng tộc làm con nuôị Năm Ðinh Dậu
(1117) nhận con của hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng,
Thành Chiêu, Thành Hưng làm con nuôị Sau truyền ngôi cho con
của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, tức vua Lý Thần-tông.
Khi Lý Thần-tông băng, Thái-tử Thiên-tộ còn bế ngửa,
triều thần muốn tôn con của Thành Quảng hầu là Lý Dương
Côn lên nối ngôị Cuộc tranh quyền trong giòng họ Lý diễn
ra, sau vợ của vua Lý Thần-tông nhờ có tình nhân là Ðỗ
Anh Vũ giúp đỡ, mà loại hết các địch thủ. Năm Canh Ngọ
(1150) nhân vụ chính biến, Cảm Thánh thái hậu mưu với
tình nhân Ðỗ Anh Vũ giết hết tông tộc của các hầu
Thành Khánh, Thành Chiêu, Thành Hưng. Bấy giờ con Thành Quảng
hầu là Kiến Hải vương Lý Dương Côn đang là đô đốc
Thủy-quân, bèn đem gia thuộc xuống chiến thuyền lưu vong.
Song không biết đi đâu (1150)".

Bây giờ, sau 831 năm, tôi gặp lại hậu duệ của Kiến Hải
vương. Tâm tư rúng động! Hỡi ơi! Tại Hàn-quốc có tới
hai giòng họ Lý, gốc là thuyền nhân Ðại-Việt.

Tôi ghi chú tất cả những gì mà giòng họ Lý của Kiến Hải
vương cung cấp để khi viết về thời đại Tiêu-sơn còn
có thêm tài liệụ Cuối năm 1996, một nhà nghiên cứu tộc
phả nổi tiếng của Nam-hàn là giáo sư Phiến Hoằng Cơ (Pyon
Hong Ke) công bố kết quả cuộc nghiên cứu của ông rằng
ông đã phát hiện một giòng họ Lý thứ nhì, tại Ðại-hàn,
được gọi là Lý Tinh-thiện. Giòng họ này, chính là giòng
họ Lý, con cháu Kiến Hải vương mà tôi đã có cơ duyên gặp
hậu duệ là ông Lý Gia Trung.

Giáo sư Phiến Hoằng Cơ cho biết, căn cứ vào gia phả của
giòng họ này mang tên Tinh-thiện Lý thị tộc phả, được lưu
trữ tại thư viện Quốc-gia Hán-thành, thì ông tổ của giòng
họ Lý Tinh-thiện là Lý Dương Côn (Lee Yang Kon) tới Ðại-hàn
vào đầu thế kỷ thứ 12:

"Lý Dương Côn hiệu là Nguyên Minh, hoàng tử thứ ba con vua
Càn Ðức, được Tống triều phong tước Nam-bình vương".

Tra trong sử Việt, thì vua Càn Ðức chính là tên của vua Lý
Nhân-tông. Vua Lý Nhân-tông là con của vua Lý Thánh-tông với
Ỷ-Lan phu nhân, sau được tôn là Linh-Nhân hoàng thái hậụ
Người chỉ đạo cuộc đánh Tống, kháng Tống lừng danh
lịch sự Việt-Nam. Theo ÐVSKTT, Lý kỷ, Nhân-tông kỷ thì:

"Niên hiệu Hội-tường Ðại-khánh thứ 8 (DL.1117, Ðinh Dậu)...
...Tìm con trai trong tôn thất để nuôi trong cung. Xuống chiếu
rằng: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có hoàng nam, ngôi
báu của thiên hạ biết truyền cho aỉ Nên trẫm nuôi con của
các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu,
Thành Hưng, chọn người giỏi lập làm thái tử. Bấy giờ
con Sùng Hiền hầu là Dương Hoán, lanh lợi, vua rất yêu,
bèn lập làm Thái-tử".

Vậy thì Lý Dương Côn là con nuôi của vua Lý Nhân-tông, chứ
không phải con đẻ. Con nuôi thứ ba, thì là con của Thành Quảng
hầu tên Lý Dương Côn, tước phong Kiến Hải vương.

Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ dựa theo Tinh-thiện Lý thị tộc phả
và bộ Cao-ly sử, ông công bố: Hậu đuệ đời thứ sáu
của Lý Dương Côn là Lý Nghĩa Mẫn (Lee Unimin) trở thành
nhân vật kiệt hiệt trong lịch sử. Bấy giờ Cao-ly đang
ở dưới triều đại vua Nghị-tông (Ui-jiong 1146-1170). Nhà
vua rất sủng ái Lý Nghĩa Mẫn, phong cho chức Biệt-trưởng.
Nước Cao-ly trong thời gian này, phải chống trả với cuộc
xâm lăng của Khiết-đan tức Ðại-liêu, nên các võ tướng
nắm hầu hết quyền hành. Năm 1170 tướng Trịnh Trọng Phu
(Jeong Jung-bu) chưởng môn một võ phái, đảo chính vua
Nghị-tông lập vua Minh-tông (Mycong 1170-1179). Trọng Phu bị
các võ phái, võ tướng nổi lên chống đốị Lý Nghĩa
Mẫn là người phụ tá đắc lực cho Trịnh Trọng Phu, đem
quân dẹp các cuộc nổi dậỵ Ông được thăng chức Trung-lang
tướng, Tướng-quân, Ðại-tướng quân (1173), Thượng-tướng
quân (1174), cuối cùng là Tây Bắc bộ binh mã sứ (1178). Năm
1179, một võ quan khác là Khánh Ðại Thăng (Kyung Dae-Seung) làm
cuộc chính biến, giết chết Trịnh Trọng Phu, lên nắm quyền.

Bấy giờ Lý Nghĩa Mẫn giữ chức Hình-bộ thượng thư (1181).
Vì ông thuộc phe Trịnh Trọng Phu, nên bị nghi ngờ, chèn ép.
Ông cáo quan về hưụ

Sau khi Khánh Ðại Thăng chết, vua Minh-tông mời Lý Nghĩa Mẫn
vào bệ kiến, được trao chức Tư-không, Tả-bộc xạ, Ðồng-
trung thư môn hạ bình chương sự tức Tể-tướng trong 14 năm
(1183-1196).

Năm 1196, một phe võ tướng do Thôi Chung Hiếu (Cho Chung Heon)
cầm đầu làm cuộc đảo chính, giết Lý Nghĩa Mẫn. Ba con
ông là Lý Chính Thuần, Lý Chí Vinh, Lý Chí Quang đều là
tướng cầm quân, cũng bị giết chết. Quân phiến loạn chỉ
tha cho người con gái ông là Lý Hiền Bật. Giòng họ Lý
Tinh-thiện tưởng đâu tuyệt tự. Nhưng may mắn thay, giòng
họ này còn kế tục là nhờ người anh Lý Nghĩa Mẫn và các
con không bị hạị

Phối hợp chính sử với gia phả, giáo sư Phiến Hoằng Cơ
kết luận rằng: Giòng họ Lý tại Tinh-thiện thuộc đạo
Giang-nguyên, phía Ðông Nam Ðại-hàn ngày nay là con của hoàng
tử Lý Dương Côn thuộc triều Lý, Việt-Nam (1010-1225). Lý
Dương Côn bỏ quê hương ra đi vì sự đe dọa của nước Kim
đối với Tống, năm 1115. Tới năm 1127 thì Bắc Tống bị
diệt.

Qua cuộc nghiên cứu của Phiến Hoằng Cơ, tôi thấy có đôi
chút nghi vấn:

Một là, vua Lý Nhân-tông nhận con nuôi năm 1117. Vua Thần-
tông sinh năm 1116, vậy thì Lý Dương Côn chỉ có thể sinh
năm 1116 hay 1117 mà thôị Năm Lý Dương Côn rời Ðại-Việt
ra đi là năm 1150. Bấy giờ ông mới 32-33 tuổị Thế nhưng
gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng năm 1170 Lý Nghĩa Mẫn, hậu
duệ đời thứ sáu của Lý Dương Côn, được vua Nghị-tông
phong cho chức Biệt-trưởng. Ðây là điều vô lý. Bởi năm
đó chính Lý Dương Côn có còn tại thế thì ông mới có 54
tuổi, làm sao ông đã có cháu 6 đờỉ Tôi thì tôi cho rằng
Lý Nghĩa Mẫn là con Lý Dương Côn. Còn hậu duệ đời thứ
sáu là kể từ vua Lý Thái-tổ:

1. Lý Thái-tổ.
2. Lý Thái-tông.
3. Lý Thánh-tông.
4. Lý Nhân-tông.
5. Kiến Hải vương Lý Dương Côn.
6. Lý Nghĩa Mẫn.

Hai là, trong gia phả Lý Tinh-thiện nói rằng, Lý Dương Côn
rời quê hương ra đi vì quốc nạn. Giáo-sư Phiến Hoằng Cơ
cho rằng vì sự đe dọa của Kim. Có lẽ khi giải đoán việc
ra đi của Lý Dương Côn, ông đã bị ảnh hưởng bởi sử
Cao-lỵ Vì hồi ấy, nước Kim đang từ một bộ lạc Nữ-
chân, nổi lên diệt nước Liêu, rồi đem quân đánh Tống.

Sau đó, họ bắt vua Tống mang về Bắc. Nhưng con cháu nhà
Tống lại tái lập triều Nam- Tống. Khoảng cách Kim với
Ðại-Việt còn một nước Tống quá rộng, quá xạ Dù Kim
hùng mạnh cũng không ảnh hưởng gì tơí Ðại-Việt khiến
Lý Dương Côn phải bỏ nước trốn đị Nhất là giai đoạn
1161 đến 1174, bấy giờ binh lực Ðại-Việt đang mạnh, muốn
hướng lên Bắc tái chiếm lại Quảng Ðông, Quảng Tây! (xin
đọc Anh-hùng Ðông-A dựng cờ Bình-Mông hồi 4 và hồi
16-17-18).

Lần lại trang sử Ðại-Việt thời đó: Vua Thần-tông được
vua Nhân-tông đem vào cung nuôi cùng 4 người anh em họ. Nhưng
ngài được lập làm Thái-tử, rồi lên ngôi vuạ Theo Hội-
điển sự lệ triều Lý thì những chức như: Thái-úy, Tổng-
lĩnh Thiên-tử binh, Ðại Ðô-đốc Thủy quân, luôn trao cho
các hoàng đệ. Vì vậy trong 5 con nuôi của vua Lý Nhân-tông,
thì Thái-tử Dương Hoán đươc truyền ngôi, còn 4 con nuôi
khác, là con của các hầu Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu,
Thành Hưng ắt được phong vào các chức trên. Con của Thành
Quảng hầu là Lý Dương Côn được phong tước Kiến Hải
vương, lĩnh chức Ðại Ðô-đốc Thủy-quân. Khi vua Thần-tông
băng (1138), Thái-tử Thiên-tộ mới có 2 tuổi, triều thần
muốn tôn hoàng đệ Lý Dương Côn lên ngôi vua, vì ông là
người thông minh, tài trí, đang là Ðại Ðô-đốc, ở tuổi
22. Nhưng rồi mẹ của Thái-tử Thiên-tộ là Cảm Thánh hoàng
hậu đã dùng vàng bạc đút lót cho các quan, bà lại được
tình nhân Ðỗ Anh Vũ là em của Chiêu Hiếu thái hậu, (mẹ vua
Thần-tông) hết sức ủng hộ. Thiên-tộ lên ngôi vua, sau là
vua Anh-tông.

Dĩ nhiên vua Anh-tông lên ngôi, khi còn bế ngửa, thì mẹ là
Cảm Thánh thái hậu thính chính, nói khác đi là làm vuạ Bà
phải diệt hết những mầm mống có thể nguy hiểm cho con
bà. Bà cùng Ðỗ Anh Vũ vu cáo, giết hết các em nuôi của
vua Thần-tông là con của các hầu em vua Nhân-tông. Toàn gia
các hầu, từ thê thiếp, con, cháu, thân binh, nô bộc đều
bị giết sạch. Riêng Lý Dương Côn đóng quân ở Ðồn-sơn,
được mật báọ Ông đem hết gia thuộc, xuống chiến thuyền,
bỏ quê hương ra đi, rồi táp vào Cao-lỵ

Dù Lý Nghĩa Mẫn là cháu 6 đời của Kiến Hải vương Lý Dương
Côn hay là cháu 6 đời vua Lý Thái-tổ, thì ta vẫn kết luận
rằng: Năm 1150, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, lĩnh chức
Ðại Ðô-đốc đã cùng tông tộc dùng thuyền tỵ nạn tại
Cao-lỵ Ðời sau có nhân vật kiệt hiệt là Lý Nghĩa Mẫn,
đóng một vai trò trọng yếu trong lịch sử Cao-lỵ Giòng họ
Lý này, nay vẫn còn truyền tử lưu tôn tại Ðại-hàn.

Giòng thứ nhì, hậu duệ của Kiến-bình vương Lý Long Tường,
còn gọi là Lý Hoa-sơn.

Giòng họ Lý thứ nhì tới Ðại-hàn sau giòng họ Lý Tinh-thiện
76 năm, là hậu duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, con
thứ 7 của vua Lý Anh-tông. Mà tôi đã trình bầy ở trên.

Theo Trần-tộc vạn thế ngọc phả, của chi bốn, thuộc giòng
dõi Chiêu-quốc vương Trần Ích Tắc, để tại nhà từ ở
thị xã Lãnh-thủy, huyện Chiêu-dương, tỉnh Hồ Nam, Trung-quốc;
phần chép về Ninh-tổ hoàng đế Trần Lý. Có đoạn nói về
các con vua Lý Anh-tông, nguyên văn như sau:

"Vua có bẩy hoàng tử.

Hoàng trưởng tử Long Xưởng do Chiêu Linh hoàng hậu sinh
vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1151, Tân-Mùi). Ðược
phong tước Hiển Trung vương, lập làm Thái-tử. Niên hiệu
Thiên-cảm Chí-bảo nguyên nhiên (DL.1174, Giáp-Ngọ) bị giáng
xuống làm con út, tước Bảo Quốc vương. Niên hiệu Trinh
Phù thứ sáu (DL.1181, Tân-Sửu) làm phản, bị hạ ngục, rồi
bị Ðỗ An Di giết cả nhà, thọ 31 tuổị

Hoàng-tử thứ nhì Long Minh do Thần-phi Bùi Chiêu Dương sinh
vào niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL. 1152, Nhâm-Thân). Tước
phong Kiểm-hiệu Thái-sư, Thượng-trụ quốc, Khai-phủ nghị
đồng tam tư, Trung-vũ quân tiết độ sứ, lĩnh đại đô-đốc,
Kiến Ninh vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ
nhì (DL.1175.). Thọ 24 tuổị

Hoàng-tử thứ ba Long Ðức, cũng do Bùi Thần-phi sinh niên
hiệu Ðại Ðịnh thứ 12 (DL.1153, Quý-Dậu) rạ Chức tước
phong như sau: Dao-thụ Thái-bảo, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư
tả bộc xạ, Phụ-quốc thượng tướng quân, Long-thành tiết
độ sứ, Kiến An vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo
thứ nhì (1175), thọ 23 tuổị

Hoàng-tử thứ tư Long Hòa do Quý-phi Hoàng Ngân Hoa sinh niên
hiệu Ðại Ðịnh thứ 11 (DL.1152, Nhâm-Thân). Chức tước phong
như sau: Ðặc tiến Thiếu-sư, Khu-mật viện sứ, Thượng-thư
tả thừa, Trấn Nam tiết độ sứ, Thượng-thư lệnh, Tả kim
ngô thượng tướng, Tổng-lĩnh Thiên-tử binh, Kiến Tĩnh
vương. Bị giết niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo thứ nhì (1175)
thọ 24 tuổị

Hoàng-tử thứ năm Long Ích, do Ðức-phi Ðỗ Kim Hằng sinh
niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 5 (DL.1167, Ðinh-Hợi). Chức
tước phong như sau: Dao-thụ Thái-phó, trấn Nam tiết độ sứ,
Thượng-thư tả thừa, Kiến Khang vương. Hoăng niên hiệu
Kiến-gia thứ 2 (DL.1212 Nhâm-Thân), thọ 46 tuổị

Hoàng-tử thứ sáu Long Trát, do Thục-phi Ðỗ Thụy Châu sinh
niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 11 (DL.1172, Nhâm-Thìn),
tháng 5, ngày 25, niên hiệu Thiên-cảm Chí-bảo nguyên niên
được lập làm Thái-tử. Năm thứ nhì được truyền ngôị
Băng niên hiệu Trị-bình Long-ứng thứ 6 (DL.1210, Canh-Ngọ),
ngày 28 tháng 10, thọ 38 tuổị

Hoàng-tử thứ bảy Long Tường do Hiền-phi Lê Mỹ Nga, sinh
vào niên hiệu Chính-long Bảo-ứng thứ 12 (DL.1174, Giáp-Ngọ).
Ðức Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh) phong chức tước
phong như sau: Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ nghị đồng
tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô đốc, tước
Kiến Bình vương. Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời đức
Thái-tông nhà ta (tức Trần Cảnh), tháng tám, ngày rằm,
vương cùng gia thuộc hơn 6 ngàn người bôn xuất.

So sánh giữa Tộc phả Hoa-sơn và Trần tộc vạn thế ngọc
phả, có một chi tiết khác nhaụ Tộc phả Kiến Bình thì chép
Kiến Bình vương là con thứ sáu vua Anh-tông. Trong khi Trần
tộc vạn thế ngọc phả lại chép vương là con thứ bẩỵ Vì
sao? Phả Trần tộc chép theo huyết tộc, ai sinh trước là
anh, ai sinh sau là em. Vì vậy Kiến Bình vương là con thứ 7.
Phả Kiến Bình thì chép thứ tự theo chỉ dụ của vua Lý Anh
tông, Long Xưởng bị giang xuống làm con út, thì Long Tường
trở thành con thứ sáụ

Hồi đó Lý Long Tường dẫn tông tộc rời Ðại-Việt ra đị
Trần triều không biết đi đâụ Nay chúng ta mới được
biết vương với hạm đội bị bão phải ẩn ở Ðài-loan.
Nghỉ ít lâu, hạm đội của vương lại tiếp tục lên đường
rồi dạt vào Cao-lỵ Duy một người con của vương tên Lý Long
Hiền cùng gia thuộc hơn hai trăm người ở lại Ðài-loan.
Vương là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðại-hàn, thế tử
Long Hiền là khai tổ của giòng họ Lý tại Ðài-loan hiện
nay? Sự kiện này tôi sẽ tìm hiểu saụ

Tôi đã bỏ công sang Bắc cũng như Nam-hàn, tìm các chi, hậu
duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường, khảo gia phả của
họ. Phần chi tiết tuy có sự khác biệt, nhưng đại lược
vẫn giống nhaụ Tổng-thống Lý Thừa Vãn của Ðại-hàn là
hậu duệ đời thứ 25 của Kiến Bình vương Long Tường.
Còn tổng thống Lý Ðăng Huy của Ðài-loan có phải là hậu
duệ của thế tử Lý Long Hiền hay không, thì tôi không dám
quyết, bởi Lý là giòng họ chiếm đa số ở Trung-quốc.

Cả ba bộ sử ÐVSKTT, VSL, KÐVSTGCM cùng chép rất mơ hồ về
việc vua Anh-tông phế Long Xưởng lập Long Trát. Nhà vua có
tới bẩy hoàng tử. Nếu sự thực Long Xưởng phạm tội,
phế xuống, sao không lập các con đã trưởng thành, tài
trí xuất chúng, đang cầm đại quyền như Kiến Ninh, Kiến
An, Kiến Tĩnh vương? Hoặc cùng quá, thì lập Kiến Khang
vương Long Ích, năm ấy đã chín tuổi? Mà phải lập Long
Trát mới có 26 tháng làm Thái-tử, rồi phải cử Tô Hiến
Thành làm phụ chính?

Cái khúc mắc này tôi đã giải thích rất chi tiết, rất rõ
ở hồi 21-23 bộ Anh-hùng Ðông-a dựng cờ bình Mông. Trong
bài ngắn này không thể giải thích hết.

Dưới đây là phần tôi thuật theo Tộc-phả Lý Hoa-sơn:
Niên hiệu Kiến-trung thứ nhì đời vua Thái-tông nhà Trần
(DL.1226, Bính Tuất), lo sợ bị Thái-sư Trần Thủ Ðộ hãm
hại, vì vị thế trọng yếu của mình:

- Là con vua Anh-tông, em vua Cao-tông, chú vua Huệ-tông.
- Thân vương duy nhất nắm quyền hành.
- Chức tước cực phẩm Thái-sư Thương-trụ quốc, Khai-phủ
nghị đồng tam tư, Thượng-thư tả bộc xạ, lĩnh đại đô
đốc.

Vương âm thầm cùng Bình Hải công Lý Quang Bật từ căn cứ
Ðồn-sơn về Kinh Bắc, lạy ở lăng miếu Ðình-bảng. Lại
đến Thái-miếu mang bài vị, các tế khí ra trấn Ðồn-sơn,
rồi đem hết tông tộc hơn 6 nghìn người, xuống hạm đội
ra đị

Việc Kiến Bình vương ra đi, có lẽ bắt nguồn từ việc ra
đi của Kiến Hải vương trước kia chăng?

Sau hơn tháng lênh đênh trên biển, thì gặp bãọ Hạm đội
phải ngừng lại một đảo (Ðài-loan?) rồi tiếp tục lên
đường. Một trong các con của vương là Thế-tử Lý Ðăng
Hiền cùng vợ con ở lại đảọ Hạm đội lênh đênh trên
biển một thời gian, thì táp vào cửa Phú-lương giang, quận
Khang-linh (Ong Jin-Gun) tỉnh Hoàng-hải (Hwang-hac) thuộc Bắc
Cao-lỵ Nơi hạm đội táp vào, dân chúng gọi là Nak-nac-wac có
nghĩa là Bến của khách phương xa có đồ thờ cúng.

Kỳ diệu thay, đêm hôm trước, vua Cao-tông (Kojong) mơ thấy
một con chim cực lớn bay từ phương Nam lại đậu ở bờ
Tây-hảị Tỉnh lại, vua sai người tới đó tìm kiếm, thì
gặp hạm đội của Kiến-bình vương. Kiến-bình vương được
bệ kiến. Vương dùng bút đàm với vua Cao-tông và các đại
thần Cao-lỵ Triều đình Cao-tông đối xử với vương rất
tốt, chu cấp lương thực. Cho làm nhà ở Ung-tân phủ Nam-trấn
sơn (Chin-sang).

Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc bắt đầu cuộc sống
mớị Trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi làm kế sinh nhaị Ông
mở trường dạy học: Thi phú, lễ nhạc, tế tự, binh pháp, võ
thuật. Ông soạn sách Học vấn giảng hậụ Vì học trò đông,
ông cho xây Ðộc-thư đường, Giảng võ đường. Ðệ tử của
ông lúc nào cũng trên nghìn ngườị

Tháng 7 năm Quý-sửu (1253) đời vua Cao-tông thứ 40, quân Mông-
cổ xâm lăng Cao-ly, vượt Hỗn-đồng giang, chiếm Tây-hải,
phá An-giang Tây-thành. Về mặt thủy, Mông-cổ chiếm các đảo
Ðại-thanh, Tiểu-thanh, Sáng-lân, rồi tiến chiếm Tây-đô
(Giang-hoa). Thủ-đô Cao-ly bị đe dọạ Các tướng sĩ hầu hết
bị tử trận.

Thấy tình hình Cao-ly nguy ngập, Kiến Bình vương đến gặp
Thái-úy (tướng tổng chỉ huy quân đội) là Vi Hiển Khoan, cố
vấn cho ông về binh pháp Ðại-Việt. Ðích thân vương cỡi
bạch mã chỉ huy cuộc giữ thành: Ðắp thành cao lên, đào hào
đặt chông quanh thành. Trong thành đào giếng để có nước
uống, tích trữ lương thảọ Ông đem tất cả binh pháp Ðại-
Việt trong những lần đánh Tống, bình Chiêm ra giúp Cao-lỵ

Ðánh nhau suốt 5 tháng, quân Nguyên bị tuyệt lương thảo, bị
chặn đường rút lui, xin hàng (6). Tết năm ấy, toàn Cao-ly
mừng chiến thắng. Triều đình khen ngợi Lý Long Tường,
lấy tên ngọn núi ở quê hương ông là Hoa-sơn; phong cho ông
làm Hoa-sơn tướng quân. Cho đổi tên ngọn núi nơi ông cư
ngụ là Hoa-sơn. (4). Nhà vua sai dựng bia ghi công ông trên núi
Hoa-sơn, đích thân vua viết ba chữ Thụ hàng môn (Cửa tiếp
thụ giặc đầu hàng). Cho đến nay, sau 746 năm, trải biết bao
nhiêu mưa nắng, thăng trầm; tấm bia ấy vẫn trơ gan cùng
cùng tuế nguyệt, nhắc nhở du khách nhớ huân công của một
Việt-kiều trên Hàn-quốc.

Trong dịp thăm Hoa-sơn năm 1981, tôi xin người đại diện tộc
Lý cho phép được mượn thợ khắc vào một phiến đá bài
thơ cổ phong, đặt cạnh tấm bia trên, gọi là chút lòng của
người sau, tế người trước:

Phúc tại Tiêu-sơn lĩnh,
Thất đại bôn Bắc Cao,
Bình Mông danh vạn đại,
Tử tôn giai phong hầụ
Học phong nhân bất cập.
Vọng quốc hồn phiêu phiêu,
Kim tải quá bát bách,
Hà thời quy cố hương?

(Ngài là người họ Lý, được hưởng phúc tại ngọn núi
Tiêu-sơn. Kể từ vua Lý Thái-tổ tới ngài là đời thứ
bẩy, phải bôn tẩu đến xứ Bắc Cao-lỵ Nhờ chiến công
đánh Mông-cổ, mà con cháu ngài đều được phong hầụ
Ngoài ra, ngài là người đem học phong tới Cao-ly, công đức
ấy không ai sánh kịp. Thế nhưng trải trên 8 trăm năm, hồn
ngài lúc nào cũng phiêu phưởng, không biết bao giờ được
về cố hương?).

Ngày nay trên ngọn đồi Julbang thuộc xã Ðỗ-môn (Tô-mơ-ki)
cách núi Hoa-sơn 10 cây số về phía Tây còn lăng mộ ngài
và con, cháu cho đến ba đờị Trên Quảng-đại sơn có Vọng-
quốc đàn, nơi cuối đời ngài thường lên đó, ngày ngày
nhìn về phương Nam, ôm mặt khóc, tưởng nhớ cố quốc.
Mỏm đá mà ngài đặt chân đầu tiên lên bờ biển Cao-ly,
được gọi là Việt-thanh nham, tức đá xanh in vết tên Việt.
Trên Hoa-sơn còn rất nhiều di tích kỷ niệm huân nghiệp của
vương. Khi đến Hoa-sơn hành hương, thay vì chào nhau, du khách
được hướng dẫn viên du lịch dạy cho nói câu: Hữu khách,
Hữu khách, kỵ bạch mã. Nghĩa là Có người khách cỡi ngựa
trắng, tức Lý Long Tường.

Cho đến nay, giòng họ Lý Hoa-sơn truyền trải 28 đờị Tại Nam-
hàn chỉ có khoảng hơn 200 hộ, với trên dưới 600 ngườị Tại
Bắc-hàn thì đông lắm, không thống kê được. Lý tộc tại
Nam-hàn, hầu hết họ là những gia đình có địa vị trọng yếu
về giáo dục, kinh tế, kỹ nghệ. Kỳ ứng cử vừa qua, một
ứng viên Tổng thống họ Lý suýt trúng cử.

Theo tấm bia trên mang tên Thụ-hàng môn bi ký, thì Kiến Bình
vương Long Tường có nhiều con trai, tất cả đều hiển đạt.
Không thấy nói tơí Lý Long Hiền, cùng tông tộc hơn 200
người ở lại Ðài-loan. Lý Cán Ðại lĩnh Ðề-học nghệ văn
quán, Kim-tử quang lộc đại phụ Lý Huyền Lương, Tham-nghị lễ
tào, Chính-nghị đại phụ Lý Long Tiền Giám- tu quốc sử.

Ngày nay, tại Bắc-hàn, cứ đến dịp tết Nguyên-đán, hậu
duệ của Kiến Bình vương Lý Long Tường khắp lãnh thổ
Ðại-hàn đều kéo về Hoa-sơn để dự lễ tế tổ. Khởi
đầu của cuộc tế, đánh chín tiếng trống, gọi là Tâm-thanh
để mọi người cùng tưởng nhớ cố quốc. Theo gia phả của
chi Thuận-xuyên, sở dĩ đánh chín tiếng, vì muốn ghi lại
triều Lý trải 9 đời vua, kể cả Lý Chiêu-hoàng. (4)

Năm 1995, con cháu của Kiến Bình vương Lý Long Tường, quy tụ
hơn trăm người trở về Ðình-bảng, huyện Tiên-sơn, tỉnh
Bắc-ninh dự lễ hội làng vào ngày rằm tháng ba Âm-lịch.
Tại thiên chi linh, hẳn 9 đời vua triều Tiêu-sơn, cũng như
Kiến Bình vương Lý Long Tường đã thỏa nguyện: Những đứa
cháu lưu lạc, nay trở về chầu tổ.

Lời quê gửi tới người Việt hải ngoại:

Hiện nay gần ba triệu người Việt lưu lạc khắp mọi góc
biển, mọi chân trờị Có nơi sống tập trung như Hoa-kỳ,
Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao, Canada, Úc, Pháp, Nga-sộ Có nơi sống
rải rác cô độc như Do-thái, Irak, Gabon...Nhìn vào tấm gương
của hai giòng họ Lý tại Ðại-hàn. Dù con cháu quý vị không còn
nói được tiếng Việt. Dù con cháu quý vị đã kết hôn với
người địa phương. Nhưng quý vị phải luôn nhắc nhở cho chúng
biết rằng: Chúng là người Việt, lấy chủ đạo là con Rồng
cháu Tiên. Xin qúy vị khẩn chép lại:

1. Nguồn gốc giòng họ mình từ làng nào, xã nào, tỉnh nàọ
Hoặc liên lạc với họ hàng trong nước để xin bản sao gia
phả.

2. Tiểu sử những tiền nhân. Nếu không nhớ được hành
trạng của các tổ xa đời, thì ít ra cũng chép được từ
đời ông, đời chạ

3. Rời Việt-Nam ra đi vì lý do gì? Bắt đầu đến đâủ Lập
nghiệp ra saỏ

4. Mỗi năm vào dịp tết, quý vị sai đọc cho tất cả con cháu
đều nghẹ

5. Hằng năm, nếu có thể, khuyên con cháu, nên trở về quê
hương, viếng thăm đất tổ, thăm mồ mả tiền nhân. Khi về
già, các vị sai chép ra thành nhiều bản, cho mỗi con một bản.

Vài lời thô thiển. Biết rằng các vị cho là thường. Thưa
quý vị, bây giờ là thường, nhưng sau đây trăm năm, nghìn
năm, sự ghi chép của quý vị sẽ trở thành quý báu vô cùng.

Mong lắm thay! Cầu xin như vậy đấỵ

-----------------------------------

(Những tài liệu tôi dùng để viết bài này rất phong phú,
rất nhiềụ Xin xem phần Những nguồn tài liệu, trong bộ
Anh-hùng Ðông-a dựng cờ bình Mông, quyển 1)

(1) Trong chuyến đi này, Tổng-thống Ngô Ðình Diệm cho một
sĩ quan tháp tùng, mà người ưu ái vì lòng yêu nước, tin
tưởng vì lòng trung thành là Dương Văn Minh. Nhưng cũng
tương đương với ngày tháng này, sáu năm sau, Dương Văn
Minh tuân lệnh Hoa-kỳ, giết chúạ

(2) Chế độ Cộng-sản cực đoan của Bắc-cao là một chế độ
suy tôn lãnh tụ vào bậc nhất thế giới, bậc nhất trong lịch
sử nhân loạị Khi ăn cơm, sáng dậy, tối đi ngủ đều đọc
kinh tạ ơn Kim chủ tịch.

(3) Sau đó tôi đã giúp họ hiệu đính lại những chỗ sai lầm
trong gia phả của họ.

(4) Tôi tra trong địa lý thời Lý, trên lãnh thổ Ðại Việt
không có ngọn núi nào tên Hoa-sơn cả. Có lẽ là núi Tiêu-sơn,
nơi phát tích ra triều Lý chăng?

(5) Chín đời vua triều Lý là:

1. Thái-tổ Lý Công Uẩn.
2. Thái-tông Lý Ðức Chính.
3. Thánh-tông Lý Nhật Tông.
4. Nhân-tông Lý Càn Ðức.
5. Thần-tông Lý Dương Hoán.
6. Anh-tông Lý Thiên Tộ.
7. Cao-tông Lý Long Trát.
8. Huệ-tông Lý Long Sảm.
9. Chiêu-hoàng Lý Phật Kim

(6) Có một sự trùng hợp. Năm năm sau, tháng 1-1258, Thái-sư
Mông-cổ là Ngột-lương Hợp-thai (Uriyangqadai) đem quân đánh
Ðại Việt, cũng bị tuyệt đường lương, rồi bỏ chạỵ Xin
đọc Anh-hùng Ðông-a dựng cờ bình Mông hồi 50.

-----------------------------------------------------------------------
LINH TINH
-----------------------------------------------------------------------

10. Thư Tín

by Sổ Tay Miệt Vườn
mietvuon@saigonline.com

- Bài vở xin gởi về mietvuon@saigonline.com, cám ơn nhiều.
Xin đừng gởi về miet-vuon@onelist.com (chỉ là trạm phát thư
mà thôi)!

-----------------------------------------------------------------------

NHẬN BÁO: Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email
về địa chỉ miet-vuon@onelist.com. Trong message body, bạn chỉ
cần viết: "subscribe mietvuon" để nhận báo, hoặc "unsubscribe
mietvuon" để lấy tên ra khỏi danh sách.

BÀI VỞ: Xin gửi về mietvuon@saigonline.com. Nếu các bạn
không muốn đăng địa chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin ghi rõ
trong thư. Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để tùy nghi
sử dụng. Nếu gởi bài của các tác giả khác, xin kèm theo
thư ưng thuận của tác giả. Miệt Vườn mong đón nhận các
sáng tác thơ, văn, nhận định, v.v. kể cả những ý kiến
xây dựng cũng như thắc mắc của các bạn.

TRÍCH ÐĂNG: Xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay Miệt
Vườn.

CẢM TẠ: Chân thành cảm tạ saigonline.com, dưới sự bảo trợ
của ViNet Communications, Inc., đã cho Miệt Vườn lưu trữ, sử
dụng server miễn phí.

-----------------------------------------------------------------------